Hắn đi đò ngang về làng.
Sông cả, đò nhỏ, sóng to vỗ oằm oặp. Khách chỉ có mấy người: hai bà đi chợ Bút, một thằng ăn mày môi thâm và hắn khoác tay nải. Đói, hắn lấy cơm nắm ra ăn. Hai bà đi chợ bẻ bánh đúc chấm mắm tôm túm trong lá mùng. Thằng oắt con ăn mày, ngửa tay xin ăn. Một bà đi chợ bớt miếng ăn cuối cùng đưa cho. Chỉ nhoáng, miếng bánh đúc đã lóm vào miệng thằng ăn mày. Bà kia cũng móc hai củ khoai sống cho. Thằng oắt con quay sang chìa tay xin hắn. Hắn nhận ra thằng ăn mày đã nhẵn mặt ở làng. "Tiên sư mày! - Hắn chửi thầm - Không bữa nào sót nhà ông. Chẳng có gì khó chịu bằng cứ bữa bữa lại có thằng bé mặc áo đụp đến đứng ở cửa ngửa tay vào mâm cơm". Hắn ghét. Thằng ăn mày môi thâm vẫn nhẫn nhục chìa tay. Lại có loại người hèn thế! Hắn bẻ một miếng cơm: "Há miệng ra tao bỏ vào cho". Thằng bé há miệng, nhìn thấy cả lưỡi và hàm răng dưới. Hắn lõm miếng cơm vào miệng mình. Thằng bé tưng hửng nhìn, nuốt nước bọt đánh ực. Hắn lại bẻ miếng cơm khác:"Lần này há thật to". Thằng bé ngoác miệng rộng đến mức trông thấy cả lưỡi gà trong cổ họng. Nhưng, khốn nạn quá! Thay vì bỏ vào miệng thằng bé ăn mày, hắn lại lõm vào miệng mình. Hắn cứ dư dứ như thế, như thế.
Bốp! Một cái tát bất ngờ không biết là của ai. Mắt hắn hoa cà hoa cải, tai ù đi... Và hắn nghe có tiếng loáng thoáng: "Miếng ăn sao nhục thế!".
Hóa ra là hắn mơ. Giấc mơ đến từ quá khứ khi hắn nhận ra người chèo đò là tay Côn môi thâm. Giấc mơ đã thượng phong cho hắn thành người bố thí, chứ thực ra, ngoài đời, trong quá khứ hắn là đứa bé ăn mày, mồ côi bố mẹ, vừa làm lụng vừa đi xin ăn nuôi em. Mấy chục năm đã trôi qua rồi. Thực chất, câu chuyện ngày ấy đã diễn ra thế này:
Thày mẹ thằng Côn môi thâm là ông hội Cống, năm cải cách bị quy là địa chủ, đấu tố ở sân đình Tây. Sau này, được trả lại hết tài sản nhưng nhà ông ta vẫn ấm ức và nuôi phẫn uất mãi trong lòng. Khắp nơi đều tổ chức làm ăn tập thể, hội Cống chẳng muốn cũng phải dằn lòng góp trâu, góp ruộng, góp đò vào hợp tác xã. Nhà ông ta nhận việc chở đò ngang, thu tiền đóng công điểm. Một hôm, vợ chồng hội Cống ở ngoài bến chèo đò. Thằng Côn ở nhà một mình đói quá không chờ bố mẹ, vào bếp cời tro xúc cơm ra ăn trước. Đúng lúc hắn bưng cái bát chiết yêu mẻ thấp thoáng ở cổng. Chó Vện nhà thằng Côn chạy sủa ông ổng. Hắn sợ, vừa xùy chó vừa len lét đi vào. Mọi hôm hắn vẫn thế. Lúc ấy, tự nhiên một ý nghĩ ranh mãnh loé lên trong đầu thằng Côn. Nó bày ra một trò nghịch khốn nạn. Côn xúc một bát cơm đổ lên cái mo cau vẫn thường đựng cơm hớt trên nồi. Gọi là cơm hớt vì chẳng may vung nồi kệch, gio bếp rơi vào hoặc ám khói không ăn được mới để phần con Vện. Côn buộc sợi dây vào mo cau đựng cơm hớt đặt ở gần cửa và bưng bát cơm đến vại sành gắp cà. Côn quát. Con Vện thôi sủa, lẵng nhẵng đi theo hắn. Hắn đứng trước cửa, mắt dán vào mo cau cơm hớt. Con Vện nhìn hắn bằng đôi mắt vừa cảnh giác vừa ghen tỵ và sẵn sàng lao vào mo cau cơm. Thằng Côn bảo: "Bần. Sao mày còn đứng đấy. Bốc cơm vào bát đi". Hắn cúi lưng đặt bát chiết yêu xuống giơ tay bốc. Nhưng sợi dây đã kéo mo cơm lui một đoạn. Hắn cầm bát đứng lên, bước một bước lại đặt bát chiết yêu xuống định bốc cơm. Mo cau cơm lại bị kéo xa một bước. Cứ thế, miếng ăn biến hoá, mờ đi, hiện ra, dư dứ trước mặt hắn.
