Vũ khí bí mật của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương

Trong những năm gần đây, Mỹ đã bắt đầu giảm bớt trọng tâm quân sự từ các hoạt động chống khủng bố để quay trở lại khả năng xảy ra chiến tranh quy mô lớn với những đối thủ ngang tầm tiềm năng. Xui thay, khi gần 2 thập niên kéo dài của Chiến tranh chống khủng bố toàn cầu đã khiến bộ máy phòng thủ của Mỹ đi nhầm đường. Xét theo một số khía cạnh quan trọng thì giờ đây có vẻ như Mỹ đã bắt kịp cuộc chơi khi ngày càng khép chặt những lỗ hổng năng lực ở Châu Âu và Thái Bình Dương.

Trong khi Mỹ giữ vị thế có lực lượng quân sự lớn nhất hành tinh thì nước này tự cho mình có nghĩa vụ phải vươn xa hơn bất kỳ lực lượng nào khác trên thế giới. Trong mọi ngóc ngách địa cầu, quân đội Mỹ đều cố đa dạng các năng lực riêng, từ cung cấp sự hiện diện ổn định, và huấn luyện các lực lượng quân sự hải ngoại nhằm tự phòng thủ, cho đến việc thực thi các nguyên tắc quốc tế trên đại dương.

Như các học giả quân sự từng phân tích chi tiết trước đây khi nhận định rằng Hải quân Mỹ có thế mạnh trong kỷ nguyên ổn định quan hệ toàn cầu hiện nay, nhưng lực lượng này cũng đông đáng kể ở mặt trận Thái Bình Dương. Vấn đề này ngày càng trở nên rõ nét hơn khi Hải quân Mỹ không thể triển khai toàn bộ hạm đội ở bất kỳ vùng nước nào mà không để lại một số quyền lợi quan trọng không được canh phòng. 

Đội quân mạnh nhất thế giới… vẫn chưa đủ

Chỉ có hạm đội khổng lồ thôi là chưa đủ để giành chiến thắng áp đảo trong cuộc xung đột trên biển của thế kỷ 21. Điều quan trọng hơn hết là phải có những loại tàu phù hợp cho từng vai trò cụ thể. Trong nhiều năm qua, công nghệ tiên tiến đã giúp Mỹ di chuyển những hạm đội tàu và máy bay khổng lồ nhằm duy trì thế trận trong suốt Thế chiến II, và hướng tới giảm số lượng tài sản có khả năng thực hiện nhiều vai trò. Các loại tàu như khu trục hạm tên lửa dẫn đường lớp Ships like the Arleigh Burke  cũng như chiến cơ đa nhiệm F-35 Joint Strike Fighter, đã được trang bị phù hợp để phục vụ một số khả năng chiến đấu.

Chính tư duy này đã cho phép Mỹ mở rộng các khả năng của mình trong khi vẫn giảm tối đa yêu cầu nhân sự và chi phí chung để duy trì nhiều tài sản với các vai trò chuyên biệt hơn nhiều. Song đã có những mặt trái trong các nền tảng “đa nhiệm” của Mỹ: chúng làm tăng đáng kể chi phí nghiên cứu và mua lại, đồng nghĩa chi phí tăng buộc phải mua ít lại. Nó cũng buộc những tài sản quân sự vào thế bí khi không thể phát huy hết khả năng mở rộng của chúng.

Vũ khí bí mật của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương -0
Binh nhì Charles Coleman, đang thị sát các ô chứa tên lửa trên một trong hai Hệ thống phóng tên lửa thẳng đứng (VLS) trên tuần dương hạm tên lửa dẫn đường USS Hue City (CG 66). Ảnh nguồn: U.S. Navy.

Hãy xem xét cách Mỹ tăng khả năng chiến đấu khi giảm khối lượng tàu, đó là vào thời kỳ hoàng kim của Thế chiến II, quân đội Mỹ có lượng tàu chiến lên tới 6.768 chiếc và khoảng 300.000 chiến cơ. Trong suốt cuộc chiến tranh Lạnh khi Mỹ mạnh tay chi bạo vào công nghệ quân sự, họ đã mở ra kỷ nguyên đánh giá công nghệ và năng lực theo khối lượng để rồi ngày hôm nay Hải quân Mỹ tự hào có 293 tàu, và duy trì số lượng máy bay quân sự chỉ còn 13.000 chiếc. Những con tàu và máy bay đa năng này đã thực hiện đa nhiệm vụ cần được ưu tiên.

