Hết mùa thu. Lá bàng rơi loạt soạt. Đêm tối như bưng. Rét đến tận xương tuỷ. Lữ khách đẩy cửa bước vào, nhìn
- Chào ngài. Ngài cho tôi trú rét một đêm!
- Trú rét! -
- Tất nhiên! - Lữ khách nói, không bộc lộ một ngữ điệu nào - Có thể ngài đã quên. Tôi thì nhớ. Nhưng ngài sẵn lòng cho tôi ngủ nhờ một đêm chứ? Ít ra tôi không phải là Giăng Văn Giăng, mà ngài cũng chẳng thể là Đức giám mục Mirien được. Trời không rét đến mức tôi chết cóng dưới nền nhà của ngài.
Sau một phút ngỡ ngàng,
- Thôi được, ông cứ ở lại, nhưng xin ông cho biết quý danh.
- Tôi không có quý danh, thưa ngài. Tôi chỉ có một tên tục để cúng cơm. Nhưng mà chả biết có ai cúng cơm cho tôi - Sau một tiếng thở dài, lữ khách lẩm bẩm, tiếng nói phảng phất trong không gian đặc quánh của đêm đông.
- Tôi chỉ ước sao khi chết được lên thiên đàng, tìm được những người mình đã mắc nợ họ, cầu xin họ tha tội, cầu xin một cái gì âm ấm! Cầu xin... chứ đời này, làm gì có ai cúng cơm cho tôi...
- Rõ khỉ!
- Mẹ kiếp! Nền nhà gì như nước đá, nền đường còn ấm bằng vạn. Tim nhà giầu cũng lạnh băng như nền nhà vậy...
- Này, ăn gì chưa ?
Khách qua phút chợp mắt vội vã, nhận thấy chủ nhà vẫn chong đèn bên cạnh, hắn đổi giọng:
- Thưa ngài, tôi không đói... Xin cảm ơn...
Hắn ngóc đầu nhìn
Đột nhiên, khách đứng dậy, nhanh như khi hắn ào vào nhà, vơ nhanh cái áo trên thành ghế trong chớp mắt. Cái áo rách te tua. Hắn vỗ vai ông rồi quay mặt ra cửa, vừa bước vừa nói:
- Xin lỗi ngài, xin lỗi ngài, tôi ngủ no rồi, tôi đi ạ!
- Thế còn... rét? - Ông giật mình hỏi rất nhanh như một phản xạ bất ngờ khiến khách thoáng chút giật mình ngoái đầu lại rất nhanh rồi lại quay về phía bóng đêm buốt giá ngoài cửa, nói vọng lại, đầy trịnh trọng:
- Tôi chịu được, thưa ngài.
Hắn lách qua cửa, nhanh chóng chìm vào màn đêm đen buốt. Sợi tóc chói lóa của bóng điện rọi lên người hắn. Nơi tấm áo hắn đang xốc lên vai lướt qua mắt ông hai chữ: "Giang hồ", nét chữ xăm vuông nhọn, góc cạnh trên bả vai hắn đập vào đôi mắt mờ mờ của ông rồi mất hút vào bóng đêm đen đặc. Ông lao vội ra cửa: "Hùng, phải Hùng đó không?". Tiếng đáp sát ngay bên tai ông, thoảng như gió, u u như tiếng thở thật dài: "Thưa thầy, con là Hùng đây ạ!".
Ông choàng dậy, trán lấm tấm mồ hôi. Gió từ cửa sổ tốc vào chỗ ông ngồi, từng luồng lạnh buốt. Ông rùng mình, mùi rượu Napôlêông vẫn còn phảng phất theo mỗi nhịp thở gấp gáp của ông.
