Chuyện nọ xọ chuyện kia, say sưa, tôi nghe kịp hay không cũng mặc. Thường thì khi ở đầu dây bên kia có tiếng ai đó chen vào bằng giọng dấm dẳn: "Thôi, nói chi lắm rứa", điện thoại mới bất ngờ cúp ngang bằng những tiếng tút tút. Đầu mùa đông, cả hai lại gọi: "Lạnh lắm chú ạ, chú cho bọn cháu 2 cái áo ấm".
Thật ra, hai "ông cháu" ấy chẳng thua tuổi tôi là mấy. Hoàng Văn Viên, 39 tuổi, Hoàng Thanh Phong, 32 tuổi. Làng Thanh Lạng, xã Thanh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình của họ nằm kẹt trong một hốc núi heo hút cạnh đường mòn Hồ Chí Minh, cách TP Đồng Hới chừng 120km. Là cũng chỉ nghe nói vậy thôi, chứ họ cũng không thể hình dung nổi khoảng cách đó là bao xa. Cả Viên lẫn Phong, cùng với hai người anh em ruột khác là Hoàng Văn Luyện (35 tuổi) và Hoàng Văn Thượt (21 tuổi) đều khiếm thị bẩm sinh. Sinh ra, mắt của 4 anh em họ đều không có nhãn cầu.
Sau hơn 30 năm nằm một chỗ trong kẹt buồng tối và ẩm thấp, sống thực vật, Hoàng Văn Luyện qua đời. Hoàng Văn Thượt sức khoẻ rất yếu, hai đầu gối phình to ra như cối đá, trong khi hai bắp đùi thì ngày càng teo tóp. Thượt đi lại khó khăn, suốt ngày chỉ quanh quẩn trong xó bếp, nói năng cũng không tròn vành rõ chữ. Lâu lâu Thượt lại lên cơn, lại lao vào đấm đá cắn xé hai người anh cùng cảnh ngộ tật nguyền. Viên, Phong cứ thế ôm em chịu trận, chờ người nhà đến gỡ Thượt ra.
Viên và Phong như cặp bài trùng, đi đâu cũng có nhau. Làng Thanh Lạng đường sá khúc khuỷu, đầy những bờ bụi và lổn nhổn sỏi đá. Phong phía trước, Viên đặt hai tay lên vai em đi sau, cứ thế họ lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm, chẳng lạc hay đi sai đường bao giờ.
Họ làm được đủ nghề. Đầu tiên là chẻ củi thuê. Một tay buá, vài cái nêm và mỗi người một cây dao rựa, nhà nào gọi là họ đến. Lần tay rờ rờ, Viên canh cái nêm lên đầu thanh củi. Phong lần theo, ước lượng khoảng cách, độ dày, độ cứng. "Xong chưa?". "Xong!" "Một! Hai! Ba... Bụp" một phát, chiếc búa 5kg trên tay Phong bổ xuống, súc củi tẽ làm đôi.
Chính xác đến từng mi-li-mét, chưa bao giờ Phong gõ búa vào tay Viên. Ngồi ngó họ làm, sống lưng tôi lạnh toát. Nếu là tôi, hai mắt sáng như đèn, bổ củi kiểu đó chắc ít nhất cũng gãy tay mỗi ngày 2 lần. Phong cười: "Làm như chú nói thì ai dám thuê, tiền đâu!".
Thật ra cũng có vài lần tai nạn. Có lần, củi cứng quá, lại nhiều mắt gỗ, nhát búa đóng xuống nêm không làm thanh củi tước ra mà dội ngược lại, gõ thẳng vào trán Phong xối máu, khiến cậu chàng bất tỉnh. "Đó là hồi... mới vô nghề, chứ giờ thì đừng hòng".
Chỉ cần chạm tay là cả hai cũng nhận ra loại củi gì, cứng mềm ra sao. Để thử, tôi nhặt 2 thanh gỗ một khô và một tươi mang đến. Đưa lên mũi hít một hơi, Viên bảo: "Thanh khô là gỗ cà te. Loại đó cứng, làm bàn ghế bền và... đẹp nhưng khó chẻ lắm. Thanh tươi là loại lành ngạnh, nhựa nhiều, chẻ tươi quằn cả lưỡi rạ (rựa) nó cũng không toác nhưng đốt thì khói um, chẳng chịu cháy. Không cháy họ mới vứt đó cho chú nhặt chứ cháy thì họ bán lâu rồi!".
