Vương Trọng - nhà thơ của những nỗi niềm

Nhà thơ Vương Trọng thường được mọi người gọi một cách âu yếm là "ông đồ xứ Nghệ". Anh có dáng nho nhã, mái tóc bồng bềnh, gương mặt luôn hồng hào và, đặc biệt, giọng nói luôn ân cần, ấm áp. Anh có biệt tài làm câu đối chuẩn, ứng khẩu thơ rất nhanh.

Nhớ một lần, lâu lắm rồi, tôi thường ghé Tạp chí Văn nghệ quân đội chơi. Hôm ấy, nhà thơ Vương Trọng đang xúc cơm cho con ăn. Cậu bé cứ chạy lung tung trong hành lang khiến nhà thơ vừa cầm bát cơm, vừa đuổi theo, vừa dỗ cho cậu bé không ngậm cơm trong miệng. Cậu bé cứ nấp sau các cánh cửa hoặc trong những góc khuất, ông bố cũng hoà nhập vào trò chơi của con. Thỉnh thoảng hai bố con lại vang lên những chuỗi cười giòn giã. Nhà thơ Thanh Tịnh đi ngang, đọc ngay câu: "Bố cho con ăn, con cười bố cười". Không ngờ nhà thơ Vương Trọng rất nhanh trí, đối ngay lại: "Con cho bố ăn, con khóc bố khóc". Ông Thanh Tịnh bất ngờ, công nhận vế đối xuất sắc. Các nhà thơ quân đội, tuy mang quân hàm nhưng tất cả đều "từ nhân dân mà ra" và "sinh ra không là lính" nên thấu hiểu cuộc đời.

263724089_1776569529204009_5386449580507195020_n.jpg -0

Những năm ở chiến trường Campuchia, tôi thường gửi thơ về Tạp chí Văn nghệ quân đội. Tuy không được đăng nhưng lần nào tôi cũng nhận được thư trả lời của tạp chí. Những lá thư từ Thủ đô, vượt qua biên giới, sang tận mảnh đất địa đầu ở Campuchia. Ấm lòng và khích lệ bao nhiêu. Sau này, thơ được đăng. Tôi mới biết thơ mình được các nhà thơ Nguyễn Đúc Mậu, Anh Ngọc, Vương Trọng... biên tập rất kỹ lưỡng, cắt bỏ những câu thừa rất chuẩn xác. Tôi luôn mang ơn những tâm hồn thơ tinh tế, khoáng đạt và công minh của các anh.

Những năm chiến đấu xa Tổ quốc, tôi tình cờ được đọc bài thơ “Bên mộ cụ Nguyễn Du” của nhà thơ Vương Trọng:

Tưởng rằng phận bạc Ðạm Tiên

Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Ðiền nằm đây

Ngẩng trời cao, cúi đất dày

Cắn môi tay nắm bàn tay của mình.

Bài thơ như tiếng kêu buồn của hậu thế trước cảnh hoang vu của nấm mộ thi hào dân tộc. Bài thơ đầy cảm xúc, đi ngay vào trung tâm câu chuyện. Bài thơ ra đời năm 1982, chiến tranh chưa chấm dứt. Hàng ngàn thanh niên Nghệ Tĩnh cũng như mọi miền đất nước vẫn phải lên biên giới phía Bắc và chiến trường K. Nhưng, một dân tộc có truyền thống văn hiến ngàn năm không thể để nấm mộ vĩ nhân văn hóa trong cảnh:

Không cành để gọi tiếng chim

Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời

Không vầng cỏ ấm tay người

Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu.

Không ngờ, khi bài thơ được in, nó đã gây nên cơn chấn động trong dư luận. Mọi người nhìn lại mình, nhìn lại thái độ ứng xử với di tích văn hóa của mình. Không nên đổ lỗi cho chiến tranh, cho thiên tai, cho cơ chế... Và ít lâu sau, những cơ quan hữu trách đã bắt tay tôn tạo nấm mộ thi hào dân tộc. Nhà thơ Vương Trọng cho biết, anh tuy quê Nghệ Tĩnh nhưng mãi đến năm 1982 mới được đi công tác về Khu 4. Anh ghé thăm mộ Nguyễn Du, một mong ước bấy lâu. Nhưng, đến nơi, thật sững sờ. "Cắn môi tay nắm bàn tay của mình". Giận thì giận nhưng thương thì thương. Kiềm chế cảm xúc. Nhưng, hình ảnh nấm mộ vĩ nhân vẫn ám ảnh. Và bài thơ ra đời, như trút được nỗi lòng thương cảm của kẻ hậu sinh.

Cũng bởi từ lâu, anh rất yêu “Truyện Kiều”. Anh thuộc lòng Kiều từ lúc nào không biết. Mặc dù anh là người giỏi toán. Từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp toán nhưng tâm hồn anh lại là tâm hồn thi sĩ. Anh từng đặt tên con theo một địa danh trong Kiều, từng viết rất nhiều bài công phu, thú vị về Kiều, chọn ra những câu Kiều hay nhất... Không những mê Kiều, anh còn mê thơ chữ Hán Nguyễn Du. Và, theo bước Nguyễn Du, anh chuyển toàn bộ thơ chữ Hán của ông sang thể thơ lục bát. Anh mải mê âm thầm làm công việc này trong hàng chục năm trời. Làm vì tình yêu. Không vì mục đích nào. Chỉ cốt thơ chữ Hán của thi hào đến với công chúng bằng một kênh khác. Anh là một "nhà Kiều học" đến tận cốt tủy. Mỗi nhà thơ thường chọn cho mình những thần tượng để noi theo. Với nhà thơ Vương Trọng, bậc tiền bối đó chính là Nguyễn Du.

