Báo cáo của Công ty Vodafone lớn hàng thứ hai trên thế giới cho thấy kiểu "truy nhập trực tiếp" các mạng viễn thông mà Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA) sử dụng cũng xảy ra tại các quốc gia khác, những nơi mà hệ thống bảo vệ luật pháp khá yếu kém.
Theo người phát ngôn của Vodafone, giọng nói, Internet và các dữ liệu khác có thể bị cơ quan tình báo của một số ít các quốc gia bí mật thu thập mà không có sự cho phép của tòa án. Mặc dù không chính thức nêu tên quốc gia nào, song báo cáo của Vodafone cũng ám chỉ một quốc gia là Anh với Cơ quan Tình báo tín hiệu GCHQ - đối tác thân thiết nhất của NSA trong hoạt động giám sát xa lộ thông tin Internet trên toàn thế giới.
Peter Eckersley, Giám đốc các dự án cho Tổ chức Ranh giới điện tử (EFF) đặt trụ sở tại San Francisco (Mỹ), bình luận: "Điều này nhắc nhở chúng ta rằng mọi biện pháp sửa đổi luật pháp ở Mỹ cũng không giải quyết được vấn đề nếu như không có một giải pháp quốc tế".
Báo cáo dài 40.000 từ của Vodafone bao gồm một phụ lục dài 88 trang nêu chi tiết về các điều luật cùng với những trải nghiệm ở 29 quốc gia - những nơi mà các cơ quan chính quyền yêu cầu công ty viễn thông này cung cấp hàng triệu dữ liệu. Các nhà hoạt động bảo vệ quyền riêng tư công dân gọi những gì mà Vodafone công bố là "kịch bản ác mộng".
Ở một số quốc gia - như Albania, Ai Cập, Hungary, Ấn Độ, Malta, Qatar, Romania, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ - luật pháp ngăn cấm hành vi tiết lộ bất cứ thông tin nào liên quan đến hoạt động nghe lén hay chặn bắt tín hiệu điện tử của chính quyền.
Do đó, báo cáo của Vodafone nêu rõ: "Từ chối tuân thủ luật pháp của một quốc gia không là lựa chọn sáng suốt. Nếu chúng ta không tuân thủ yêu cầu trợ giúp theo luật định, các chính quyền có thể thu hồi giấy phép hoạt động và ngăn chặn không cho chúng ta cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Đội ngũ nhân viên của chúng ta sống và làm việc trong quốc gia liên quan có thể gặp nguy cơ bị trừng phạt, kể cả ngồi tù".
Các nhà hoạt động bảo vệ quyền riêng tư đánh giá cao Vodafone vì đã công bố báo cáo thấu đáo như thế, song họ cũng bày tỏ sự bất an trước những tiết lộ về "hành vi truy nhập trực tiếp" cho phép các chính quyền thu thập bất cứ dữ liệu giao tiếp nào mà không hề có lệnh tòa án hay yêu cầu chính thức đối với công ty viễn thông. Các chính quyền sử dụng biện pháp truy nhập như thế để thu thập hàng loạt thông tin cá nhân - những cuộc gọi, email, video chat, lịch sử tìm kiếm và các danh bạ trực tuyến - mà không hề chịu bất cứ sự giám sát độc lập nào.
Các chính quyền tiến hành thu thập dữ liệu cá nhân từ ít nhất 20 năm nay, khi Mỹ và các quốc gia khác bắt đầu thông qua luật đòi hỏi khả năng giám sát mạnh mẽ phải được xây dựng trực tiếp trong các công nghệ mũi nhọn, như là mạng di động và hệ thống điện thoại Internet. Loại yêu cầu này càng trở nên cấp bách hơn sau vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, khi mà các cơ quan tình báo cố sức ngăn chặn bi kịch tương tự xảy ra lần nữa.
Báo cáo của Vodafone phân biệt rõ giữa hoạt động thu thập nội dung và siêu dữ liệu (chỉ tiết lộ ai giao tiếp với ai và loại hệ thống giao tiếp được sử dụng). Siêu dữ liệu được cho là có ích hơn để thiết lập mối quan hệ giữa các mục tiêu chịu sự giám sát từ phía chính quyền.
Ở Cộng hòa Czech, chính quyền yêu cầu Vodafone chuyển giao nội dung các cuộc nói chuyện đến 7.677 lần trong suốt 12 tháng, từ tháng 4/2013 đến tháng 3/2014. Hungary thu thập siêu dữ liệu 75.938 lần. Chính quyền Italia, do nhu cầu điều tra tội phạm có tổ chức, yêu cầu Vodafone cung cấp siêu dữ liệu 605.601 lần. Tanzania - một trong vài quốc gia châu Phi có mạng lưới hoạt động của Vodafone - đòi hỏi 99.000 siêu dữ liệu từ Vodafone.
Năm 2013, tờ Guardian của Anh tiết lộ, chương trình gián điệp Tempora của GCHQ trong đó Cơ quan Tình báo Anh mắc nối với hệ thống cáp quang ngầm để giám sát Internet - loại "truy nhập trực tiếp" mà báo cáo của Vodafone nhấn mạnh cần chấm dứt.
Các công ty công nghệ ở Mỹ như Google, Microsoft, Yahoo và Facebook đã có những biện pháp mã hóa dữ liệu mới nhằm ngăn chặn mọi hoạt động gián điệp từ chính quyền cũng như để bảo vệ uy tín của họ với khách hàng. Các công ty dịch vụ viễn thông lớn như Verizon và AT &T cũng có những biện pháp tương tự.
Verizon báo cáo, công ty này nhận được 320.000 yêu cầu cung cấp dữ liệu ở Mỹ vào năm 2013 và vài ngàn yêu cầu như thế được đề ra tại 11 quốc gia khác. Còn AT &T đưa ra con số hơn 300.000 yêu cầu. Từ lâu, mối quan hệ gắn bó giữa NSA, Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) và các công ty viễn thông lớn được coi là hết sức khó chịu đối với giới hoạt động bảo vệ quyền riêng tư