Choang... Bát chiết yêu mẻ vỡ tan, mảnh tung ra nền bếp. Mặt hắn tím ngắt và đôi mắt vằn đỏ: "Tiên sư thằng con cháu địa chủ, ác vừa vừa thôi". Thằng Côn chửi lại: "Tiên nhân thằng con nhà mõ". Cổ họng hắn nghẹn tắc: "Từ nay, chết đói tao... tao cũng không thèm". "Mày nhớ nhá" - Thằng Côn nhơn nhơn cái mặt. "Nhớ. Cả em tao nữa. Chết đói cũng đ. vào xin... xin nhà mày". Rồi hắn khóc: "Côn ơi! Tao với mày cũng bằng tuổi nhau. Sàn sàn trứng gà trứng vịt như nhau. Sao mày ác thế". Nước mắt chảy thành vệt trên má, hắn ngồi xuống nền nhà vừa khóc vừa nhặt từng mảnh bát chiết yêu vỡ. Tự nhiên lúc đó thằng Côn môi thâm cụp mặt xuống. Thỉnh thoảng nó vẫn kéo mo cau cơm hớt trêu chọc chú Vện con. Không biết sao, hôm đó nó nhớ ra và chơi trò kéo dây nhử mồi. Dường như thằng Côn cũng thấy mình quá đáng và động lòng, nói lý nhí: "Tao... tao không cố ý. Thật mà"...
Thời gian trôi đi. Sợi dây buộc mo cơm kéo lết ở nhà thằng Côn cứ ám ảnh hắn mãi. Cho đến một hôm hắn rời làng ra đi.
Chiều hôm đó, mặt sông đầy sóng. Sóng lớp lớp đuổi theo đò. Hoàng hôn đang lịm dần ở phía đầu nguồn sông Cái. "Tối đến nơi rồi. Nhà Bần đi đâu thế?" - Lão hội Cống vừa múc nước trong đò đổ ra sông vừa hỏi. "Mẹ cái loại địa chủ cường hào đã bị đánh đổ. Bây giờ thất thế mới ra vẻ tử tế. Cứ như hơn ba mươi năm trước xem. Chúng mày chả trèo lên đầu lên cổ nhà tao". Hắn rủa thầm trong bụng thế. Thằng Côn môi thâm bảo: "Nhà Bần bỏ làng đi làm giàu đấy, thày ạ". Hắn lại chửi thầm: "Mẹ cái loại con cháu địa chủ". Côn quay sang nói với hắn: "Mong sao mày đi chín về mười, giàu có nhất làng". Nó chúc đểu hay thách đố mình đây? Hắn nhìn thẳng vào mặt Côn, nói to, giọng chắc nịch: "Tao thề: Không giàu, tao không về cái làng này". "Mày sẽ về vào ngày này, tháng này chứ. Tao chờ và sẽ chở đò rước mày về, Bần ạ".
Chuyến đò ấy xảy ra đúng giờ này, ngày này, tháng này...
Côn chống sào. Đò cập bến. "Trần gian biến cải. Hà...à. - Hắn giả vờ thở dài - Ai mà biết được lại có ngày gặp anh Côn môi thâm chèo đò đưa tôi qua sông". "Bỉ nhau làm gì nữa. Anh Bần nhìn kìa - Côn chỉ tay về phía thượng lưu - Người ta đang đổ mố cầu. Cũng may là anh về còn sớm, chứ để năm sau - Côn ngẫm ngợi một chút rồi nói tiếp - người ta bắc cầu xong, anh có muốn tôi hầu đò cũng đành chịu". Hắn bảo: "Tôi cũng không ngờ anh vẫn chèo đò, đò rách lắm rồi, anh Côn ạ". "Anh Bần nhầm. Đúng giờ này, ngày này, tháng này... hàng năm tôi chờ anh...".