Sau năm 2004, củi rừng cũng hiếm, nơi thâm sơn cùng cốc như xứ Thanh Lạng cũng dùng bếp gaz, chẳng mấy ai thuê chẻ củi nữa. Vào mùa, hai anh em xoay sang nghề tẽ ngô thuê. Cứ 6h sáng là lò mò ra khỏi nhà, tối 7h lại lò mò níu vai nhau về. Chủ nhà nuôi ăn sáng ăn trưa, một ngày trả thêm 15-20.000 đồng. Trả bao nhiêu lấy bấy nhiêu, chẳng khi nào ngã giá. Thường người ta cũng cho thêm chứ chẳng ai nỡ bớt tiền công của họ.
Giữa mùa đông, tôi về Thanh Lạng, mang cho họ hai cái áo ấm như đã hứa. Viên, Phong mừng lắm, cứ tranh nhau tíu tít. Phong tiếc rẻ: "Chú về mùa ni rét, chứ về mùa hè, bọn cháu đi bắt ốc đãi chú bữa bia!", giọng hồ hởi, chân thành và hoành tráng như một trang công tử.
Sông Thanh Lạng chảy sau nhà họ bờ dốc đứng, từ trên bờ xuống mặt nước phải cao chừng 15m. Quanh năm nước sông xanh ngăn ngắt và chảy khá êm. Sông sâu và nước cũng sâu, mùa hè cũng mát lạnh. Mang theo một cuộn dây thừng, hai lưng đeo hai hom giỏ, Viên và Phong thường dắt nhau lần mò ra sông. Chọn một gốc cây to, Phong buộc một đầu thừng vào gốc cây và đặt dây vào tay Viên.
Đầu dây kia, Phong quấn 2 vòng qua bụng. Cứ thế, cậu chàng lao thẳng xuống nước ngụp lặn. Gặp trai bắt trai, gặp ốc nhặt ốc cho vào giỏ. Thỉnh thoảng, chân đạp phải con cá, con chình bị quấn trong đám rong, cậu cũng tóm luôn. Không biết bơi, khi nào ngộp thở, Phong lại giật dây lia lịa để Viên gắng sức kéo lên. Không ít lần, sau mưa, nước sông dâng to và chảy xiết, buộc thế nào chẳng biết, đầu dây quanh gốc cây sút ra.
Dưới sông, ngộp quá Phong giật lia lịa. Viên cố níu dây nhưng sức yếu hơn em, bị Phong lôi lộn cổ luôn xuống sông. Hai anh em cứ thế trồi sụt cố quẫy chân đạp đáy sông ngoi lên mà thở từng chặp, mặc cho nước cuốn đi.
Đụng chỗ cạn, họ lại ngoi ngóp dắt nhau níu gốc cây, cành lá bò lên bờ, toét miệng vừa cười vừa thở, mừng thoát chết. Thanh niên tình nguyện tỉnh Quảng Bình mang lên tặng hai chiếc áo phao. Sờ vào "thấy mềm, nhẹ và hay hay", Viên khoái quá, không chịu làm "cọc buộc dây" nữa, hối Phong mặc áo phao vào và tranh nhau nhảy ùm xuống sông. Áo phao khiến họ cứ nổi lều phều không tài nào lặn xuống đáy sông được.
Hôm đó họ "thất thu", lại loay hoay khiến nước cuốn mất cả cặp hom giỏ. Người cũng bị cuốn đi cả đoạn xa mà không biết cách nào, hướng nào để bơi vào. Mãi sau, người đi làm đồng phát hiện, mới hò nhau xuống sông nắm thắt lưng lôi lên. Nhất mực bảo "bị thanh niên tình nguyện... lừa", hai anh em vứt tọt hai cái áo phao vô gầm giường không sờ đến lần nào nữa.
Cả ngày lặn hụp bắt được khoảng 3-4kg gồm cả trai lẫn ốc. Ốc bán được 16.000-18.000 đồng/kg. Loại trai khe con to như 2 bàn tay úp lại bán có giá hơn. Phong khẳng định: "Loại đó đắt lắm. Chỉ có nhà hàng xịn trong Sài Gòn mới có thôi. Ở Đồng Hới tìm... mù mắt cũng không ra đâu chú!". Giọng Phong rất tự tin, cứ như thể một tay chơi thứ thiệt từng nếm tất cao lương mỹ vị. Mà có khi chốn ăn chơi, không đâu qua được đất Thanh Lạng heo hút của Phong cũng chưa biết chừng.