Hồi chiều, mấy cậu học trò cũ mang đến biếu ông chai rượu ngoại. Đó là mấy cậu học trò từ thời ông mới đi dạy được vài năm, chúng lớn rồi trở thành người thân như bạn, nhưng chưa khi nào chúng gọi ông bằng cái danh xưng khác chữ thầy, thành ra trong ông luôn có một niềm hãnh diện sung sướng. Nhưng cũng không vì thế mà ông quên mất rằng chỉ cần ông cư xử với chúng theo kiểu một ông thầy kẻ cả thì chúng cũng chẳng thèm gọi ông là thầy nữa. Mấy thầy trò rang lạc, nướng ngô nếp, với vài đồng bánh đa dừa và uống rượu Tây. Một cậu còn bảo, kể ra thì phải uống cái chai nút lá chuối, nhưng hôm nay thầy trò mình nửa tây nửa ta một bữa xem có gì hay không. Thầy trò lai rai kể chuyện tâm tình suốt cả buổi. Từ chuyện đi lao động đào móng xây trường, thay cái trường lợp cỏ tranh bằng cái trường lợp ngói đến chuyện bên Tây người ta ăn uống nhảy múa hát ca, rồi cả chuyện quan điểm này, lý thuyết nọ. Những câu chuyện cứ vắt vào nhau, chèn vào nhau rồi đi xa tít mù, rồi lễnh đễnh với sương chiều bạt nhạt, rồi tàn cuộc vui, rồi cạn đáy chai, lâng lâng men say.
Tối đến, ông lại vùi đầu vào bài vở, viết lách, ông già rồi, chỉ thi thoảng mới lên lớp một vài buổi, còn lại thời gian ngoài đọc và viết ra, ông chả biết làm gì. Có nhiều thứ giá ông đọc được từ hồi còn đi dạy học thì tốt biết mấy. Tiếc, nhưng chả làm sao được, nên ông lại viết, thấy cái gì hay hay thì viết, biết đâu có ai đó cần, hoặc ít ra có ai đó vô tình xem được, cũng đỡ cho họ phải luyến tiếc như ông bây giờ. Đêm càng lúc càng lạnh, thành phố của ông nằm giữa bốn bề núi nên càng về khuya, cái lạnh từ khắp các đỉnh núi càng dồn đổ về, khiến ông không thể cố gắng thêm được nữa. Ông thấy đầu óc bay bay, thi thoảng một cơn buốt lạnh vút qua rồi toàn thân ông sực nóng, cái nóng lạnh cứ râm ran chạy từ chân lên đầu rồi từ đầu xuống chân.
Ông lên giường nằm, đặt lưng xuống giường, từng đốt xương sống rơi lục cục trên chiếu, đầu óc mênh mang nhưng càng nhắm mắt sâu đầu óc ông càng trong veo, không thể ngủ được. Ông vắt tay lên trán, chèn chặn những ý nghĩ lung tung trong đầu, nhưng không được. Ông miên man nửa như thức mà cũng không phải thức, có thể ông vừa đi qua một giấc mơ, một giấc mơ vội vã, hoặc là giấc ngủ vừa chạm đến ông thì bị ai đó cướp đi mất.
Nhưng những hình ảnh vừa lướt qua tâm thức ông khiến ông day dứt. Ông nghĩ đến quãng thời gian bốn mươi năm dạy học, lăn lộn từ trường bé đến trường to, từ cấp hai đến cấp ba, rồi thậm chí ông còn dạy cả trường cao đẳng, khi trường cao đẳng của ông thành đại học thì ông cũng nghỉ hưu. Bằng ấy thời gian, bằng ấy thăng trầm, bao nhiêu học trò của ông đã công thành danh toại, đi khắp năm châu bốn biển, có đứa ở lại quê hương cũng thành ông này bà nọ, lẽ ra ông được thanh thản, mãn nguyện và tự hào lắm lắm. Vậy mà mỗi lần nhớ đến Hùng, ruột gan ông như bị ai hun lửa. Ông nhìn đăm đắm vào tấm huân chương đỏ chói của mình mà nghe như có tiếng oán hờn, trách móc.
