Cuộc đời bi tráng và mối tình vĩ đại của ông với nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai mãi mãi là thần tượng của lớp lớp thanh niên yêu nước về tấm gương những người cộng sản kiên trinh biết gắn tình yêu và sự nghiệp của mình vào vận mệnh Tổ quốc…
Một cuộc đời oanh liệt
Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 tại tổng Thông Lãng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ, anh được đi học chữ Hán trường làng, sau đó học tiếng Pháp. Cha mất sớm, một mình người mẹ làm lụng nuôi con. Sớm hiểu gia cảnh, anh xin đi làm công nhân Nhà máy Diêm Bến Thủy. Tại đây, người thanh niên trẻ họ Lê đã gặp Phạm Hồng Thái, một thanh niên sớm giác ngộ, cùng tham gia đấu tranh chống lại bọn chủ bóc lột áp bức và đều bị đuổi khỏi nhà máy.
Cuộc đời người công nhân trẻ từ phút ấy bắt đầu một bước ngoặt lớn khi ngọn lửa yêu nước thương nòi nhen lên trong trái tim để từ ấy anh dấn thân “đi tìm lẽ yêu đời”. Một ngày đầu năm 1924, Lê Huy Doãn cùng Phạm Hồng Thái và một số thanh niên cùng chí hướng lên đường ngược sang Lào rồi băng rừng tới đất Xiêm. Tại đây, Lê Huy Doãn cùng Phạm Hồng Thái được nhà yêu nước Đặng Thúc Hứa giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) gặp Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và được kết nạp vào tổ chức cách mạng có tên Tâm Tâm Xã.
Trong sự kiện Phạm Hồng Thái mưu sát Toàn quyền Pháp tại Đông Dương là Merlin trên đường y sang Nhật ghé lại Quảng Châu ngày 19/6/1924, Lê Hồng Phong và Lê Hồng Sơn được tổ chức giao nhiệm vụ hỗ trợ. Việc không thành, bị cảnh sát vây bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông và hy sinh trên dòng Châu Giang.
Mang nỗi tiếc thương bạn, Lê Hồng Phong được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Cuối năm 1924, Lê Hồng Phong cùng một số đồng chí được Nguyễn Ái Quốc kết nạp vào tổ chức Cộng sản đoàn và đến tháng 6/1925, từ tổ chức thanh niên này, ra đời tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc thành lập, tập hợp các nhà hoạt động yêu nước trẻ Việt Nam. Tại đây một lớp cán bộ trẻ được tổ chức do chính Nguyễn Ái Quốc huấn luyện chính trị để chuẩn bị về nước. Lê Hồng Phong là một trong những hạt giống đỏ ấy.
Một năm sau, Lê Hồng Phong được cử đi đào tạo tại Trường Không quân Quảng Châu. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1927, theo yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, 10 học viên tình nguyện của Trường Không quân Quảng Châu được sang học Trường Không quân Liên Xô. Lê Hồng Phong là một trong số 10 người xung phong, ông bắt đầu sang Liên bang Nga học lái máy bay. Sau khi học xong lý luận quân sự ở Leningrat, ông lại tiếp tục được đào tạo phi công chiến đấu ở Borisoglepxcơ.
Sau khi tốt nghiệp trường không quân, ông được vào học tiếp tại Trường Đại học Phương Đông ở Moskva và trở thành đảng viên Đảng Bôn sê vich Nga, tham gia Hồng quân Liên Xô với quân hàm trung tá. Có thể nói cuộc đời của Lê Hồng Phong là một cuộc đời hoạt động oanh liệt và từ trong lò lửa cách mạng ấy, người trai xứ Nghệ ấy trưởng thành từ rất sớm.
Năm 1931, giữa mùa đông lạnh giá, từ nước Nga ông trở về Trung Quốc với cái tên mới: Vương Nhật Dân. Từ đây, ông bắt liên lạc với các tổ chức Đảng cộng sản trong nước, nhằm tập hợp lực lượng, khôi phục phong trào và bắt tay soạn thảo chương trình hành động của Đảng trong điều kiện Đảng vừa bị tổn thất nặng nề do bị khủng bố khốc liệt…Không còn cách nào khác, phải thành lập Ban chỉ huy hải ngoại của Đảng tại Ma Cao.