*
Hắn về nhà một lúc, đang loanh quanh ở vườn thì lão Viện cầm chìa khóa sang. Lão Viện đứng hàng chú, người thấp, chắc, nước da bánh mật, râu tóc lốm đốm bạc. Đôi mắt sâu hõm dưới đôi mày rậm cũng lốm đốm bạc. Lão khóc ông ổng từ ngoài ngõ khóc vào. Tiếng khóc của người già nghe rất thương. Lão khóc vì cháu lão đã về, khóc vì sự sung sướng, khóc vì sự thỏa mãn. Bởi Bần mới về có một lúc mà tin đã loang khắp làng Yên Hạ, người ta đồn hắn rất giàu. Lão Viện chưa biết thực hư thế nào nhưng thế là được thơm lây rồi. Nỗi vui mừng hiện rõ trên gương mặt nhàu nhò đầy các đường rãnh dọc ngang của lão. Chuyện trò một lúc, lão Viện bảo:
- Anh về, tôi mừng. Tưởng bỏ xác ở xứ người. Thế ra phúc họ Trần to lắm.
Bần thưa, giọng đầy tự tin và kiêu hãnh:
- Chú cứ nói thế. Chết chết thế nào được.
- Mười năm xa quê, anh về có nhận ra cái làng đã chôn nhúm rau anh không?
- Thưa chú, quả thật cháu hơi ngỡ ngàng. Cứ như không phải làng mình nữa.
Lão Viện bảo:
- Tôi là tôi thấy cứ lộn tùng phèo. Mừng là làng đã nhiều nhà mái bằng, mái chóp xi măng cốt thép. Dân bây giờ sướng nhiều, không như thuở trước ăn toàn bo bo. Khốn nạn! Được ăn bo bo còn là may, chứ có vụ giáp hạt nhai rau má bụng cứ sôi ong õng. Đi ngoài cứt xanh lè. Chó đến ngửi lại bỏ chứ không thèm ăn. Nghĩ mà phát khiếp. Nhưng cũng còn nhiều nhà một năm đói vài tháng, phải đi làm thuê. Dạo trước nghèo thì cả làng nghèo, bây giờ người nghèo vẫn nghèo mà người giàu thì quá giàu. Chênh lệch giàu nghèo kinh khủng!
Chuyện đang sôi thì thằng Đại Phú về. Nó rồ ga xe máy 125 phân khối vào sân rồi bóp phanh dầu, xe dừng đánh khự một cái ngay trước thềm. Lão Viện lườm, chửi té tát:
- Tiên nhân anh. Trông cứ như thằng du côn.
- Chú chỉ được cái... khó tính. Con chưa chào anh con được một câu, chú đã phủ đầu. Chú làm ơn để chúng con hàn huyên một chập rồi chú nọc ra đét đít. Con xin chịu hết.
Lão Viện bảo:
- Anh Bần xem thằng em trời đánh của anh thế đấy. Các cụ bảo: Sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì. Tôi bảo cấm có nghe.
- Chú cứ lói thế... Con đâu dám ạ. Chú cứ hay sinh sự.
- Anh đừng tưởng giàu có mà khinh chú nghèo nhá. Thằng địa chủ hội Cống ngày trước, tôi còn chẳng sợ nữa là cái đồ trẻ ranh như anh.
- Thôi. Cháu xin chú - Hắn quay sang nói với em - Mày không được nói nữa. Xin chú đi.
- Vơ... ơng! Thì con xin.
Lão Viện khinh khỉnh, nguýt rồi quay mặt ra chỗ khác. Bần bảo:
- Gớm, mày cao to, rắn rỏi. Thật tình gặp ngoài đường tao chẳng nhận ra.
- Còn anh... già quá. Nông nỗi nào mà khổ thế hả anh?
- Thì mày tính, tao còn trẻ gì nữa. Lại làm ăn lấm mặt lấm mũi.
Trong khi lão Viện đang rau rãu cái giọng chê bai thằng cháu ngông nghênh thì Đại Phú đã rút máy di động ra bấm số gọi quán thịt chó Cầy Tơ của lão Đấu. Đại Phú dấm dẳng nói, cười với giọng con gái eo ẽo ở đầu dây đằng kia. Bần tròn xoe mắt ngạc nhiên hỏi:
- Này chú mày. Làng này được bao nhiêu người như mày?