Là nói thế thôi, thật ra anh em họ ý thức rất rõ sự khổ nhọc của đời mình. Đám cưới, đám hỏi trong làng thì họ làm như không nghe, không biết. Nhưng hễ có ma chạy là đến ngay, không mời cũng đến. Trước thì mua nải chuối, thẻ hương, sau "bị cuốn theo thực tế", họ bỏ phong bì 10.000-15.000 đồng. "Cưới hỏi thì không, nhưng đằng nào cũng có khi mình chết. Rồi người ta cũng đến thăm. Thôi thì mình đi trả nợ trước cho có tình có nghĩa". Anh em Viên, Phong giải thích như thế.
Bù lại đôi mắt không nhìn thấy ánh sáng, tai và mũi của họ đều cực tốt. Dăm năm trước, sóng di động bắt đầu phủ lên những làng xóm dọc đường mòn Hồ Chí Minh của vùng Tuyên Hóa, Minh Hóa. Thanh niên chưa sắm ĐTDĐ đừng hy vọng được con gái trong làng để mắt. Cả làng Thanh Lạng chỉ có một gò đất cao, rộng độ một tấm chiếu là có sóng. Một người đứng nói chuyện, cả chục gã trai khác vây quanh, điện thoại giơ thẳng lên trời và nhướn mắt dán chặt màn hình tìm... sóng.--PageBreak--
Thỉnh thoảng, họ lại cãi nhau chí chóe: "Thằng kia, mau lên! Xuống đi cho bố mày gọi với chứ". Không ai nhường ai là xông vào ẩu đả. Anh em Viên, Phong nghe vậy chỉ cười, bảo: "Mấy chú theo tui". Hai anh khiếm thị dắt một đoàn người sáng mắt đi quanh co lộn lẹo, mũi cứ... hít hít. Chuyện nghe chẳng rõ thực hư, nhưng hễ Viên hoặc Phong kêu lên "đây rồi" là đích thị nơi đó sóng di động gọi thoải mái!
Họ cũng rất có khiếu âm nhạc. Nghe qua đài, Viên thuộc rất nhiều bài hát. Và hát rất hay, chơi trống cũng khá điêu luyện. Phong thì tai bị mê hoặc bởi điệu buồn độc huyền, đã cạy cục tự... nghiên cứu và chế được một chiếc đàn bầu. Hộp đàn nhờ người anh cùng cha khác mẹ làm nghề mộc đóng giúp, dây đàn là sợi cước gỡ ra từ cần câu, một chiếc lon sữa bò thay cho bầu, một thanh tre vót mỏng làm cần, cứ thế Phong chơi mê mải, rất nỉ non. Đám tang ma nào cũng có Viên gõ trống, Phong chơi đàn bầu, thức trắng đêm trải lòng ra réo rắt chia buồn cùng tang chủ.
Mời ăn gì họ cũng lắc đầu, rượu cũng không nhấp một giọt, chỉ uống đúng mỗi người một chai bia. Viên bảo: "Mùa bắt ốc, tháng nào bọn cháu cũng uống vài ba bữa bia. Cháu mà uống được chai bia là khỏe... ba ngày!". Không chỉ bia, anh em nhà họ còn thích nhiều thứ khác. Một tháng đủ 30 đêm, cứ cơm chiều xong là Viên lại lầm lũi rời nhà, quá nửa đêm mới chịu về. Viên đi thì tất nhiên Phong cũng đi, để có bờ vai cho ông anh đặt tay. Bà Nguyễn Thị Út, mẹ của họ ngăn cấm thế nào, năn nỉ thế nào hai anh em cũng chẳng nghe.
Có đêm trời tối như mực, một gã say rượu bò cả bánh xe qua bàn chân Viên, hất anh ngã sõng soài rồi bỏ chạy mất. Bà Út phải gọi người ra khiêng về, đắp thuốc gần tháng trời chân Viên mới hết sưng. Nhưng hơi tập tễnh là Viên lại đi. Bị mẹ la, Viên cãi: "Thằng đó mắt sáng, đi đêm chẳng thấy đường, mới tung vô tui. Chứ tui mù sẵn, đường mô chẳng biết, đi mần răng sai được?".
