Vị lão tướng và bài học lòng dân Tây Bắc

Thuở ông còn, có dịp chúng tôi lại đến thăm ông, một vị tướng dày dạn kinh nghiệm trên trận tuyến bảo vệ an ninh Tổ quốc. Mỗi lần gặp gỡ là mỗi lần chúng tôi nhận ra ông vẫn vẹn nguyên nhiệt tình cách mạng. Ông luôn quan tâm và trăn trở với nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự trị an...

Được dự lễ đón nhận Huân chương Sao vàng do Đảng và Nhà nước trao tặng ông (tháng 5/2007), tôi vẫn nhớ sau khi gắn huân chương cao quý nhất lên ngực áo vị lão thành cách mạng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trân trọng phát biểu: “Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí Trần Quyết cũng phấn đấu hết mình vì mục tiêu, lí tưởng cao cả của Đảng là đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Đồng chí luôn là tấm gương sáng về đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

Trung tướng Trần Quyết là một vị tướng nổi tiếng của miền biên ải Tây Bắc, nơi ông đã có mặt từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Căn duyên để Trung tướng Trần Quyết gắn bó với Tây Bắc, bắt nguồn từ chủ trương trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau Cách mạng Tháng Tám không lâu, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã xác định phải tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến, do thực dân Pháp ngày càng bộc lộ dã tâm cướp nước ta một lần nữa. Trong số các cán bộ được điều động đi xây dựng căn cứ địa kháng chiến, ông Trần Quyết được Trung ương chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh Sơn La; rồi Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Giám đốc Công an khu Tây Bắc…

Thuở ấy, Tây Bắc còn xa xôi, cách trở và hoang vắng; trình độ cán bộ và dân trí rất thấp. Một câu chuyện đầy ý nghĩa từng được đồng chí Trần Quyết kể lại: Thời kì đầu lên Sơn La, trong một lần tiếp xúc với người dân xã Hiếu Trai (vùng tả ngạn Mường La), tôi hỏi: “Cán bộ Việt Minh có tốt không? Bà con có thích cán bộ không?”. Bà con đều nói: “Cán bộ Việt Minh rất tốt, nó không như Phìa, Tạo ngày xưa”. Hầu hết người dân đều khẳng định, họ rất yêu quý cán bộ Việt Minh... Tôi lại hỏi: “Thế Pháp nó về lùng bắt cán bộ, bà con có chỉ cho Pháp không?”. Họ hồn nhiên trả lời: “Có chứ. Có chỉ chứ!”.

Thực trạng đó cho thấy, đồng bào Tây Bắc rất tốt, nhưng trình độ nhận thức, sự giác ngộ về chính trị ngày ấy còn quá thấp. Bao đêm trăn trở, ông nhận định, việc quan trọng nhất là công tác cán bộ và tăng cường giáo dục, giác ngộ quần chúng. Ông bèn họp cán bộ tỉnh (lúc ấy có rất ít người), kêu gọi anh em đoàn kết, chung sức đồng lòng xây dựng phong trào cách mạng; đồng thời tập trung mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ, đặc biệt chú trọng đào tạo cán bộ tại địa phương.

Trung tướng Trần Quyết nhớ lại: “Tôi trực tiếp giảng bài cho anh em 15 ngày về chương trình Việt Minh và các bước công tác trong việc tuyên truyền tổ chức các đoàn thể cứu quốc. Độ hai ba tháng sau, tôi lại triệu tập số cán bộ khác, huấn luyện về chủ nghĩa cộng sản sơ giải  để nâng cao trình độ cho anh em...  Thực ra lúc bấy giờ cũng chẳng có chương trình huấn luyện nào sẵn có. Tôi phải sử dụng vốn hiểu biết mà các anh trong tù đã trau dồi cho tôi khi ở căng (trại) Bá Vân, cộng với sự suy nghĩ của mình, để soạn thảo ra chương trình huấn luyện phù hợp với trình độ cán bộ và tình hình thực tế địa phương”. Nhờ những lớp huấn luyện này mà trình độ cán bộ và giác ngộ của nhân dân các dân tộc Sơn La được nâng lên rõ rệt, bà con luôn một lòng một dạ theo cách mạng, bảo vệ cán bộ Việt Minh.