- Cũng vài ba.
*
Tính lão Viện rất gàn. Đại Phú ăn mừng trang trại trúng lớn vụ sen, mời gãy đũa vỡ bát lão mới đến. Lão bảo: "Nhà này đếch phải loại người thấy miếng ăn thì tối mắt lại. Đây đi ăn cho được lòng chúng nó nhá". Và lão đi thật. Đại Phú đưa lão đi quán đặc sản Đồng Quê ở phố làng. Tưởng quý chú, chu đáo với chú, để chú ít nhất một lần được làm người có kẻ hầu người hạ, làm người sang trọng, nhưng xong bữa về chú mắng Đại Phú như tát nước:
- Anh là cái đồ trưởng giả học làm sang.
- Thưa chú...ú.
- Ti toe. Anh tưởng mới nổi lên là có quyền khoe của hả.
- Chú... ú - Đại Phú rất bất ngờ và ngạc nhiên - Cả đời đi hầu hạ người ta thì cũng phải có lúc mình làm ông chủ để người ta hầu hạ mình chứ ạ.
- Tôi không phải là địa chủ hội Cống ngày xưa. Anh vung tay quá trán, thừa tiền ném qua cửa sổ cho thiên hạ dùng. Tôi thèm vào cái ông chủ của anh nhá...
Ông chủ trang trại Đại Phú mới nổi lên trong thời cơ chế thị trường ra sức thanh minh cho ý nghĩ và việc làm của mình:
- Thưa chú... ú. Cả đời chú vất vả. Con muốn chú được ăn ngon một bữa chứ có ý gì đâu ạ.
- Tôi chả thấy ngon gì sất. Tưởng là nem công chả phượng, chứ cái đặc sản anh mời tôi không bằng món mắm tôm, lòng lợn tiết canh tự làm lấy. Nói cho anh biết nhá, nể anh, nể cái chỗ sang trọng của người ta chứ không thì tôi đấm thèm vào. Ngon gì mà ngon. Đặc sản gì mà đặc sản. Cua hả? Ba ba hả? Chuối xanh hả? ếch đồng hả? Cái thứ ấy tôi ăn từ thời hòn dái mới bằng hạt kê cơ, tôi ăn hơn bảy mươi năm nay đã chán, anh còn bắt tôi ăn nữa. Lại còn cơm niêu nữa. Giời ơi là giời! Tôi và bố anh ăn chán chê rồi, ăn từ trước cái năm đói Ất Dậu - 1945 ấy cơ. Khốn nạn! Cơm niêu đất là của con nhà nghèo, con nhà bần cố, con nhà mõ, anh biết không?
- Chú lạc hậu quá?
- Lạc hậu cái tiên sư anh? Chê tôi hả? Các anh chỉ học đòi cái thói thị thành thôi. Cứ ra chuyện ta đây, bấm điện thoại di động tít mù, lại bắt mấy con mắt xanh mỏ đỏ gọi ông lão bảy mươi là cưng. Cưng... cưng cái mả bố anh.
- Chú ơi! Thôi lần sau con xin kiếu. Chú không theo được thời đại tân kỳ rồi.
Cười. Đại Phú cười lão Viện, cười ông lão bẩy mươi nghèo lõ cu đít gàn dở. Đấy chỉ là một trong hàng trăm nghìn cái sự nhộn nhạo ở làng Yên Hạ.
Đại Phú rút tờ mười ngàn đồng cuộn cuộn lại, bảo cô tiếp viên thịt chó:
- Đặt mâm xuống đây, cưng.
Ánh điện tối lấp loá. Cái cổ trắng ngà, cao thanh thoát. Cô gái ý tứ, nhẹ nhàng, đặt mâm trước mặt ông chủ trang trại. Đầu hơi cúi, cổ áo thun khoét rộng chùng xuống làm hở một khoảng chân vú trăng trắng. Đại Phú thò hai ngón tay kẹp kéo cổ áo cô gái, nhét tờ mười nghìn vào ngực cô:
- Thôi zề nghe cưng.
Cô gái mỉm cười tình tứ, chào rồi ba chân bốn cẳng bước nhanh. Từ lúc bưng mâm vào đến lúc ra cô không nói một câu nào, chỉ cười mỉm.
- Các quán ở làng đều có nhân viên nhà hàng như thế a?
