Mãi đến đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi có người bạn, nhà văn Nguyễn Chu Hoàng, chuyển về Nhà xuất bản CAND do ông Lê Tri Kỷ phụ trách, thỉnh thoảng sang thăm Hoàng, tôi lại gặp ông. Nhìn vóc dáng ông gầy gò, nghe giọng Quảng Trị nằng nặng nhưng khoan thai và khúc chiết của ông, nếu ông không mang trên mình bộ quần áo Công an với quân hàm Đại tá, hẳn chả ai nghĩ ông là Công an. Bản thân tôi có cảm giác, ông giống cha tôi, một ông đồ Bắc Hà, một bậc túc nho uyên bác. Ông quý người quý bạn của nhân viên mình.
Thời ấy, chè Thái còn rất hiếm hoi chứ đâu có dồi dào dễ kiếm như bây giờ. Lúc bạn tôi hết chè, ông thường về phòng mình lấy chè, khi thì vài lạng chè Thái hảo hạng, lúc là gói chè Hồng Đào hoặc Thanh Hương bao bạc, chỉ cán bộ cấp cao mới được phân phối. Ông ít nói, ngồi lặng lẽ nhấp từng hớp nước chè nghe chúng tôi nói chuyện và hút thuốc lá. Ông hít sâu, nén hơi, thổi từ từ. Tuy vậy, đôi lần, ông cũng biểu lộ tâm sự của mình. Ông bảo:
- Nhà văn các cậu bên quân đội sướng thật. Ước gì ngành Công an bên mình có được một đội ngũ nhà văn hùng mạnh và đông đảo như Quân đội. Bao giờ Công an có được tờ Tạp chí văn nghệ? Bên mình nhiều chuyện hay lắm, cảm động lắm. Chỉ tiếc sức mình có hạn viết không nổi.
Lúc ấy, chẳng hiểu sao tôi thốt một câu không ăn nhập với không khí trò chuyện:
- Nếu bên Quân đội, nhà văn Hồ Phương viết truyện ngắn "Thư nhà" là người đầu tiên đặt nền móng cho văn học lực lượng vũ trang và văn học cách mạng thì bên Công an, nhà văn Lê Tri Kỷ cũng là người đặt nền móng cho văn học CAND.
Tôi không ngờ câu nói của tôi khiến ông không vui. Nét mặt trầm hẳn, ông xua xua tay:
- Cậu đừng động viên mình. Mình so với ông Hồ Phương thế nào được.
Tôi thưa với ông, tôi không so văn tài của ông, nhà văn Lê Tri Kỷ và văn tài nhà văn Hồ Phương. Hơn nữa, Hồ Phương và Lê Tri Kỷ mỗi người đều có một vị trí riêng trong nền văn học hiện đại và cách mạng. Tôi cũng nói, tôi thích những trang văn của ông. Bởi viết về Công an là viết về con người, con người trong ngành Công an. Do vậy viết được như ông khó lắm. Vừa phải thật tinh thông nghiệp vụ của người Công an nhưng lại không được lộ nghiệp vụ, vừa phải thật vững, thật giỏi tay nghề mới có thể phân tích tâm lý nhân vật một cách tinh tế và thấu đáo, truyện mới nhuần nhuyễn tự nhiên, bạn đọc mới cảm thấy không gò bó, gượng gạo và sống sượng, giả tạo. Đọc truyện ông, thấy tấm lòng người viết, tấm lòng người Công an thật nhân ái, cao cả.
Ông chớp chớp mắt, hít một hơi thuốc lá thật dài. Ông cảm động nhưng chưa thật tin tôi. Có lẽ ông cho rằng tôi động viên ông. Ông hỏi:
- Cậu thích truyện nào của tôi?
Tôi không nói tên truyện. Bởi nói tên truyện thì dễ quá. Tôi thưa:
- Ví như cái truyện ông viết về người phạm mãn hạn tù. Anh ta được học nghề mộc trong tù và có tay nghề cao ấy. Anh ta vẫn bị xã hội ác cảm. Rồi truyện cái giấy chứng nhận cho quỷ dữ v.v...
Ông gật gật:
- Cảm ơn cậu.
Tôi thú nhận gần đây tôi mới đọc truyện do nhà văn Xuân Thiều giới thiệu và cho mượn sách.
Ông tỏ ra phấn chấn hỏi:
- Thế à? Ông Xuân Thiều là bạn mình.
Tôi nói thêm, đọc truyện ông thật hay, thật cảm động. Ông thật xứng đáng là người đặt nền xây móng cho văn học Công an. Ngoài phần đóng góp về phần văn học, ông còn phần lớn nữa là tập hợp bồi dưỡng thế hệ trẻ. Không có ông, làm sao nhà văn Ngôn Vĩnh có được tiểu thuyết "Bên kia cổng trời", một cuốn sách viết về đất và người trên cao nguyên Đồng Văn thật hấp dẫn. Đó là cuốn sách để đời. Không có ông, làm sao nhà văn Phùng Thiên Tân trở thành cây bút trẻ, sung sức của Công an. Không có ông làm sao nhà văn Tôn Ái Nhân...
Ông xua tay:
- Về Tôn Ái Nhân, tôi không dám nhận đâu. Mỗi lần phải đọc văn ông Nhân, tôi bị tổn thọ mất mấy tuổi đấy. Cậu cũng học Trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ ở Quảng Bá với ông Nhân phải không?