Đó là tình yêu hết sức tự nhiên. Đó là con đường hướng đến ngôi sao phía trước. Có thể anh không biết con đường thơ ca của mình đang đi in dấu vĩ nhân. Nhưng, khi trái tim anh cất lên lời ca, những bài hát đó, đều mang tinh thần của tư tưởng vĩ nhân. Trên đường đi xứ, Nguyễn Du cúi xuống mộ nàng TIểu Thanh. Hai trăm năm sau, nhà thơ Vương Trọng cúi xuống mộ Nguyễn Du. Chợt nhớ đến ca khúc “Cúi xuống thật gần” của Trịnh Công Sơn: "Cúi xuống/ Trên bờ xót xa/ Trên cơn lửa đỏ/ Trên khuôn mặt đã im lìm/ Cúi xuống/ Nhìn sâu trong mắt/ Và nghe mưa bão tan đi trong đại dương...".

Người nghệ sĩ chân chính là người nâng niu từng ngọn cỏ, từng viên sỏi trên đường. Để lắng nghe và thấu cảm trong đó những âm thanh, những tiếng vọng của các kiếp người. Lắng nghe một cách nhẫn nại, bền bỉ. Và, những thi phẩm đến như một sự tất yếu. Đó là trường hợp ra đời của bài thơ “Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc”. Nhà thơ kể: "Mùa hè năm 1995 tôi đến thăm nghĩa trang mười cô gái ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tùy bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà nên tôi nghĩ nên nhường văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế, trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ. Nhưng, thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như bài thơ của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào? Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn Phòng không 210 có 112 liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hòa trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng nảy sinh.

Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải tỏa sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái:

Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang

Cho mọc dậy vài cây bồ kết

Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, bón tốt nên phát triển rất nhanh. Anh thuộc lòng và có ý định khắc bài thơ trên đá để mọi người cùng được đọc tại đây.  Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hóa.

265285997_1916110191901450_3435539579962760907_n.jpg -0
Nhà thơ Vương Trọng bên tấm bia ở nghĩa trang Đồng Lộc có khắc bài thơ ''Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc'' của anh.

Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10-2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, anh bảo rằng sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh Tường mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế và khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hóa, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay sau đó: “Ngẫu nhiên hay tâm linh?".

Quan niệm về thơ và phong cách làm thơ của nhà thơ Vương Trọng luôn đồng nhất. Anh từng phát biểu: "Thơ hay là thơ được nhiều người ưa thích. Ít độc giả không bao giờ là mục đích sáng tác của những nhà thơ chân chính. Nói rằng, thơ mình chỉ cần ít người đọc hay mình chỉ viết cho người đời sau.. chẳng qua là thú nhận sự bất lực, bất tài". Những năm học ở Nga, trong một lần được du ngoạn bằng tàu thủy trên biển Đen, tôi đã được nghe một cô gái ngâm bài thơ:

Mẹ nghề y nhiều đêm trực vắng nhà

Tròn một tuổi gủi con về quê ngoại

Quê ngoại con là quê mẹ đấy

Sao bây giờ mẹ thấy xa xôi...

Cô ấy không biết tên bài thơ, chỉ biết gọi theo ba chữ đầu "Mẹ nghề y". Cô ấy cũng không biết tên tác giả. Chỉ nghe cô ấy nói, bài thơ đúng như hoàn cảnh gia đình cô. Hạnh phúc của người làm thơ, là đôi khi, thấy mình thành tác giả "kinh điển". Nghĩa là công chúng thuộc thơ mình nhưng không cần biết tác giả là ai! Trên trang "thivien.net"', khi đọc bài thơ “Nhớ con” của anh, một bạn đọc viết: "Bài thơ là lời tâm sự của người mẹ, với lối viết dung dị, thủ thỉ mà chứa chan cảm xúc. Nó có sức gợi cảm rất lớn. Bài thơ đã đi theo những người lính chúng tôi, vượt qua nhiều chiến trường, vượt qua nhiều gian khổ, đến ngày đất nước toàn thắng - TAL". Một bạn đọc khác: "Tôi đã được đọc bài thơ này từ rất lâu rồi. Nó được bố tôi chép trong cuốn sổ công tác năm 1980. Tôi đọc lên thấy sao giống với hoàn cảnh gia đình mình đến thế. Tôi không hỏi bố nhưng tôi nghĩ bố cũng thấy có một sự tương đồng rất nhiều với nhân vật trong bài thơ. Xin cảm ơn nhà thơ Vương Trọng vì một bài thơ rất hay (along88)".  Rất nhiều bài thơ khác của nhà thơ Vương Trọng cũng được công chúng yêu thích như “Chị dâu”, “Hai chị em”, “Mỵ Châu”, “Với đứa con ngoài giá thú”, “Nam Bộ mà anh” v.v... Đối với nhà thơ, đó là giải thưởng xứng đáng nhất.

Trong cuộc sống, nhà thơ Vương Trọng có thể bỏ qua điều này điều nọ nhưng với thơ, với những nguyên tắc văn chương, anh là người quyết liệt, không thỏa hiệp. Bởi anh có quan điểm riêng: "Tôi yêu Đỗ Phủ hơn Lý Bạch, yêu Nguyễn Du hơn Hồ Xuân Hương; bởi Đỗ Phủ, Nguyễn Du ngoài tài thơ ra còn có trái tim lớn đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Thơ sinh ra không phải cho người đời chơi chữ, mà cốt để chuyển tải nỗi lòng. Bài thơ hay nhiều khi không còn thấy thơ đâu, chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng và số phận".

Đoàn Tuấn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.