Tháng 6/1934, với tư cách Bí thư Ban chỉ huy hải ngoại của Đảng, Lê Hồng Phong triệu tập Hội nghị hải ngoại và đại biểu các đảng bộ trong nước để bàn kế hoạch triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất. Tại Đại hội của Đảng tháng 3/1935 ở Ma Cao do đồng chí Hà Huy Tập chủ trì, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Tháng 7 năm đó, đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu đến Moskva dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế cộng sản. Đại hội Quốc tế cộng sản VII công nhận Đảng ta là chi bộ chính thức của Quốc tế cộng sản và Lê Hồng Phong được bầu là ủy viên Ban chấp hành của Quốc tế cộng sản. Từ đó, ông trở về Trung Quốc hoạt động với danh nghĩa đại biểu Quốc tế cộng sản bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại hội nghị trung ương lần thứ nhất họp ở Thượng Hải, do Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập chủ trì, đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư, chuẩn bị về nước tổ chức lại Ban chấp hành trung ương. Từ đây, Lê Hồng Phong chuẩn bị cho cuộc trở về Sài Gòn chỉ đạo cách mạng với cái tên mới La Anh.
Tháng 3 năm 1938, Lê Hồng Phong dự Hội nghị Trung ương họp tại Hóc Môn quyết định thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Ông bị giặc Pháp bắt tháng 6/1939 ở Sài Gòn, bị kết án sáu tháng tù vì tội “mang căn cước giả”. Lần thứ hai, nghi ông là một trong những lãnh tụ của đảng, ông bị bắt lại bị kết án 5 năm tù đày đi Côn Đảo. Kẻ thù tìm mọi cách sát hại Lê Hồng Phong và do bị tra tấn dã man, ông mất trong tù ngày 6/9/1942.
Và mối tình cao đẹp giữa hai nhà cách mạng trẻ tuổi
Lê Hồng Phong đã có người yêu, người vợ, đồng thời là người đồng chí lý tưởng là chị Nguyễn Thị Minh Khai, người con gái xứ Nghệ quê hương và là đại biểu của Đại hội VII quốc tế cộng sản. Lịch sử ghi nhận đó là một mối tình đẹp nhất của hai người cộng sản trong những hoàn cảnh ngặt nghèo khắc nghiệt nhất của cuộc đời hoạt động, họ đã có nhau và đều dành trọn cuộc đời tuổi trẻ cho đất nước.
Chuyện tình vĩ đại ấy bắt đầu khi Lê Hồng Phong đến Thượng Hải gặp nhóm các đồng chí đang hoạt động ở hải ngoại, trong đó có một nữ đồng chí nhỏ nhắn nhanh nhẹn, có đôi mắt to ấm áp trên gương mặt đẹp cương nghị…Minh Khai hình như cũng có cảm tình với người con trai xứ Nghệ đồng hương có dáng cao to và một gương mặt đàn ông có đôi mắt sáng ngời dưới vầng trán rộng, tướng mạo trí thức… Nhiều lúc chị không giữ được bình tĩnh điềm đạm mỗi khi ở cạnh Lê Hồng Phong, chị biết mình đang yêu…
“Hoa đến thì, hoa nở”, anh đón nhận tình yêu ấy với tấm chân tình của người trai đã một lần dang dở. Anh kể chị nghe về hoàn cảnh riêng tư của mình. Những năm bôn ba hoạt động, anh đã chịu hy sinh hạnh phúc gia đình. Người vợ trẻ ở quê không thể chờ đợi anh, một người ra đi không tin tức thư tín, đã đi lấy chồng… Được các đồng chí vun đắp, ủng hộ, họ chính thức thành vợ chồng sau một đám cưới là bữa cơm đạm bạc của những người bạn cùng hoạt động tại Thượng Hải.
