Vũ nữ Nga Olga Khokhlova, người vợ đầu tiên của Pablo Picasso:

Yêu thiên tài nên bạc mệnh

Olga Stepanovna Khokhlova sinh ngày 17/6/1891 tại thành phố có cái tên rất dịu dàng trong tiếng Nga Nezhin (nay thuộc Ucraina). Cha của Olga là một đại tá trong quân đội Sa hoàng và vì thế, cô bé đã được giáo dục một cách rất chu đáo và sang trọng.

Thế nhưng, chỉ một lần tới Paris và được xem đoàn ballet của Madame Shroessont ở "kinh đô ánh sáng", Olga quyết định là lớn lên dứt khoát sẽ trở thành vũ nữ ballet. Nhưng đó là một công việc hoàn toàn không thích hợp với một tiểu thư xuất thân từ một gia đình mực thước như cô. Tuy nhiên, Olga đã bướng bỉnh làm theo ý mình và đã trở thành vũ nữ ballet. Không những thế, cô gái trẻ còn dễ dàng vượt qua kỳ sát hạch để vào múa ở vũ đoàn ballet Nga lừng danh của Sergei Dyaghilev.

Thiên hạ đồn rằng, Olga không quá xuất sắc về trình độ nghệ thuật và tâm tính. Thế nhưng, chủ đoàn Dyaghilev lại rất thích những thiếu nữ có phong cách trang nhã xuất thân từ những gia đình mực thước. Nhìn từ góc độ này, Olga rất hoàn mỹ.  Cô không bao giờ được nhận những vai chính, nhưng sự có mặt của cô trong vũ đoàn luôn luôn ở mức nổi bật, lôi cuốn người xem không hẳn bằng sự điêu luyện vượt trội mà bằng một vóc dáng đặc biệt.

Năm 1917, Dyaghilev bắt đầu dàn dựng vở ballet Parade dựa trên phần lời của nhà văn Lean Cocteau và phần nhạc dành cho hai cây dương cầm của Eric Satie. Biên đạo cho vở ballet này là Leonid Myasin, còn Pablo Picasso trong vở diễn này đã thử sức với tư cách họa sĩ phục trang và bối cảnh. Dyaghilev khi dựng vở Parade đã định làm cho cả thành phố Paris phải nổ tung. Và ông đã đạt được mục đích của mình. Trong tháng 5/1917, nước Pháp đang bị kiệt quệ bởi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và công chúng nóng lòng chờ đợi một sự kiện văn hóa nghệ thuật nào đó rạo rực những hứng khởi ái quốc để tiếp tục cầm cự mà sống giữa muôn vàn khó khăn thời chiến.

Thế nhưng, qua vở ballet Parade, họ chỉ được thấy một tác phẩm hết sức dị thường: những vũ điệu bị lùa vào trong các trang phục của tư duy lập thể dưới những giai điệu âm nhạc mà trong đó thi thoảng lại vang lên tiếng đánh máy chữ, tiếng chai lọ đụng vào nhau và cả tiếng  kèn clarion.

Olga Khokhlova trong tranh của Pica sso.
Olga Khokhlova trong tranh của Pica sso.

Thi sĩ Mùa thu chết Guillaume Apollinaire gọi vở diễn đó là "liên minh của hội họa và vũ điệu, tạo hình và biểu cảm bằng gương mặt". Công chúng bình thường lại có sự đánh giá khác. Họ thét lên với các nghệ sĩ: "Lũ boche Nga! Satie và Picasso cũng là boche!". (Boche là cách gọi miệt thị của người Pháp đối với những kẻ thù Đức thời ấy).

Trong buổi công diễn vở Parade có Olga Khokhlova. Và có lẽ cô đã rất hồi hộp và xúc động. Cùng với khán giả, họa sĩ Picasso hôm đó cũng rất chăm chú quan sát cô. Họ đã làm quen với nhau ở Rome, trong thời gian dàn dựng vở. Đó không phải là tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Picasso đã không chú ý ngay lập tức tới cô vũ nữ khiêm nhường, kiềm chế và thậm chí là rất nghiêm ngắn Olga Khokhlova. 

Nhưng khi đã nhận ra chân giá trị của Olga rồi, Picasso thôi không buồn để ý tới các vũ nữ khác nữa. Chủ đoàn Dyaghilev cảm thấy mình có nghĩa vụ phải nhắc nhở trước cho chàng họa sĩ người Tây Ban Nha biết rằng, các cô gái Nga hoàn toàn không đơn giản, đã yêu họ là phải lấy họ. Và Picasso có vẻ như cũng sẵn sàng làm việc này.

Khi đoàn ballet của Dyaghilev lưu diễn ở Barcelona, Picasso đã giới thiệu Olga với gia đình mình. Người mẹ của họa sĩ thực ra chỉ muốn có con dâu là người Tây Ban Nha nhưng khi gặp cô gái Nga rồi, bà cũng cảm thấy hài lòng: nền nếp gia giáo được rèn luyện từ thuở nhỏ đã giúp Olga Khokhlova vượt qua được sự sát hạch nghiêm khắc từ phía gia đình Picasso.