Ông nghĩ ngược rồi lại nghĩ xuôi, rút cục ông thấy mình vẫn là người may mắn. Xưa nay người đời khi có trong tay đủ tiền tài địa vị, còn mấy ai nhớ đến thầy dạy của mình, nhất là ông thầy dạy học từ thuở còn để chỏm. Ông thì có, thậm chí có không ít. Cả đời ông chỉ làm một việc duy nhất là đi tìm cái hay cái đẹp của văn chương rồi nhào luyện, gạn lọc, rồi mang đến cho lũ học trò, ông cho chúng hết, gạn chắt được bao nhiêu ông mang hết cho chúng. Mà lạ, càng cho chúng nhiều, ông càng thấy có nhiều, y hệt như đàn bà cho con bú, trẻ con bú nhiều đến đâu, sữa ra nhiều đến đó, ra mãi chẳng hết. Nhưng đàn bà cai sữa con thì sữa cạn, ông không đi dạy học nữa thì chữ nghĩa càng keo sánh lại, vậy là ông phải viết.
Học trò của ông cũng không ít đứa theo nghiệp của ông, nó thỉnh thoảng vẫn mang chữ của ông ra dùng, rồi động viên ông viết, qua lại với ông như bạn bè thân hữu. Nhiều đứa làm nhiều công việc khác nhau, thi thoảng kéo đến nhà ông lai rai chuyện trời chuyện đất. Ngẫm cho cùng từ chính khách cao sang đến thằng lưu manh khốn khổ, từ kẻ giàu nứt đố đổ vách đến kẻ bần cùng mạt hạng, cơ bản họ đều từng qua tay ông thầy cả. Những bậc anh hùng cho thầy vinh dự, kẻ tiểu nhân mang đến sự sỉ vả, hai cảm xúc ấy song song tồn tại trong tâm tính loài người, cũng có khi cái nọ lấn lướt cái kia, nhưng chẳng khi nào tồn tại một xúc cảm duy nhất, với ông, vậy là ông mãn nguyện rồi.
*
Hùng có thể là một đứa có tương lai sáng sủa. Ông nghĩ và tin như vậy hoặc là ước mong như vậy. Mà đến cả cái sáng sủa với ông bây giờ ông cũng khó định danh quá. Sáng sủa như mấy thằng học trò mang rượu Tây đến lai rai với ông, hay sáng sủa như cái cậu nông dân thi thoảng đến mùa thu hoạch lại xách cho ông cân lạc khô mẩy, vài bắp ngô nếp căng tròn.
Mấy chục năm nay ông có tin gì của Hùng đâu, chỉ thi thoảng nó ào đến trong tâm thức ông một lát rồi đi.
Ông nhớ như in cái năm đầu tiên ông mới ra trường. Lớp có ba mươi hai học trò, mỗi đứa mỗi tính. Hùng làm ông chú ý nhiều vì nó rất thông minh nhưng nghịch ngợm cũng hàng đầu. Nó mang cái thông minh vào bài học thì ít mà mang vào các trò nghịch ngợm thì nhiều. Cũng có hôm nó ngồi trầm ngâm như ông cụ non cả buổi học, ai trêu chọc gì cũng kệ. Có khi ông thấy nó buồn xo đứng ngoài gốc cây, cũng có hôm nó leo lên ngọn xoài nằm vắt vẻo trên chạc cây hát nghêu ngao. Học trò lớp bảy như nó ông chưa từng gặp. Một buổi chiều ông cho các em học sinh đi lao động, rào vườn trường. Tranh thủ lúc học sinh làm ngoài vườn, ông vào gặp hiệu trưởng trao đổi công việc. Ông hiệu trưởng đang lấn bấn chuyện gì nên nhát gừng nhát tỏi với
- Thầy ơi... thưa thầy... bạn Kim... bị chảy máu, nhiều lắm...
Ai ngờ, cái "ngày mai đến lớp" ấy,
Sau cái buổi chiều ấy, mà đúng ra, sau vài cái "ngày mai" mà Hùng không đến lớp ấy, Chu tìm đến gia đình Hùng, mới biết cậu bé sống với bà ngoại. Cũng từ đó,
*
Sáng ngày hôm sau, ông
Ông Chu ngồi bật dậy như muốn ôm chầm lấy cái tivi rồi sau đó lại ngã vật ngay xuống giường, bất tỉnh