Năm 2003, Báo ANTG đã từng đề cập đến cuộc đời khốn khổ của gia đình có 4 người khiếm thị ấy. Lòng hảo tâm và sự sẻ chia của bạn đọc đã giúp họ có được mái nhà, có vốn chăn nuôi, làm vườn và trồng được hơn 1.000 gốc keo lá tràm để cải thiện đời sống. Ít ra thì gia đình cũng đủ sức để lo cái ăn, cái mặc cho cả người sáng lẫn người khiếm thị, không đến nỗi quá cơ cực như trước. Bà Út còn cẩn thận đóng sẵn một đôi cấp (quan tài), dành một ít tiền gửi ngân hàng, phòng "hậu sự" cho hai đứa con, nếu bà có qua đời trước.
Tiền chẻ củi, tẽ ngô, bắt ốc gần 10 năm nay hai anh em Viên, Phong dồn thành một sổ tiết kiệm đã được hơn chục triệu đồng. Bảo là "cực kỳ tín nhiệm" tôi nên Phong thú thật: "Bọn cháu chỉ khao khát có đứa con nối dõi. Chú coi có ai cùng hoàn cảnh (khiếm thị) như tụi cháu, giúp cho cháu với. Họ mà đồng ý, anh em cháu tình nguyện nhường lại sổ tiết kiệm, để họ nuôi con. Phải là người mù thôi, người sáng nhìn thấy bọn cháu là họ sợ, không ai đồng ý đâu. Đêm nào bọn cháu cũng đi nhưng chẳng thấy có ai... mù để mà hỏi họ cả!".
Lại hào sảng nhưng phi thực tế rồi. Thì ra, nghe trên đài, anh em Viên, Phong biết được vài mẩu chuyện của một vài người khiếm thị khác đã từng có gia đình, có một đời sống riêng. Những khao khát bản năng được đốt lên khiến họ quên mất thực tại, cứ cố bám vào câu "trời sinh voi, trời sinh cỏ" để bao năm nay âm thầm một kỳ vọng. Họ không muốn hiểu, cũng không hiểu nổi độ chênh giữa mơ ước và thực tế.
Tôi đã rất bất ngờ và bối rối trước đề nghị của họ. Tránh cái nhìn của tôi, bà Út chỉ len lén lau nước mắt và mắng át đi: "10 triệu đồng thì nuôi ai, mấy tháng?". Viên và Phong lại tranh nhau: "Thì chẻ củi thuê, thì bắt ốc...". Và: "Cứ lao động chân tay, việc gì bọn cháu cũng làm. Chưa quen thì vài bữa cũng làm được. Bọn cháu khỏe lắm!".
Bà Út giãi bày: "Sinh con như trồng cây. Ra trái ngọt thì hưởng ngọt, trái đắng thì hưởng đắng chứ biết sao giờ". Càng lớn, Viên, Phong ngày càng đâm ra bẳn tính. Dù được vợ chồng người anh em ruột là Hoàng Ngọc Đức hết lòng chăm sóc, Viên và Phong vẫn dấm dẳn khi biết vợ chồng Đức sửa nhà, láng nền hết mười mấy triệu đồng.
Dù Đức cố giải thích số tiền đó là do anh bán trâu, bán vụ ngô, bán hết số gỗ lạt đi rừng mới có, cả hai vẫn không yên tâm. Họ sợ người anh em của mình "phạm" vào số tiền mà các nhà hảo tâm giúp đỡ, hiện vẫn đang được bà Út gửi ngân hàng. Bà Út bảo: "Tôi mua quần áo ấm cho chúng, chúng cũng không mặc vì sợ... áo dổm, cứ nhất quyết gọi điện xin chú cho bằng được".
Trong giọng nói của bà mẹ khổ có chút chua chát. Dù nghe và cảm thông, tôi vẫn nghĩ anh em Viên, Phong, cả cậu Út Thược kia nữa đều không đáng trách. Bao nhiêu người quanh ta sống với đầy đủ giác quan, nhận thức và sự giáo dục mà sự nhầm lẫn, nghi kỵ vẫn là điều không tránh khỏi. Còn họ, chẳng có mấy ai thật sự là bạn bè để tâm sự, giãi bày, lại chỉ nghe, không thấy! Mà miệng lưỡi thế gian, trời ạ, có mấy khi chỉ nói điều tử tế?...