Khi Picasso vẽ chân dung Olga trong trang phục Tây Ban Nha, bà mẹ đã xúc động khôn tả. Và bà đã buột miệng đầy thương cảm: "Con gái tội nghiệp ơi, con không biết con đã gặp nạn lớn thế nào đâu. Pablo nó chỉ quan tâm tới chính bản thân nó thôi…". Nhưng với những trái tim đang rộn rã yêu đương thì những lời như thế, dù do chính mẹ chồng tương lai nói ra, cũng chẳng mang lại tác dụng gì. Olga đã quyết định cho tương lai của mình.

Đoàn ballet Nga của Dyaghilev chuẩn bị đi du diễn ở châu Mỹ Latinh. Olga hiểu rằng, đoạn đời vũ nữ của cô đã vượt qua đỉnh dốc rồi.  Nước Nga lúc đó đã thay đổi hẳn nên một cô con gái của một đại tá trong quân đội Sa hoàng như Olga sẽ không có chỗ ở quê hương. Rốt cuộc, cô chỉ còn một lối thoát duy nhất: trở thành vợ của Pablo Picasso.

Hai người làm lễ thành hôn ngày 18/6/1918 tại nhà thờ Chính thống giáo Nga Aleksandr Nevsky ở Paris. Khách mời đều ngạc nhiên khi thấy gã trai đa tình và lãng tử Picasso lại say đắm cô vũ nữ Nga đến thế. Chính bản thân họa sĩ khi đó cũng nghĩ đấy sẽ là tình yêu "một lần và mãi mãi" của mình. Minh chứng cho điều này là bản hợp đồng hôn nhân mà trong đó có ghi rằng quyền sở hữu tất cả các bức tranh của Picasso đều được chia làm đôi cho hai người,  mỗi người một nửa nếu họ li dị nhau.

Cặp vợ chồng trẻ dọn tới ở trên phố Boetie trong ngôi nhà số 23 rộng rãi. Olga đã trổ hết tài trí ra để trang hoàng ngôi nhà này trở thành tuyệt tác. Một tầng cô trang hoàng theo ý riêng của mình, tầng khác cô dành riêng cho chồng và ở đó là cả một sự hỗn độn xa hoa. Gia đình họa sĩ có một xe hơi, một tài xế riêng và trưng bày nhiều đồ vật quý hiếm, lạ mắt.

Lúc này, Picasso đã là một tài danh lớn ở Paris. Vợ chồng họ sống rất vương giả, tiệc tùng liên miên. Khách quen của họ toàn là những người của công chúng, Olga thích những trang phục đắt tiền và rượu champagne. Pablo cũng không từ chối dịp may y phục ở những tiệm thời trang cao cấp nhất. Anh rất hãnh diện với người vợ của mình, với cách hành xử tự nhiên và tự tin trong giới thượng lưu, với nhan sắc lạ mắt và kiểu dáng kiêu sa của cô…

Tất nhiên Olga hiểu rằng, chồng cô là một đại danh họa. Nhưng liệu cô có hiểu được nghệ thuật của Picasso không? Anh đã vẽ rất nhiều chân dung của cô. Cô nói rằng, cô muốn nhận ra gương mặt mình trên tranh của anh. Họa sĩ sẵn lòng ngay. Đó là đôi mắt to đăm chiêu, cái mũi thẳng tyệt đối và… không bao giờ có một nụ cười nào. Bao giờ cũng là một sự kìm nén. Dường như trên cô là một y phục theo chủ nghĩa lập thể mà  Picasso đã nghĩ ra cho cô từ thuở dựng vở Parade…

Năm 1921, Olga mới vào tuổi tam thập, còn Pablo Picasso cũng chỉ vừa 40 tuổi. Họ cũng vừa sinh cậu con trai Paulo. Pablo cảm thấy mãn nguyện. Anh vẽ rất nhiều ký họa và tranh vợ con mình, đó là những tác phẩm dịu dàng nhất trong đời đại danh họa. Từ đó trở đi không bao giờ lặp lại giai đoạn tân cổ điển trong sáng tác của Picasso nữa…

Với bản tính nghệ thuật luôn luôn tìm sự đổi mới của mình, dần dà Picasso cảm thấy cách sống trưởng giả bình yên trở nên nhàm chán. Anh cũng ngán vai trò một họa sĩ phòng trà mà Olga muốn anh đóng. Nhận thấy những sự đổi thay đó, Olga đã giở các trò ghen tuông ra để hành hạ chồng và chính bản thân mình. Và trong giai đoạn đầu, hoàn toàn vô cớ.