Khả năng này để lại một khiếm khuyết: kém hiệu quả hơn trong tình huống chiến đấu. Khu trục hạm Arleigh Burke là những chiến hạm uy lực mạnh khi được trang bị nhiều loại súng, tên lửa và ngư lôi, nhưng lại chỉ được xếp vào dạng phòng thủ tên lửa đơn giản trong bộ máy phòng thủ tên lửa Aegis. Những con tàu này sẽ gặp khó khi phòng thủ trong cuộc xung đột quy mô lớn. Cựu giám đốc tác chiến hải quân Mỹ, đô đốc John Richardson cảnh báo: “Các BMD (các tàu phòng thủ tên lửa đạn đạo) sẽ rất lúng túng trong những khu vực hoạt động hạn chế”.

Tàu hàng chở theo tên lửa liệu có khả thi?

Một trong những ưu tiên hàng đầu của nước này là phải tìm ra những cách nhằm nhanh chóng mở rộng sự hiện diện quân sự lẫn các khả năng chiến lược ở Thái Bình Dương. Trung Quốc hiện đang dự trữ một kho dự trữ tên lửa đạn đạo khổng lồ (bao gồm cả các tên lửa diệt hạm siêu vượt âm), điều này đồng nghĩa là phòng thủ tên lửa sẽ là một ưu tiên quan trọng đối với các khu trục hạm Aegis của Mỹ.

Không may là nếu mà như vậy thì sẽ làm hạn chế khả năng của hạm đội khu trục hạm Mỹ trong việc tấn công mạnh mẽ hơn khi chúng lượn quanh khu vực chịu trách nhiệm của mình, chờ đợi để đánh chặn bất kỳ tên lửa nào đang bay tới. Đó sẽ là một sự lãng phí đáng kể đối với các khu trục hạm vì sẽ làm hạn chế khả năng của các nhóm chiến đấu khác khi không thể dựa vào sức mạnh tấn công của những chiến hạm này. 

Nói dễ hiểu hơn thì Mỹ cần phải trang bị nhiều thêm các ống phóng tên lửa thẳng đứng (thường gọi là các ô Hệ thống phóng thẳng đứng, viết tắt VLS) ở Thái Bình Dương nhằm tăng cường các hoạt động tấn công và phòng thủ, cũng như có thể lấy chúng càng nhanh, càng rẻ càng tốt. Vừa hay khi đó cũng là lúc ra đời ý tưởng về sà lan tên lửa hoặc tàu tên lửa.

Năm 2019, trong một bài báo công bố trên tờ Kỷ yếu của Viện hải quân Mỹ thì có 5 chuyên gia bao gồm 1 thuyền trưởng hải quân và 1 đại tá Thủy quân lục chiến (cả 2 đều đã nghỉ hưu) đang cung cấp đề xuất của họ về việc nhanh chóng mua sắm và trang bị các tàu hàng phục vụ chiến đấu. Ý tưởng này nói tóm lại thì là “chỉ cần gắn hàng bó tên lửa lên những con tàu và neo xung quanh Thái Bình Dương”, sự khác biệt ở đây là khái niệm những sà lan tên lửa hiện đại này là công nghệ đang có trong thời đại chúng ta.

Từ lâu Mỹ đã sở hữu các nền tảng tên lửa “đóng thùng” có thể đặt thoải mái trên sàn những tàu hàng lớn. Thêm nữa, với các siêu máy tính kết hợp dữ liệu như được trang bị trên chiến cơ F-35 Joint Strike Fighter, người Mỹ cũng đã chứng minh khả năng tấn công mục tiêu bằng các tên lửa mặt đất thông qua dữ liệu nhắm mục tiêu được chuyển tiếp bởi chiến cơ bay gần đó. Nói một cách đơn giản, những hệ thống vũ khí mô-đun sẽ làm việc khi hoạt động ngoài boong tàu hàng, và chúng đã chứng minh rằng vũ khí có thể linh động tấn công các mục tiêu do máy bay xác định… Điều này nói lên rằng khái niệm này sẽ đòi hỏi rất ít phát triển hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng, tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí.