Một bài học rất cụ thể vẫn được ông Trần Quyết kể lại: Cụ Sa Văn Minh là Tri châu Mộc Châu rất có uy tín với đồng bào Mông. Khi cụ đi sơ tán ở Tuyên Quang, địch tung tin: “Việt Minh đã giết cụ Sa rồi”, khiến đồng bào Mông rất ngờ vực. Chúng tôi bèn đón cụ Sa Văn Minh từ Tuyên Quang về Sơn La và tổ chức họp mặt các đại diện người Mông. Gặp lại cụ Sa, bà con người Mông rất vui mừng, có người còn đến gần, sờ tay vào mặt cụ để tin rằng cụ còn sống thật. Có người thốt lên: “Pháp nói Việt Minh đã bắn chết Bố rồi. Nay gặp Bố khỏe mạnh, chúng con mừng lắm”. Cụ Sa Văn Minh giải thích: “Bố đi theo Chính phủ, được Chính phủ chu cấp, nuôi nấng đầy đủ. Bố về thăm các con, muốn lên thăm bản xã của các con, có được không?”... Khi đi thăm bà con, cụ Sa Văn Minh nói cho dân biết tội ác của thằng Tây, kêu gọi bà con ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Việt Minh. Từ đây, con cháu của cụ Sa Văn Minh và hầu hết người dân đều ủng hộ cách mạng; thông qua đó, Việt Minh nắm được cả huyện Mộc Châu.

Trung tướng Trần Quyết lúc sinh thời.
Trung tướng Trần Quyết lúc sinh thời.

Là người được giao trọng trách bảo vệ trật tự trị an vùng Tây Bắc, ông Trần Quyết đã dành thời gian tìm hiểu, nắm rõ đặc điểm tình hình các dân tộc tỉnh Sơn La nói riêng và Tây Bắc nói chung. Vùng đồng bào Thái có chế độ Phìa, Tạo là tầng lớp trên quản lí toàn bộ ruộng đất và núi rừng. Người dân hầu như không có tư liệu sản xuất gì; phải làm công quả, phục dịch cho các gia đình Phìa, Tạo, gần giống như nô lệ. Trong khi đó, vùng đồng bào Mông có chế độ Thống lý, Chống quán; vùng đồng bào Dao có chế độ Quản Mán... Họ đều thuộc tầng lớp cai trị, có nhiều đặc quyền đặc lợi, ra sức bóc lột người dân. Thực dân Pháp đã triệt để thực hiện “chia để trị”, nắm lấy tầng lớp trên để thống trị, cai quản các vùng đất và cư dân.

Nắm vững đường lối đại đoàn kết, ông Trần Quyết đã kiên trì phương châm “Dựa vào quần chúng cơ bản, tranh thủ tầng lớp trên” để vận động nhân dân tích cực ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Do vậy, ngoài huyện Mộc Châu đã tranh thủ được cụ Sa Văn Minh; tại huyện Mai Sơn, cán bộ đã tranh thủ được cụ Cầm Văn Vinh, Tri châu và cụ Sa Văn Bun, Bang tá. Các cụ và con cháu trong gia đình đều đi theo kháng chiến, làm cán bộ. Ở huyện Phù Yên, Việt Minh cũng tranh thủ được cụ Cầm Văn Nò, là Châu úy, nên cũng giành được sự ủng hộ trong toàn huyện. Nhờ nắm vững quan điểm, đường lối và chính sách đại đoàn kết dân tộc và trường kỳ kháng chiến, ông Trần Quyết và đội ngũ cán bộ Sơn La thời kì này đã “thu phục nhân tâm” của bà con các dân tộc. Được sự ủng hộ của nhân dân, công cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Sơn La nói riêng và Tây Bắc nói chung đã thu được nhiều kết quả, góp phần đi đến thắng lợi Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Cuộc đời Tướng Trần Quyết gắn liền với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, với những chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp để tiến tới Điện Biên Phủ. Ông cũng là một vị chỉ huy nổi tiếng trong những chiến dịch tiễu phỉ, cùng các “trò chơi nghiệp vụ” câu nhử, truy bắt các toán gián điệp, biệt kích Mỹ ngụy. Nếu như trong cổ sử Trung Quốc có tích “Khổng Minh thất cầm Mạnh Hoạch”, thì ông Trần Quyết cũng không ít lần bắt - tha những thủ lĩnh người dân tộc có tội ác với cách mạng, với nhân dân; để hoàn toàn thu phục họ. Nông Văn Kiểm là một tướng phỉ, bị ta bắt đưa đi quản huấn. Lớp quản huấn sắp kết thúc, ông đến gặp và hỏi Kiểm: “Có gì anh cứ nói thật”. Kiểm thành thực: “Nếu tôi không bị hỏng điện đài thì Pháp đã cho máy bay trực thăng đón tôi đi rồi, giờ chẳng còn phải ở đây”.