Tôi thưa vâng. Ông nhếch mép cười không bình luận gì thêm. Tôi nhớ, có lần nhà văn Ngôn Vĩnh kể với tôi, ông giỏi văn từ thời học trung học. Rồi học Tổng hợp Văn. Rồi về Báo Công an, ở đó, ông đã viết những truyện ký. Nghĩa là không có nhà văn Lê Tri Kỷ dìu dắt, có thể Ngôn Vĩnh vẫn viết văn. Nhưng mà... Cái nhưng mà này mới thật quan trọng. Nhưng mà, Ngôn Vĩnh sẽ gặp gì viết nấy. Chứ làm sao có được "Cuộc chiến đấu trên cao nguyên Đồng Văn", "Bên kia cổng trời", "Phunrô"... làm sao được như ngày hôm nay.
Lát sau ông nói:
- Chỉ tiếc cậu Vĩnh từ ngày sang phụ trách báo, nó bận nên cũng lười. Còn cậu Phùng Thiên Tân lại mải lo kinh tế. Sống ở TP Hồ Chí Minh không thể không lo chuyện cơm áo gạo tiền. Còn ông Văn Phan thì túi bụi với công việc cơ quan. Tôi theo dõi, ở bên Quân đội, ai đã lao vào nghiệp văn chương thì đều sống chết với nó cả.
Tôi thưa ông, nhà văn Quân đội nhiều nên ông không biết hết thôi. Chứ cũng có nhiều người cố sống, cố chết để có vài tập truyện hoặc vài tập thơ để được vào Hội Nhà văn Việt
- Có chuyện ấy thật à?
Ông hít một hơi thuốc lào thật sâu, khi nhả khói, ông ý tứ quay mặt thở nhè nhẹ mà khói vẫn đậm quá, đặc quá, khiến tôi gần bị sặc.
Tôi gật đầu xác nhận và dẫn chứng một số người:
Ông bảo:
- Đúng là nhà văn bên Quân đội đông quá, mình theo dõi không hết.
Một lát sau ông nhắc lại:
- Ước gì bên Công an có đội ngũ nhà văn hùng hậu và tài năng như Quân đội.
Thành ngữ có câu: "Trai thời loạn, gái thời bình".
Xin được môniphê một chút: "Bộ đội thời loạn, Công an thời bình".
Đất nước thống nhất, thể chế chính trị ổn định, kinh tế phát triển. Do vậy không sao tránh khỏi tiêu cực, lực lượng Công an ngày một phát triển. Nếu không có Công an, cuộc sống liệu có bình yên? Đáp ứng nhiệm vụ chính trị, lực lượng nhà văn Công an ngày càng hùng hậu với nhiều tên tuổi. Lực lượng nhà văn Công an ngày nay chẳng hề thua kém nhà văn quân đội. Rồi hàng năm Báo CAND và Chi hội Nhà văn Công an, Nhà xuất bản CAND còn thường xuyên tổ chức trại viết "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống". Mỗi trại viết văn có đến bốn chục nhà văn trong và ngoài lực lượng Công an tham gia phong phú, đa dạng lắm. Đã có nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết hay về hình tượng người Công an nhân dân như truyện ngắn của nhà văn Ma Văn Kháng, nhà văn Nguyễn Khải, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tiểu thuyết của nhà văn Hồ Phương, kịch và thơ của nhà văn Hữu Ước…
Nếu nhà văn Lê Tri Kỷ còn đến hôm nay hẳn ông sẽ vui biết nhường nào?
Viết về Công an là viết về con người chứ. Đọc tác phẩm của nhà văn Lê Tri Kỷ tôi càng thấy rõ điều đó. Rõ ràng ông viết về Công an, viết về mảnh đất và con người mà ông đã dấn thân, sống chết, vui buồn cả mấy chục năm trời, cả cuộc đời nên văn ông thật đẹp, ông phân tích tâm trạng con người thật tinh tế, chính xác, thấu đáo và triệt để. Ở thời điểm ấy, văn học ta chưa ai mô tả tâm trạng người chiến sĩ Công an trước việc họ phải hành xử hay hơn ông. Không ở trong nghề không thể viết được. Vậy mà thật buồn, tôi nghe nói, khi xét giải thưởng nhà nước về văn học, nghệ thuật đợt II lại bị người ta không đọc đến nơi đến chốn mà dám xổ toẹt đi với nhận xét hồ đồ, thiếu trách nhiệm về văn trinh thám…
Viết đến đây, tôi chợt nhớ, có lần vui chuyện, ông bảo:
- Những tác phẩm văn học lớn của thế giới đều mang màu sắc hình sự đấy chứ.
Này nhé, "Những người khốn khổ" của Huy-gô. Cậu thấy Huy-gô viết cảnh sát Gia-ve hay không? Cảnh sát thế mới là cảnh sát chứ. Dù bị người đời căm ghét, chửi bới, vẫn tìm mọi cách hoàn thành bổn phận của mình. Rồi "Tội ác và trừng phạt", và "Anh em nhà Karamazốp" của Đốtxtôiépki chả là tiểu thuyết hình sự à? Còn ở ta, kiệt tác Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, truyện ngắn nổi tiếng "Chí Phèo" của Nam Cao, có màu sắc hình sự không?
Ông ngừng lời, hút một hơi thuốc lá, chiêu một ngụm nước, lát sau ông nói tiếp:
- Nói văn học Công an, văn học lực lượng vũ trang, văn học ngành than, ngành thép, hay văn học nông thôn… là phân ra thế thôi. Chứ đều viết về con người cả. Chỉ tội cho cái tài của chúng ta chưa tới… ước gì, mình vẫn cứ nghĩ văn học Công an có được một tác phẩm như "Tội ác và trừng phạt"…