1. Đắn đo mãi cuối cùng tôi đành mượn một câu thơ của người xưa đặt cái tít cho bài viết này như thế, để nói về cái sự thể tình cảm giữa tôi và ông, người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ từ hơn 40 năm trước, đã cố công kiếm tìm mà chưa từng được gặp. Để rồi vào đúng ngày tỉnh Bến Tre và huyện Ba Tri long trọng kỷ niệm lần thứ 191 ngày sinh của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1/7/1822 / 1/7/2013) và trao giải thưởng Văn học nghệ thuật mang tên ông cho 10 tác giả đã từng sống, chiến đấu, sáng tác tại quê dừa Đồng Khởi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều tác phẩm tiêu biểu, ghi dấu ấn lịch sử, tôi mới ngỡ ngàng được gặp ông. Điều không ngờ tới là cả ông và tôi đều có tên trong danh sách nhận giải thưởng và chỉ có 2 người chúng tôi quê miền Bắc.
Ông là họa sĩ Lê Lam, tên thật là Vũ Quốc Ái, quê ở xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tuổi Tân Mùi (1931) tham gia cách mạng từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1950 đến 1953 được cử đi học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội. Ra trường, về công tác tại một số cơ quan: Phòng Mỹ thuật điện ảnh Trung ương, họa sĩ Báo ảnh Việt Nam, họa sĩ Báo Quân đội nhân dân… Từ 1958 đến 1964, đi du học tại Liên Xô. Sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật trở về, ông tham gia công tác giảng dạy tại Trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Trung ương. Đầu năm 1966, xung phong đi chiến trường “B”. Hoạt động tại Tây Ninh, Long An, Bến Tre. Kết thúc chiến tranh, ông trở về miền Bắc, đảm nhận chức trách Giám đốc Xưởng Mỹ thuật quốc gia (nay là Công ty Mỹ thuật, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch).
2. Tôi được biết họa sĩ Lê Lam từ cuối năm 1969, thông qua một cán bộ dân vận “R” cho biết. Số là hồi đó Cụm Tình báo chiến lược H67 của chúng tôi chuyển vùng hoạt động từ Mật khu Bời Lời (thuộc Trảng Bàng, Tây Ninh) về xây dựng căn cứ bám trụ tại huyện Châu Thành, Bến Tre nhằm đánh lạc hướng theo dõi của địch để duy trì liên lạc với các lưới điệp báo nội thành Sài Gòn. Thời đó, địch đánh phá ác liệt địa bàn Đông và Tây Bắc Sài Gòn, nên việc hành quân chuyển căn cứ cực kỳ khó khăn. Quãng đường chim bay chỉ hơn 100 cây số, vậy mà chúng tôi phải mò mẫm, luồn lách, tới hơn nửa tháng trời mới tới nơi.
Để tránh các cứ điểm, các ổ phục kích của địch, chúng tôi phải đi vòng lên biên giới Campuchia tại khu vực Ba Thu. Từ đó, cặp theo biên giới theo hướng Nam về Tăng Lèo. Một vùng tạm gọi là yên tĩnh, chờ chuyến giao liên để về Kiến Phong, Kiến Tường, băng qua Đồng Tháp Mười về Mỹ Tho, vượt sông Cửu Long để về Bến Tre. Hơn một tuần dừng nghỉ ở Tăng Lèo tôi mới có dịp tiếp xúc với nhiều đoàn cán bộ của “R” đi thực tế về đây mà trong đó có một số văn nghệ sĩ và cán bộ Tuyên huấn. Văn sĩ, có Lê Văn Thảo; nhạc sĩ, có Phạm Minh Tuấn, P.T. (tôi xin được viết tắt tên người này. Vì về Bến Tre được mấy tháng thì nghe tin P.T. đã chiêu hồi theo địch); thi sĩ, có Thanh Giang (Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng). Thời đó, các vị này danh nổi như cồn, tác phẩm của họ thường xuyên được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng. Đám lính vùng ven chúng tôi mấy ai được gặp họ. Vì vậy, với tôi, một đứa tò te đang tập làm thơ, viết văn, nghe tin có một số văn nghệ sĩ về Tăng Lèo là lòng cứ lâng lâng như cô đồng ngửi được mùi nhang, mò mẫm đi tìm để được nhìn thấy họ, được “xem” họ chứ nào đâu dám làm quen. Duy nhất có một người trong số đó, anh tự tìm tới lán chúng tôi để thăm hỏi tình hình chiến trường mật khu Bời Lời và trao đổi đặc thù địa bàn sông nước Bến Tre quê anh. Đó là nhà thơ Thanh Giang. Quê ở Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày. Bộ đội miền Nam tập kết và trở về chiến trường rất sớm, từ đầu thập niên 60. Có thể nói con đường viết lách của tôi được đánh dấu bằng cuộc gặp gỡ tình cờ này. Biết tôi đang tập tọe viết văn, Thanh Giang khích lệ - “Vốn thực tế ở chiến trường của Thái Dương (tên thường gọi của tôi thời đó) phong phú lắm. Đây là cái may của người cầm bút. Cứ mạnh dạn viết đi rồi gửi về trên này cho bọn mình giữ hộ. In được cái nào thì in. Chưa in thì để đó. Ở chiến trường sông nước khó bảo quản lắm…”.