- Cũng tùy, anh ạ, quán có quán không. Quán lão Đấu, có năm sáu em, con Hường này là khá nhất, có vẻ nết na, thuỳ mị, da dẻ trắng trẻo thơm tho. Mấy đứa kia thấp, lùn tịt, lúc nào khói nướng thịt chó cũng ám vào người, khét mù.
*
Đại Phú dẫn anh đi thăm trang trại nhà mình. Vợ Đại Phú lanh lẹn, quán xuyến công việc rất ra dáng bà chủ. Bần không ngờ, ngoảnh lại mấy năm mà em mình giàu thế. Ngày Bần đi, vợ chồng nó còn ở chung với Bần dúm dó trong cái nhà tranh vách đất, ăn không đủ. Thế mà bây giờ, mênh mông đầm ao, hồ. Ruộng lúa rộng tít tắp, nói ngoa là cò bay mỏi cánh phải nghỉ. Bờ vùng bờ thửa chia lô ruộng lô ao. Cây ăn quả xum xuê xanh tốt, vải nhãn chín đỏ trĩu quả, đu đủ giăng giăng từng hàng lúc lỉu quả. Người làm thuê, hì hụi móc bùn, đổ thức ăn cho cá. Người gặt lúa thuê nhấp nhô trên đồng... Một năm trở lại đây, cò vạc, le le, vịt trời từ đâu đó bay về sinh sống.
Việc đầu tiên sau ngày Bần trở về làng là xây lại mộ bố mẹ. Bần bảo em: "Xây to. To nhất làng". Đại Phú nói với anh: "Em ký cả hai tay. Còn cái nhà của bố mẹ chỉ chỉnh trang, chỗ nào đổ nát thì tu sửa thôi, đừng phá ra xây mới, anh ạ. Coi như cái nhà tranh vách đất ấy là bảo tàng gia đình". Bần bảo: "Vậy thì giữ cả chõng tre, chiếu manh, võng gai rách, nồi đất. Bỏ mẹ rồi! Nồi đất còn cái nào không chú?". "Không có thì phục chế, người ta bán đầy ra đấy, mua rồi bôi nhọ nồi vào thành đồ cũ. Mà anh bảo, có nên thuê người đẽo đục gốc tre làm lại cái mõ của thày ngày xưa không nhỉ?"...
Một tháng. Đúng một tháng, anh em Bần mới xây xong mộ bố mẹ. Cao, to nhất nghĩa địa, nhất thành phố của những người đã chết. Sừng sững một góc gò Mã Giáng, hai mộ ốp đá xẻ màu hồng mua từ Hoà Bình. Trùm lên mộ là cái nhà mồ mái cong, ngói mũi hài, bốn góc đắp bốn con rồng chầu. Trên đỉnh là một tháp tròn có cột thu lôi chống sét cao vút lên. Bốn cột tròn đắp bốn con rồng gương vây, vảy, quấn từ dưới đất lên sát mái. Xung quanh xây tường rào hoa bao quanh. Hai con hổ đá đặt mua từ làng đá Ninh Vân há miệng nhe răng canh giữ khu mộ thiêng. Bốn góc đắp xi măng bốn thằng tuần đinh cầm gậy đứng hộ vệ. Màu mè tô loè loẹt trông rất chướng. Cũng chẳng biết là kiến trúc kiểu gì? Tây, Tàu, Ta lẫn lộn... Dân làng đi chợ Bút từ trên đường cái nhìn thấy xì xào, kẻ khen thì ít người chê thì nhiều.
Trời chiều. Nghĩa địa vắng hoe hoắt. Thỉnh thoảng lại có tiếng chó hoang sủa ông ổng trong bụi dứa dại. Bần đứng lặng trước khu mộ to đồ sộ của bố mẹ mình. Cũng đã thỏa lòng mong đáp ơn sinh thành nuôi dưỡng của bố mẹ và từ nay ngẩng mặt đi giữa đường làng. Hắn đang tính toán: "Phải xây đắp thêm cái gì nữa vào đây". Chẳng biết dưới mộ, thày bu hắn đang cười hay khóc?