Vũ khí bí mật của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương -0
Từ trái qua phải là tuần dương hạm tên lửa dẫn đường USS Vicksburg (CG 69) và các khu trục hạm tên lửa dẫn đường trong Cuộc tập trận chung Vandel. Ảnh nguồn: U.S. Navy.

Sà lan tên lửa hoạt động ra sao?

Bước đầu tiên để xây dựng một hạm đội sà lan tên lửa sẽ là mua sắm vỏ các tàu chở hàng thương mại, nghe có vẻ là một nỗ lực dễ dàng nếu xảy ra chiến tranh Thái Bình Dương. Ước tính rằng hàng năm, 1/3 tổng số tàu thương mại toàn cầu đều đi qua biển Đông, và nếu xảy ra xung đột Mỹ, Trung thì những chuyến tàu này sẽ bị cắt giảm do sự sụt giảm thương mại giữa 2 siêu cường kinh tế, cùng việc nhận thức mối nguy hiểm khi tàu đi qua vùng biển sẽ là thủy địa chiến lớn nhất trong lịch sử. Kết quả là, việc mua những con tàu này sẽ có mức giảm giá mơ ước.

Nên biết rằng việc mua 1 tàu hàng hai lớp vỏ thương mại mới toanh sẽ khiến Mỹ tốn từ 25 đến 50 triệu USD, nhưng tàu hàng đã qua sử dụng được rao bán trên các trang web như NautiSNP sẽ chỉ phải bỏ ra một ít đô la, một số tàu hàng hiện được rao bán trên thị trường có giá chỉ nhỉnh hơn 1 triệu USD. Một lần nữa, sự sụt giảm đáng kể thương mại xuyên Thái Bình Dương có thể sẽ khiến Mỹ tiết kiệm khối tiền khi hàng loạt công ty sẽ thanh lý tài sản trong khu vực nhằm bù đắp một phần thiệt hại của họ.

Một khi hải quân Mỹ đã mua đủ số tàu cần thiết thì họ sẽ bắt tay vào việc tái trang bị chúng để vận hành như những sà lan tên lửa. Hoạt động này sẽ diễn ra theo 2 cách: 1. Hải quân có thể dùng các tài sản tên lửa và máy bay không người lái (drone) trên tàu, việc này sẽ gây khó khăn trong việc phân biệt các tàu hàng truyền thống với sà lan tên lửa, đồng thời giảm đáng kể thời gian và chi phí trong việc hoán đổi mỗi con tàu.

Mặc dù các tàu được đánh dấu là Hải quân Mỹ và gắn cờ tương tự như tàu thương mại, song việc này cũng đủ gây khó cho Hải quân Trung Quốc khi phải xác định từng tàu một trước khi tấn công, có thể giải thích là do nhiều hệ thống vũ khí lệ thuộc vào radar khẩu độ tổng hợp đảo nghịch đánh giá mục tiêu thông qua cấu hình có độ phân giải thấp. Khoản đầu tư ngoại vi có thể được cắt giảm hơn nữa khi đã có các tài sản cạnh bên như khu trục hạm Aegis dùng để chỉ huy và điều khiển, dựa vào radar chiến hạm, nhắm mục tiêu, và bộ máy chỉ huy… tất cả cùng phát huy ưu thế của “kho đạn nổi”.

Theo cách này, sà lan tên lửa sẽ đóng vai trò bổ sung hiệu quả cho kho vũ khí hiện có của khu trục hạm. Ngược lại các khu trục hạm cũng có thể được sửa đổi để mang theo các ống phóng VLS như đã được triển khai bởi các khu trục hạm tên lửa dẫn đường của Mỹ ngày hôm nay.

Mỗi tàu container có thể được sửa đổi để mang theo một loạt các ống phóng thẳng đứng có trang bị tên lửa Tomahawk trong thời gian từ 3 đến 6 tháng hoạt động. Chi phí chắc chắn sẽ cao hơn, nhưng bù lại sẽ rút ngắn đáng kể hoặc giảm tối đa các chi phí đào tạo nhân lực và hậu cần liên quan đến việc trang bị một hệ thống vũ khí khác.