Mãi tới năm 1927, Picasso mới gặp một mỹ nữ thể thao 17 tuổi tên là Marie - Therese, một người hoàn toàn chẳng hiểu gì về nghệ thuật cả. Thế nhưng, đại danh họa có bao giờ cần đi tìm một nhà nghiên cứu nghệ thuật ở những phụ nữ đẹp đâu. Anh đi tìm những hình thức mới, những người mẫu mới. Đúng hơn, như Picasso vẫn nói, không phải anh đi tìm mà là anh tự nhiên tìm ra. Và chuyện gì cần xảy ra đã xảy ra, lửa vừa gặp rơm đã bén.

Olga cảm thấy tuyệt vọng. Pablo hoàn toàn không giấu giếm vợ niềm say mê trẻ trung của mình. Anh thuê cho Marie - Therese một căn phòng ở đối diện với xưởng vẽ, rồi sau đó đã mang cô tới ở ngay trong đó. Mọi sự cứ diễn ra như thế 7 năm, cho tới lúc bản thân Marie - Therese cũng cảm thấy chán vì chỉ được làm bồ của danh họa. Cô tới ngôi nhà của Olga với một bé gái trên tay và bảo, đấy cũng là "tác phẩm" của Pablo!

Olga không chịu nổi sự nhục mạ này và mang con trai đi về Cannes sống. Ly dị ư? Nếu thế, Picasso phải trao lại cho Olga một nửa số tranh của ông. Mà đó là việc ông rất không muốn. Thế là Olga chẳng có cách gì ly dị chồng được. Và Marie - Therese cũng đã không đạt được mục đích của mình: không bỏ vợ cũ thì làm sao Pablo cưới được vợ mới?

Từ đó trở đi, cuộc sống của Olga ngày một trở nên tồi tệ hơn. Trong vai vợ hờ của danh họa, chị cứ mòn mỏi đi với hy vọng hão huyền là sẽ có một ngày người chồng chán chơi sẽ quay lại với chị và cậu con trai. Hoặc ông sẽ đồng ý li dị để chị tìm cơ hội mới cho mình. Thế nhưng, chuyện đó đã không xảy ra. Picasso chán cô này thì lại mê cô khác, hết Marie - Therese lại tới nữ nhiếp ảnh gia kiêm họa sĩ Maar Dora, rồi cả cô họa sĩ trẻ Franoise Gilot. Và sau Franoise Gilot là đến lượt Jacqueline Roque… Mặc dầu thế, ông vẫn không chịu li dị vợ.

Tuyệt vọng, Olga Khokhlova đã viết cho chồng vô số những lá thư với những lời lẽ nặng nề. Chị gọi nghệ thuật của ông là sự suy đồi… Chị cũng gửi tới ông những bức chân dung của Beethoven và Rembrandt, ý muốn nhiếc ông rằng, không bao giờ ông vươn tới được những  đỉnh cao như thế trong nghệ thuật.

Mọi sự cứ thế quá mù ra mưa. Cáu kỉnh, Picasso đã vẽ Olga dưới dạng con ngựa hoặc con bò tót trong chùm tranh Corrida (đấu bò tót).  Thậm chí có lúc ông gọi Olga là "tiểu nhân toàn phần" và cho rằng, giai đoạn sống chung với chị là "tồi tệ nhất trong đời"…

Niềm vui còn lại của Olga chỉ là người con trai Paulo và hai cháu nội:  Pablito (sinh năm 1949) và Marina (sinh năm 1950). Marina năm 1990 đã lập ra một trại mồ côi từ Thủ Đức (Việt Nam) nhờ số tiền được thừa kế từ ông nội…

Năm 1955, các bác sĩ phát hiện ra ở Olga căn bệnh ung thư. Sau này, hai người cháu của bà đã gọi bà là "bà tiên" và kể rằng, họ chỉ được nghe những lời dịu dàng thời thơ ấu từ mỗi bà nội của mình. Marina cho tới giờ vẫn nhớ hình ảnh bà nội ngồi trên ghế tựa với tấm áo lông rái cá mà Pablo Picasso đã tặng bà ngày trước. Bản thân đại danh họa không có lần nào tới thăm lại người vợ cũ. Ông thậm chí còn không tới đám tang bà năm 1954 vì "bận vẽ tranh mới" (?!).

"Mỗi một lần tôi thay đổi phụ nữ là tôi lại phải đốt đi người đã là cuối cùng", - có lần Picasso đã tâm sự như vậy. Đó là sự thật. Tất cả những người bạn gái cũ của đại danh họa đều bị đốt, bị đổ vỡ hay phát điên lên vì ông. Người duy nhất lành lặn sống sót là Franoise Gilot vì chị đã biết cách bỏ ông trước khi bị ông ruồng bỏ.

"Liệu những nhà sáng tạo có quyền được ăn tươi nuốt sống hay làm cho những người gần gũi với mình trở nên tuyệt vọng hay không? Tác phẩm của họ, dù mang lại ánh sáng cho đời, liệu có xứng với những hy sinh là những phận người như thế không?" - Marina Picasso, cháu gái của đại danh họa đã đặt ra câu hỏi này trong cuốn sách Ông nội

Huyền Anh

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.