Xây khu mộ bố mẹ xong; anh em Bần bàn nhau mời cả làng đến ăn cỗ. Ngày đầu, Bần thuê lão Vờng nghỉ đánh xe trâu bắc rạp che kín sân, vườn. Bát đĩa thuê, đồ ăn thức uống cũng thuê người ở thị trấn về nấu nướng. Cũng giò, nem, ninh mọc... bốn đĩa, hai bát; nhưng thêm món thịt hun khói, bánh mì bơ để các cụ nhà quê thưởng thức đồ ăn Tây. Vợ Đại Phú lăng xăng chạy chỗ nọ đến chỗ kia đôn đốc kê bàn bày món. Lão Viện sang, bồn chồn lo lắng:
- Chúng mày đừng có học thói trưởng giả. Người làng mình xưa nay vốn khái tính. Mời mọc phải trân trọng, không thì người ta đấm thèm vào.
Bần bảo:
- Chú cứ lo. Cháu thuê in giấy mời, hết sáu trăm nghìn đồng chứ ít ỏi gì; viết tên từng người, lại thuê trẻ con mang đến từng nhà. Chu đáo đến thế là cùng.
Đại Phú bảo:
- Nhiều người đói rã họng ra. Thấy đánh chén là đến ngay ấy mà. Để lúc gần ăn tôi lên loa truyền thanh của làng, tôi mời một lần nữa.
- Mày cứ làm như đi liên hoan thôn ấy - Bần nói.
- Vơng! Giá như thời Hợp tác xã cứ làm một hồi kẻng thì tiện quá.
Lão Viện mắng:
- Tiên sư anh. Sao anh không mang cái mõ của bố anh ra mà rao.
- Chú cứ lói thế chứ. Cháu đảm bảo là cứ đông nghìn nghịt, xếp hàng lũ lượt đến ăn cho mà xem.
- Nhà tôi cưới con út, sai cháu đi năm lần bẩy lượt, mời mẻ bát gẫy đũa người ta mới đến ăn cho kia kìa. Các anh đừng học đòi mấy thằng trọc phú. Cứ tưởng có tiền là cái gì cũng làm được à.
Lão Viện nói không hề sai. Một trăm mâm cỗ bày la liệt trong cái nhà tranh vách đất, ngoài sân, giăng ra ngoài vườn hầu như ế hết. Hai mâm đầu là con cháu nhà lão Viện. Mâm tiếp theo là lão Vờng, vợ chồng nhà Teo và con Tèo chửa hoang bụng to như trống cái, chưa đủ người cũng ăn. Sau, vợ chồng nhà Côn môi thâm đến ghép vào là đủ mâm. Ê chề quá! Bần và vợ chồng Đại Phú nhìn cỗ ế bày mênh mông mà đờ đẫn cả hai mắt. Lão Viện tức mình đấm thèm vào mà nói.
Sáng hôm sau. Người ta thấy thức ăn thừa nổi lều bều ở đầm, ao, hồ trong trang trại nhà Đại Phú.
Chỉ qua một đêm mà mặt Bần hốc hác, người sọp hẳn. Dân làng Yên Hạ kháo nhau: Có ba lý do cỗ anh em nhà Bần ế. Anh em nhà hắn không biết lý do gì. Bần nghĩ lại, chỉ cần sự có mặt của vợ chồng nhà Côn con địa chủ hội Cống ngày xưa, dù sự có mặt với bất kỳ dụng ý nào cũng đủ làm cho hắn cảm động và biết ơn rồi. Bần lại đi xe trâu ra bến đò tìm Côn. Đò đang lúc vắng khách. Một con thuyền nhỏ mỏng mảnh trôi nhè nhẹ, người ta đang gõ mõ xua cá đánh lưới. Côn bảo: "Đêm qua tôi mơ ông cụ nhà tôi mặc áo nâu sồng, mụn vá ở vai to tướng, tay cầm mõ gõ, theo sau là thằng bé ôm tráp sách chữ Nho. Ông cụ nhà bác mặc áo dài thâm, đầu chít khăn gỗ, tay cầm can, theo sau là thằng bé ôm khệ nệ một xâu tiền bằng đồng". "Sao lại là ông cụ nhà bác cầm mõ gõ. Phải là ông cụ nhà tôi chứ... à, tôi nghĩ ra rồi. Đồ thâm nho. Tiên sư bác".
Lúc ấy, nhà Côn hắng giọng to: "Trần gian biến cải mà lị. Này, tôi bảo này...". Côn ghé sát vào tai Bần thì thầm, thì thầm nói ba cái lý do dân làng không ăn cỗ. Tiếng gõ mõ cốc...cốc..., xua cá ở dưới sông to quá, Côn lại nói nhỏ chẳng biết Bần có nghe được hay không?