Từ mạch nguồn folklore bình dân

Ngày 17-2-1934, Nguyễn Văn Huyên, người về sau sẽ trở thành một học giả lớn, lúc bấy giờ mới 29 tuổi, đã bảo vệ luận án tiến sĩ ở Đại học Sorbonne, xuất sắc đến mức được coi là một sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử ngôi trường danh tiếng ấy.

Rất nhanh chóng, luận án của chàng trai Hà Nội được công bố thành sách, “Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam”, và giới khoa học châu Âu từ đây đã có thêm một tham khảo hữu ích khi tìm biết về xứ sở mà tri nhận chung của họ vẫn còn hời hợt. 

Cùng thời điểm, ở trong nước, các hoạt động tìm về và thông hiểu văn học dân gian, folklore bình dân đang trở thành hướng đi quan trọng.

Tiếng gọi của truyền thống

Sưu tập và phân loại, tiếp cận tục ngữ, ca dao hay rộng hơn là folklore bình dân Việt Nam, trước hết, không thể không nhắc đến vai trò có tính chất tựu thành của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942). Trong khoảng thời gian không quá dài, giữa lúc ngọn sóng văn hóa phương Tây đã bắt đầu thấm sâu, vị túc nho nhưng thành thạo quốc ngữ và Pháp văn này đã dày công thu thập tục ngữ, ca dao, truyện cổ nước Nam với suy nghĩ “sở dĩ thành được nước Nam, nước Nam còn được đến ngày nay, thật gốc rễ ở như bọn dân đen cổ lỗ, chất phác, khố rách áo ôm ấy nhiều”. 

Theo Ôn Như, sở dĩ có nền văn học viết (chữ Hán hoặc Nôm) phong phú cũng nhờ “những tiếng, những câu, những nhời, những truyện sản sinh từ những chốn quê mùa cục mịch, ngõ hẻm hang cùng của bọn cổ lỗ chất phác”. 

Quan điểm đó, rõ ràng, không chỉ phản ánh chính xác tâm thế của bậc trí thức ưu thời, trọng vốn cổ dân tộc mà còn cho thấy tư duy khoa học hiện đại khi nhận ra sự giao thoa, tương tác lẫn nhau giữa văn chương bình dân và văn chương bác học. 

Tục ngữ phong dao (1928), Truyện cổ nước Nam (1934), Ngụ ngôn (1935), các cuốn sách của Nguyễn Văn Ngọc mà giờ đây vẫn thường được tái bản, đã phần nào dựng lại một cách bài bản, hợp lí và lôi cuốn truyền thống sáng tác của người bình dân.

Chính từ cái hay, sự phong nhiêu của truyền thống đó, Nguyễn Văn Ngọc tin rằng, mỗi người dân Việt bấy giờ “phải nhớ ta là ta, không phải là ai”. “Là ta”, thực chất, là đòi hỏi và nỗ lực xác thực căn tính của cả cộng đồng, dân tộc.

Trở lại với công trình của Nguyễn Văn Huyên, tuy được hình thành trong môi trường học thuật phương Tây, vận dụng những phương pháp xã hội nhân văn hiện đại, nhưng âm hưởng chính của nó vẫn là sự trở về mạch nguồn folklore bình dân. 

Nguyễn Văn Huyên chọn Lim, nơi luôn là một trung tâm hội hè lớn, để quan sát, ghi nhận và phân tích khả năng ứng đối, điệu hát, các nhóm từ, câu thơ và cả những tín ngưỡng, phong tục liên quan trong hát đối của từng nhóm trai gái đến từ làng này tổng kia.

Những bài hát đối đặc biệt xoay quanh chủ đề tình yêu bao giờ cũng đầy khiêu khích, thực sự tự do, tưởng như không còn bị vướng bận gì vào mớ giáo lý đạo đức nho gia mà vùng đất này đương nhiên đã chịu ảnh hưởng. 

Chính khi hát đối, những người lao động chân tay, dân cày, đám thợ thủ công hay nhóm người buôn bán nhỏ đã hồn nhiên, chân chất và mạnh mẽ phá vỡ rào ngăn cự li trai gái từng rất khắc nghiệt mà tầng lớp quý tộc học hành đặt ra. Các cô thì đầy vẻ thách thức, ẩn giấu sự chủ động dưới vành nón lá cọ; các chàng trai thì hơi nhút nhát nhưng lại giỏi ứng khẩu, linh hoạt chuyển đổi chủ đề làm khó đối phương. Những chàng trai thắng cuộc sẽ mang tiếng thơm về làng, được gia đình người con gái thua cuộc mời sang nhà. 

Nếu người thua là phụ nữ đã có chồng, thì chồng nàng rất muốn tiếp người thắng cuộc, vì trước mắt mình là một thi sĩ đích thực! Còn thi sĩ Paul Valéry, thành viên Viện Hàn lâm Pháp, sau khi đọc sách của Nguyễn Văn Huyên, vội biên thư cho tác giả công trình, biểu lộ niềm vui được đọc những điều mà ông tin là đúng với mọi thơ ca nhưng ở Pháp lại rất ít biết hoặc hiểu thấu.