Đám cưới lịch sử giữa hai nhà cách mạng ấy không có rượu, hoa nhẫn cưới, nhưng ấm áp và nồng nàn tình cảm của hai nhà cách mạng trong vòng tay đồng chí. Họ hứa với Đảng sẽ trọn đời hy sinh chiến đấu vì lý tưởng giải phóng đất nước giành lại tự do độc lập do nhân dân…
Về chuyện tình Lê Hồng Phong - Nguyễn Thị Minh Khai, bà Nguyệt Tú, phu nhân cố Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo viết lại câu chuyện trong lần gặp ấy:
“Anh kể lại cho tôi nghe về chuyến đi xuyên Xi-bê-ri của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương. Chuyến tàu băng qua những khu rừng bạch dương dài dằng dặc. Trong những ngày ở Nga, tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ VI năm 1935, những ngày đấu tranh thành lập Mặt trận Dân chủ chống chiến tranh và chống phát xít, ở Sài Gòn những năm 1936-1939, Lê Hồng Phong và Minh Khai đã sát cánh trong việc chuẩn bị các bản báo cáo ở hội nghị cũng như trong cuộc bút chiến trên báo Dân chúng…”.
Thời kỳ trở về hoạt động ở Sài Gòn, vì điều kiện công tác phải giữ nguyên tắc bí mật, chị Minh Khai lúc này là Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn… hai người đành ở hai cơ sở khác nhau, thỉnh thoảng họ chỉ gặp nhau bàn công việc rồi lặng lẽ chia tay. Với họ, công việc cách mạng lúc này là trên hết. Tình yêu thương, chuyện riêng chồng vợ đành gác lại dẫu trái tim họ vẫn hằng đêm đập nhịp nhớ nhung da diết…Hai người có chung một con gái tên là Lê Nguyễn Hồng Minh.
Ngày 20/1/1940, Lê Hồng Phong bị bắt lần thứ 2, anh làm thơ tặng chị, kín đáo đề lên chiếc quạt giấy gửi ra. Chị Minh Khai nhờ bạn chiến đấu là Hai Sóc vào thăm anh và chuyển thư báo tin mình đã sinh con gái nhưng tin ấy đã không đến được do kẻ thù đưa anh vô biệt giam… Giữa năm ấy, chị Minh Khai cũng bị bắt khi cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ chưa kịp nổ ra. Kẻ thù ráo riết truy lùng chị. Mật thám Pháp không ngờ được rằng chị đã vượt tường nhà thương Sài Gòn về sinh con ở nhà bà mụ Trinh - một người chuyên đỡ đẻ, sau đó trao con gái cho bạn, rồi đứng nhìn theo chiếc xe thổ mộ đưa con đi gửi mà lòng đau như cắt…
Trong lao tù đế quốc, trước mặt bọn mật thám Pháp, hai người đã một lòng kiên trinh không nhận là vợ chồng. Họ đau đớn nhìn nhau mặt lạnh lùng khiến kẻ thù lồng lộn. Lê Hồng Phong bị đày đi Côn Đảo, trong khi chị Minh Khai bị kết án tội “Phiến loạn Nam Kỳ khởi nghĩa” cùng các nhà lãnh đạo của đảng Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần… bị địch xử bắn tại Hóc Môn. Trước khi bị xử bắn chị viết cho chồng, người bạn đời - đồng chí bức thư vĩnh biệt: “Dù có chết, em hứa với anh, chung thủy với cách mạng, trung thành với Đảng. Em hứa mãi mãi là người chiến sĩ cộng sản kiên cường. Mong anh cũng như vậy!”.
Họ đã anh dũng hy sinh, nhưng tên tuổi họ cùng chuyện tình đẹp ấy mãi mãi sống cùng non song đất nước. Bây giờ ở thành phố Vinh quê hương, tên hai người được gắn trên hai con đường đẹp nhất. Chị Minh Khai đâu biết rằng người em gái thân thiết của mình là Nguyễn Thị Quang Thái trở thành vợ đồng chí Võ Nguyên Giáp và cũng hy sinh trong nhà tù Hỏa Lò.
Lê Hồng Phong đã từ một công nhân, trở thành sĩ quan không quân trong Hồng quân Xô viết và sau đó là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của Đảng ta… Cuộc đời bi tráng và mối tình vĩ đại của ông với nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai mãi mãi là thần tượng của lớp lớp thanh niên yêu nước về tấm gương những người cộng sản kiên trinh biết gắn tình yêu và sự nghiệp của mình vào vận mệnh Tổ quốc…