Y học hạt nhân trong điều trị ung thư mang đến tỷ lệ thành công cao

Ung thư tuyến giáp thể biệt hoá nếu phát hiện sớm, tỷ lệ điều trị khỏi bệnh hoàn toàn lên tới 100%. Với trường hợp có tổn thương di căn xa (xương, phổi) điều trị bằng phương pháp phẫu thuật, i-ốt 131, tỷ lệ thành công cũng lên tới hơn 90% (bệnh nhân sống trên 5 năm).

Chia sẻ tại Hội nghị khoa học "Cập nhật tiến bộ trong ung thư và y học hạt nhân" do Bệnh viện Bạch Mai tổ chức ngày 16/8, PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho biết, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 20 triệu ca mắc ung thư mới và gần 10 triệu trường hợp tử vong do ung thư. Tại Việt Nam ghi nhận hơn 182.000 ca mắc mới ung thư và trên 122.000 ca tử vong mỗi năm, trong đó, ung thư phổi, gan, vú, dạ dày và đại trực tràng vẫn là những loại phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao.

Trong bối cảnh tỷ lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng, y học hạt nhân - một ngành khoa học tích hợp giữa vật lý hạt nhân, sinh học phân tử và y học lâm sàng đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong y học chính xác, từ chẩn đoán sớm, phần tầng nguy cơ đến cá thể hóa điều trị cho từng người bệnh.

Y học hạt nhân trong điều trị ung thư mang đến tỷ lệ thành công cao -0
PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai phát biểu tại hội nghị.

Đặc biệt, các kỹ thuật như PET/CT, SPECT/CT, SPECT, các liệu pháp điều trị phóng xạ nhắm trúng đích như I-131, Lu-177, Y-90, hay liệu pháp theranostics (vừa chẩn đoán vừa điều trị) đang mở ra một kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn cho người bệnh ung thư.

"Sự tiến bộ của các phương thức chẩn đoán hiện đại, tiên tiến như giải trình tự thế hệ mới (NGS) phân tích, chẩn đoán bệnh ở mức độ gen, sinh học phân tử kết hợp với các phương pháp điều trị như các thuốc điều trị đích, liệu pháp miễn dịch đã kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh", PGS Cơ khẳng định.

Theo PGS.TS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai), hệ thống máy móc hiện đại được áp dụng ở Việt Nam hơn 10 năm gần đây đã giúp chẩn đoán, đánh giá chính xác giai đoạn bệnh ung thư, tình trạng đáp ứng sau quá trình điều trị cũng như đánh giá phát hiện các tổn thương tái phát và di căn chính xác. 

Đặc biệt, y học hạt nhân không chỉ giới hạn trong điều trị ung thư mà còn có ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như tim mạch, nội tiết và thần kinh. Y học hạt nhân còn được ứng dụng để chẩn đoán và điều trị sa sút trí tuệ, mang lại giá trị lớn trong y khoa hiện đại. Riêng trong ung thư, các tiến bộ ngày càng được mở rộng. Đặc biệt, gần đây, y học hạt nhân (phương pháp Lu-77) đang giúp tiến hành chẩn đoán và điều trị  bệnh lý ung thư tuyến tiền liệt và u thần kinh nội tiết.

Y học hạt nhân trong điều trị ung thư tuyến giáp, tỷ lệ khỏi lên tới 100% -0
Hội nghị được nghe những chuyên gia hàng đầu về ung thư chia sẻ phương pháp mới trong chẩn đoán và điều trị.

PGS.TS Phạm Cẩm Phương nhấn mạnh, chuyên ngành y học hạt nhân ở Việt Nam hiện đã tiếp cận một số tiến bộ mới như: Cấy hạt phóng xạ; i-ốt 131 điều trị ung thư tuyến giáp; I-125 điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm; sử dụng Y-90 điều trị ung thư biểu mô tế bào gan cũng như ung thư di căn gan.

"Sử dụng i-ốt 131 trong điều trị ung thư tuyến giáp có tác dụng ghi hình để chẩn đoán bệnh sau phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp; khi vào cơ thể, i-ốt 131 còn phát ra các tia bức xạ và tiêu diệt các tế bào ung thư, đồng thời cũng giúp ích điều trị tổn thương di căn. Mặc dù ung thư tuyến giáp thể biệt hoá có di căn nhưng điều trị i-ốt 131 có thể điều trị khỏi hoàn toàn", Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu chia sẻ.