Vẫn về những câu ca âm điệu quê mùa, từ rất sớm, năm 1929, Phạm Quỳnh đã không ngần ngại coi đó sự phóng chiếu tâm thái, tính cách dân tộc. 

Tiểu luận Người nông dân Bắc Kỳ qua tiếng nói bình dân (viết bằng tiếng Pháp) của ông như một lời mời gọi giới trí thức bấy giờ xem lại vốn tài sản ngôn từ nước Nam đang có.

Bằng cách nhìn sâu vào nó, chúng ta biết được chúng ta là ai, như thế nào. Là người lao động thích trật tự và thanh bình, tôn trọng quyền lực của trần thế lẫn siêu nhiên; là những tâm hồn ưa vui vẻ, hóm hỉnh, nhạo đời, thiết thực và sẵn sàng tầm thường. Trong khó khăn và triền miên lo toan cuộc sống no đủ, chúng ta vẫn mơ mộng, muốn vươn tới hạnh phúc và công bằng. 

Tiếng nói bình dân, như vậy, là thứ hộ chiếu để nước Nam trình diện với người Pháp. Khoan hãy bàn đúng sai, điều quan trọng ở đây chính là nhu cầu đối thoại văn hóa trong thời điểm kẻ xâm lược vẫn tự đắc về nền văn minh, sứ mệnh khai hóa của mình. Nếu không cất tiếng nói tri thức bản địa, không chấp nhận tính chất dị biệt, sẽ thật khó có được sự cộng sinh văn hóa khi mà cái nhìn phân chia, đối lập vẫn còn đeo bám.

Xác thực căn tính văn hóa dân tộc

Vấn đề “nhớ ta là ta, không phải là ai” mà Nguyễn Văn Ngọc đặt ra quan trọng đến mức, trong chiến lược tạo dựng tiếng nói Việt Nam bản địa đầu thế kỉ XX, các trí thức tân học đã, dường như rất chủ đích, cùng gặp gỡ trên đường tìm về văn hóa, văn học dân gian. 

Lấy dữ liệu folklore để diễn giải một Việt Nam riêng khác, không những so với Trung Hoa mà còn với các quốc gia trong khu vực, dường như trở thành ưu tiên hàng đầu và cũng đạt hiệu quả nhất. 

Dĩ nhiên, đằng sau lựa chọn này, ngoài động lực thoát khỏi ám ảnh văn hóa Hán và áp lực văn hóa Pháp, là nền tảng học vấn và phương pháp làm việc đã thay đổi theo hướng khoa học, hiện đại hơn.

Chẳng hạn, với Phạm Quỳnh, vì là trí thức Tây học và từng có quãng thời gian làm thông ngôn Viện Viễn Đông Bác cổ, ông đã tinh nhạy nắm được phương pháp nghiên cứu địa lí nhân văn để tìm hiểu lời ăn tiếng nói của người nông dân Bắc Kỳ, nơi, vào thời điểm đó, vẫn được coi là tiêu biểu cho tính cách Việt vì chưa bị văn hóa mới xâm thực. 

Coi ca dao, tục ngữ, dân ca là dữ kiện văn học - xã hội, Phạm Quỳnh đã cắt nghĩa rất tài tình các luật tục, lễ hội, và nhất là "tâm hồn người dân quê". 

Từ đó, chỉ ra sự khác biệt của văn học bình dân so với văn học viết của nhà nho: “Trong khi bằng những câu thơ bác học, các nhà nho ca ngợi những con người và những sự vật Trung Hoa, thì những bình dân lại tìm được những giọng điệu như vậy để biểu hiện hoài niệm tình yêu và nỗi buồn kỉ niệm”. 

Cũng với cách làm tương tự nhưng thiên về phân tích khoa học, trong Kinh thi Việt Nam (1940), Trương Tửu đã dừng lại, với thái độ trân quý rất mực, trước những câu ca biểu thị “đàn bà Việt Nam đã lật úp hết tất cả các giường mối của luân lý phụ quyền, đi đến một nghịch điểm cực kỳ thái quá”, chẳng hạn: “Chồng đánh bạc, vợ đánh bài/ Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng”. 

Rõ ràng, trong cái nhìn của Trương Tửu, phá vỡ trật tự đạo đức Nho giáo là tính cách nổi bật của người dân lao động, kéo theo sự tồn tại tương đối biệt lập của văn hóa dân gian so với văn hóa bác học. Tựu chung, theo ông, phong dao, tục ngữ đã "chứng thực cái tinh thần cốt yếu của dân Việt Nam" là "sự chống đối Nho giáo, chống đối nạn Trung Quốc hóa". 

Cùng với hoạt động bài Hoa mà Đào Trinh Nhất đã nhắc đến trong Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ (1924), việc bóc tách đâu mới đích thực là phạm vi ảnh hưởng của Nho giáo trong văn chương, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX rõ ràng đang cố gắng thoát cái bóng Trung Hoa đã bao trùm cả ngàn năm. 