Điều cốt yếu là hải quân Mỹ cần phải xem xét xem họ cần bao nhiêu sà lan tên lửa, và mỗi sà lan cần phải trang bị bao nhiêu tên lửa. Có ý kiến cho là sẽ đặt cả trăm ống phóng VLS liên kết với tên lửa trên một trong các sà lan, nhưng việc này lại đội chi phí và dễ trở thành mục tiêu của Trung Quốc. Và một đề xuất đáng lưu ý là có thể chuyển đổi 10 đến 15 tàu hàng thành các sà lan tên lửa, mỗi sà lan chở theo từ 30 đến 50 tên lửa Tomahawk, điều này sẽ hạn chế tổn thất nếu có sà lan bị hư hại, trong khi đó vẫn đủ hỏa lực nhằm đảm bảo lợi thế cho chiến lược tổng thể của hải quân.

Vũ khí bí mật của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương -0
Hải quân Mỹ rất quan tâm đến việc cải tạo các tàu hàng thành các sà lan tên lửa. Ảnh minh họa: Zeymarine .

Các sà lan tên lửa liệu có thực tế?

Khi hải quân Mỹ nhanh chóng mua và sửa đổi tàu hàng thành sà lan tên lửa, họ cũng cấp tốc đào tạo nhân lực cho những con tàu này (áp dụng chiêu mộ tân binh như kiểu hải quân truyền thống xem ra không khả thi). Thuyền trưởng Chris Rawley đề xuất một mô hình thủy thủ đoàn lai nghe có vẻ hợp lý hơn cả. Theo đó, mỗi sà lan tên lửa sẽ có một thủy thủ đoàn gồm cả quan chức hải quân và thủy thủ dân sự có nhiều kinh nghiệm trong vận hành các tàu thương mại.

Bằng cách tuyển dụng từ khối tư nhân, hải quân Mỹ có thể nhanh chóng điều những tàu này cùng với thủy thủ đoàn đã qua đào tạo phù hợp với nhiệm vụ mà họ được giao, trong khi đó đặt các sĩ quan hải quân vào nhiệm vụ chỉ huy và cùng các vai trò chiến đấu khác. Bằng cách sử dụng yếu tố chỉ huy quân sự, việc vận hành sà lan tên lửa trong chiến tranh với thủy thủ đoàn gồm một phần dân thường sẽ vẫn được xem là hợp pháp theo luật quốc tế. Thực vậy, mô hình này đã thật sự dùng cho bến tàu vận tải đổ bộ USS Ponce gần đây đã ngừng hoạt động.

Những sà lan tên lửa dạng này có số lượng thủy thủ đoàn vào khoảng 30 người (một nửa là sĩ quan hải quân, nửa còn lại là thường dân). Chúng cũng chở theo hàng hóa được niêm phong trong thân tàu, giúp con tàu sống sót nếu một khi bị tấn công. Hải quân Mỹ đã dành ngân sách tương đương 400 triệu USD trong niên khóa 2020 để phát triển ra 2 tàu nổi mặt nước cỡ lớn không người lái. Chiếc tàu nổi không người lái hạng trung (MDUSV) có biệt danh “Thợ săn biển” đã thật sự chạy giữa 2 thành phố San Diego và Hawaii trong thời gian gần đây.

Hiện tại hải quân Mỹ đã đầu tư chế tạo những thiết bị drone kiểu mới như Kratos Valkyrie, nôm na là drone giám sát tầm thấp, nó chở theo 2 trái bom đường kính nhỏ dùng để không kích, mỗi chiếc drone này có giá thành vài triệu USD. Tương tự mỗi sà lan tên lửa sẽ có giá thành vài triệu USD, mức giá này nghe có vẻ hợp lý hơn nếu so với 13 tỷ USD của gã khổng lồ USS Gerald R. Ford.

Nếu Mỹ và Trung Quốc cứ tiếp tục cọ xát dẫn đến va chạm thì đến một lúc bộ máy quốc phòng Mỹ buộc phải ngắt một khoản trong ngân sách quốc phòng để đầu tư sà lan tên lửa. Nếu ngày đó đến, sà lan tên lửa có thể đại diện cho một trong những hệ số nhân lực hiệu quả nhất mà Mỹ có thể tận dụng.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.