Rồi Kiểm tỏ ra thành khẩn: “Lúc đầu tôi rất oán hận các ông, vì các ông đã bắt tôi lên đây nghe giảng, lại còn bắt đi lao động. Nhưng sau tôi rất phục các ông. Trước kia, lúc còn ở với Pháp, bọn châu tổng đoàn bị tôi đánh cho như két, mà chúng vẫn cứ gây lộn, đánh chửi nhau. Nay các ông coi giữ  chúng tôi, chỉ có mấy ông cán bộ mà kỉ luật đâu ra đấy. Các ông không sỉ nhục mà lấy chính nghĩa, lẽ phải để làm cho chúng tôi phải cảm phục”.

Thấy Nông Văn Kiểm hối lỗi, ông hỏi: “Hết lớp học, tôi tha anh về Phong Thổ, anh có dám gây phỉ, nổi loạn chống lại chúng tôi không? Nếu cần, tôi cấp cho anh 400 khẩu súng, liệu anh chống được chúng tôi bao lâu?”. Tiếp đó, ông phân tích rõ tình hình ta - địch, vạch rõ cả các đường tiến quân, bao vây của ta... Trước bản lĩnh và uy lực của người cán bộ cách mạng dày dạn kinh nghiệm Trần Quyết, Nông Văn Kiểm xin theo Chính phủ. Những lời sám hối của Kiểm rất chân thành: “Tội tôi đáng bị giết. Các ông đã khoan hồng, dạy bảo, cho về gia đình. Tôi không dám làm phản”. Từ đó, Nông Văn Kiểm được ông Trần Quyết cho trở lại đất Phong Thổ và giao nhiệm vụ “nếu có bọn nào muốn nổi loạn, gây phỉ, thì phải báo cáo ngay”. Quả nhiên sau này, Nông Văn Kiểm hoàn toàn cải tà quy chính, trở thành ủy viên Mặt trận Tổ quốc địa phương.

Cũng thuộc tầng lớp Phìa, Tạo, Đèo Văn Ngảnh là Phó tỉnh trưởng Phong Thổ, tay sai đắc lực của thực dân Pháp. Xét thấy Ngảnh là người rất có uy tín trong châu tổng đoàn ở Phong Thổ, ông Trần Quyết đã thu phục Ngảnh bằng biện pháp mềm dẻo. Tại khu Công an, một căn nhà khang trang được dựng lên cho Đèo Văn Ngảnh sinh hoạt - thay vì bị bắt giam. Hằng ngày, Ngảnh được ăn uống, sinh hoạt khá phong lưu; được đọc sách, báo, thi thoảng còn được xem chiếu phim. Một thời gian sau, Đèo Văn Ngảnh bộc bạch với ông Trần Quyết: “Tôi đã làm phó tỉnh trưởng, gây phỉ, chống lại các ông. Nay các ông không bắt bỏ tù, nhưng cũng chưa thể tin tôi. Thế là phải, vì tôi đã theo Pháp, theo Quốc dân đảng. Tôi hiểu ra và biết mình đã lầm. Tôi rất tiếc được gặp các ông khi quá muộn”... Sau hai năm được an trí, Đèo Văn Ngảnh trở về địa phương và sống một cuộc đời bình an, không làm gì có hại cho cách mạng.

Nắm vững đường lối đại đoàn kết dân tộc có được lòng dân, Trung tướng Trần Quyết và nhiều thế hệ cán bộ Công an đã góp phần giữ vững bình yên và xây dựng Tây Bắc ngày càng giàu đẹp

Trần Duy Hiển

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.