Đấy có lẽ là sự vận động tất yếu khi mà ý thức quốc gia dân tộc đã trưởng thành không ngừng sau bao năm cập nhật phương Tây và đồng thời, dù chưa triệt để, đã bắt đầu tìm kiếm được nội lực của mình.

Nhìn chung, tiểu luận của Phạm Quỳnh và Kinh thi Việt Nam của Trương Tửu là những dẫn giải sắc sảo, thú vị và, điều này rất đáng lưu ý, cách tiếp cận này cho thấy dấu vết của dân tộc học văn học khi xử lí các mẫu hình ngôn ngữ/ lời nói phổ biến trong dân gian, nhờ đó, khái quát đặc trưng xã hội hay đúng hơn, căn tính (identity) dân tộc. 

Cách tiếp cận đó cũng nằm trong xu hướng khảo sát xã hội Việt Nam từ văn hóa dân gian của các học giả Pháp bấy giờ, mà đại diện tiêu biểu là G. Dumoutier (1850-1904) với Những bài hát và truyền thống bình dân của người An Nam (1890) hoặc L. Cadière (1869-1955) với hàng chục tiểu luận đăng trên Tạp chí Viễn Đông Bác cổ, Tạp chí Đông Dương... 

So với nghiên cứu folklore hiện nay, các nghiên cứu trên vẫn hết sức mới, hiện đại dù bị khuất lấp khá lâu. 

Đương nhiên, với các khảo cứu đi tìm căn tính, tâm lí dân tộc thì vẫn có hạn chế riêng: quan điểm văn hóa như là sự phóng chiếu tâm lý, tính cách chỉ có thể sáng rõ và kiểm chứng thuyết phục ở những xã hội vẫn giữ ổn định các cấu trúc truyền thống nhưng sẽ khó thấu suốt ở những xã hội thường xuyên biến đổi, hoặc lai pha nhiều mẫu hình.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Nếu họa sĩ Nguyễn Thế Sơn kể chuyện Hà Nội bằng nhiếp ảnh phù điêu thì kiến trúc sư Trần Huy Ánh tiếp cận thành phố bằng trực giác của người “khảo cổ” đô thị. Cuộc đối thoại về những ký ức đô thị trong triển lãm “Những ngã rẽ” đang diễn ra ở ngôi biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội gợi mở nhiều suy tư về hồn cốt của đô thị, về di sản trong cơn lốc đô thị hóa hiện nay.

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Mối quan hệ Nga - Syria đang bước vào một giai đoạn mới, khi chuyến thăm mới nhất của Tổng thống lâm thời Syria tới Moscow đi cùng những cam kết được đánh giá là "món quà địa chính trị" dành cho Điện Kremlin. Trong bối cảnh các cục diện quyền lực ở Trung Đông tiếp tục dịch chuyển, những thỏa thuận này không chỉ mang ý nghĩa song phương mà còn phản ánh chiến lược dài hơi của Moscow trong việc củng cố vị thế khu vực và đối trọng ảnh hưởng phương Tây.

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Chưa từng có cuộc chiến nào trong lịch sử hiện đại lại cướp đi mạng sống của nhiều nhà báo như ở Gaza. Chỉ trong 2 năm, hơn 200 phóng viên và nhân viên truyền thông đã ngã xuống, biến vùng đất nhỏ bé ven Địa Trung Hải thành nơi nguy hiểm nhất hành tinh cho tự do báo chí. Không chỉ là chết chóc, Gaza còn là minh chứng cho một sự thật đáng sợ khác: khi nhà báo bị giết, thế giới sẽ bị tước đoạt quyền được biết.

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Cuộc biểu tình với hơn 100.000 người tham gia tại London vừa qua đánh dấu bước ngoặt mới của phe cực hữu trong việc đưa vấn đề nhập cư thành trung tâm chú ý trên chính trường Anh. Mặc dù những người biểu tình khẳng định đất nước đang "bị xâm lược", nhưng đằng sau những khẩu hiệu mạnh mẽ ấy là gì? Liệu đó có phải là sự thật hay chỉ là chiến lược chính trị của một phong trào đang lớn mạnh?

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

"Buồn" và "shock" là những gì mà cộng đồng nhận xét về vụ nam sinh lớp 7 túm tóc, nhấn đầu cô giáo ngay trong lớp học ở trường THCS Đại Kim, Định Công, Hà Nội. Trớ trêu thay, vụ việc đó lại xảy ra ngay sau khi Thông tư 19 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khen thưởng và xử phạt học sinh vừa được ban hành.

Bạn thân yêu

Bạn thân yêu

Ta thường nghe câu "Đời chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ". Thế mà có những mối quan hệ người trao đi không hy vọng gì nhận lại, bởi hoàn cảnh người nhận như tận cùng của hoạn nạn.

Phỏng vấn một KOL

Phỏng vấn một KOL

PV: Xin chào anh KOL! Anh cho độc giả một hình dung ngắn gọn về công việc của mình được chứ?