Chuyên gia cho biết, ung thư tuyến giáp thể biệt hoá là một trong những ung thư được tiên lượng điều trị rất tốt, phương pháp điều trị chính là phẫu thuật, tùy vào tình trạng kích thước của khối u, mức độ xâm lấn tổn thương di căn hạch, bác sĩ sẽ cho người bệnh điều trị bổ trợ i-ốt 131, hoặc điều trị bổ trợ hormone.

"Dù có di căn đi nữa thì cũng hoàn toàn có thể điều trị khỏi với tỷ lệ hơn 90% người bệnh sống trên 5 năm", PGS Phương cho biết.

Y học hạt nhân trong điều trị ung thư tuyến giáp, tỷ lệ khỏi lên tới 100% -0
PGS.TS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai chia sẻ với phóng viên.

Đến nay, Việt Nam đã tiếp cận được các kỹ thuật chẩn đoán, điều trị ung thư tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là các phương pháp mới như điều trị đích, điều trị miễn dịch, có đẩy đủ trang thiết bị chẩn đoán và các thuốc điều trị mới đối với bệnh lý ung thư. 

Với những tiến bộ vượt bậc, y học hạt nhân không chỉ mang lại hy vọng cho bệnh nhân ung thư mà còn mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị các bệnh lý phức tạp, hướng tới mục tiêu cá thể hóa và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

Trần Hằng

Các tin khác

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã nội soi buồng ối đặt bóng gây bít khí quản thai nhi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh cho bào thai còn đang trong bụng mẹ (kỹ thuật cao FETO). Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam triển khai kỹ thuật hiện đại này cho trường hợp mắc bệnh lý bẩm sinh vô cùng phức tạp.

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Nhiều người khi thấy một nốt ruồi mới mọc, một vết đen hay mảng da sẫm màu dưới lòng bàn chân thường "tặc" lưỡi cho qua vì nghĩ chỉ là vết tụ máu do va đập hoặc nấm kẽ chân. Nhưng đây là vị trí "ưa thích" của ung thư tế bào hắc tố – loại ung thư da ác tính và có tỷ lệ tử vong cao nhất.

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Theo Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), tỷ lệ người dưới 50 tuổi cần can thiệp tim mạch chiếm khoảng 30%, dưới 40 tuổi phải can thiệp tim mạch chiếm 15–20%; thậm chí có những trường hợp dưới 20 hay 30 tuổi đã bị nhồi máu cơ tim.

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Kết hôn muộn sẽ dẫn đến sinh con muộn, sinh ít con, thậm chí không sinh con làm cho mức sinh giảm thấp. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với những hệ lụy như thiếu hụt lực lượng lao động.

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Sau 3 ngày 2 đêm lênh đênh trên biển với vết thương nặng ở chân phải do bị cáp tời cuốn, nam ngư dân được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) trong tình trạng gãy hở, xương gãy phức tạp, nhiều dị vật, mô mềm tổn thương nặng, có dấu hiệu nhiễm trùng...

Các y bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn tham dự lễ tri ân nghĩa cử cao đẹp hiến tạng của nữ nhân viên y tế B.H.A.

Nữ nhân viên y tế hiến tạng cứu sống 3 người

Một nữ nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) không may mắc bệnh nặng, dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng chị không qua khỏi. Gia đình đã đồng ý hiến tạng của chị để cứu sống 3 người bệnh nặng.

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Tình trạng mang thai và sinh con ở tuổi chưa thành niên tại Việt Nam còn cao tại một số khu vực, nhất là Tây Nguyên và Trung du, miền núi phía Bắc. Tảo hôn và sinh con sớm (15-19 tuổi) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 3 lần so với toàn quốc. 

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Ngày 23/9, tại Trạm Kiểm soát Biên phòng Trần Đề thuộc Đồn Biên phòng Trung Bình - Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP Cần Thơ tiếp nhận 5 ngư dân gặp nạn trên biển được một tàu cá phát hiện, cứu vớt và đưa vào bờ bàn giao cho lực lượng chức năng.

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

Tính đến 9h ngày 21/9, TP Hồ Chí Minh đã ghi nhận 5.018.955 người được khám sức khỏe, khám sàng lọc, chính thức vượt cột mốc 5 triệu người. Song song với tiếp tục mở rộng độ bao phủ, chương trình đang chuyển sang một yêu cầu quan trọng hơn: bảo đảm khám thực chất, nâng cao chất lượng chuyên môn, hoàn thiện kết quả trên Hồ sơ sức khỏe điện tử và làm sạch dữ liệu, bảo đảm số liệu trên hệ thống phản ánh đúng số người thực tế đã được khám.