Rất có thể, qua sự giới thiệu của nhà thơ Thanh Giang, nên chiều hôm sau có một cán bộ làm công tác dân vận tới thăm lán chúng tôi với lý do nghe nói trong đoàn có một số anh em quê miền Bắc đang trên đường trở về Bến Tre nên anh tới chơi. Anh hơn tôi chừng nửa con giáp. Giọng đặc sệt xứ Thanh. Vào chiến trường trước tôi mấy năm. Anh nói với tôi: “Về chiến trường đồng bằng sông nước, cuộc sống vật chất không đáng lo, nhưng vất vả đấy. Cố gắng để sớm thích nghi với địa bàn. Dân mình tốt lắm. Cần bám sát dân mà sống để hoạt động. Địa bàn Bến Tre, anh em quê miền Bắc có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay. Về đó, nếu có điều kiện thì tìm họa sĩ Lê Lam. Ông này hay lắm. Người Hà Nội chính hiệu. Nghe nói học 6 năm ở Liên Xô về là nằng nặc xin đi “B”. Một họa sĩ tài hoa và xông xáo lắm. Vào tới “R” là đòi được đi thực tế ở chiến trường ngay. Đã bám trụ ở Long An rồi về Bến Tre từ trước Mậu Thân”.
Tôi về chiến trường miền Trung Nam bộ mang theo “hành trang trong ký ức” hình ảnh người họa sĩ đồng hương có tên là Lê Lam qua lời kể trên. Lui hui bao công việc ở địa bàn mới, việc cất công kiếm tìm người họa sĩ đồng hương, tôi chưa thực hiện được. Phải tới đầu năm 1971, qua lời giới thiệu của ông Ba Cầu, Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách thị xã Bến Tre, đơn vị chúng tôi đón một cán bộ của Tạp chí Văn nghệ Đồ Chiểu từ Thanh Phú về bám trụ để viết về thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành. Anh là Tư Sách, bút danh Trần Ký. Lại thêm một chuyện vui bất ngờ đối với tôi. Mới gặp lần đầu, đã thành quen thân, bởi trước đó tôi đã gửi một số bài về tạp chí. Hơn một tuần anh Tư Sách bám trụ ở đơn vị chúng tôi, hàn huyên bao chuyện, tới lúc tôi hỏi thăm về họa sĩ Lê Lam, gương mặt anh rạng ngời: “Ổng hay lắm! Một người “sanh Bắc, vẽ Nam”, gắn bó với Bến Tre, vẽ về quê dừa Đồng Khởi, nghĩa tình với xứ dừa như người Bến Tre vậy. Để tôi cho Thái Dương coi mấy thứ này…”. Tư Sách mở bòng, lôi ra một tập ảnh tranh và hồ hởi: “Đây là một số bức họa tiêu biểu của họa sĩ Lê Lam sáng tác về Bến Tre. Từ Đồng Khởi Bến Tre, tới Đội quân tóc dài, Má Bến Tre, Chân dung Anh hùng đặc công Thủy Hoàng Lam, Em bé Linh Phụng… và bức to này thể hiện cả 2 mặt trên một tấm tôn dày, khổ 3m x 2,5m. Một mặt thể hiện tinh thần “Toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Mặt sau, là hình ảnh một phụ nữ Nam Bộ đứng dang chân, dang tay trước xe tăng địch, trước nòng pháo chĩa thẳng vào người, dưới gam màu xám loang lổ của bầu trời hòa với khói bom cùng với cả bầy trực thăng đang rà xuống cánh đồng lúa vàng ươm. Bức tranh có tựa đề: Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Sau này được sửa lại tên là Dừng lại. Bức tranh được treo ở cầu tàu trên sông Thơm, đoạn nối sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên. Đây là vùng tranh chấp giữa ta và địch, nên bức tranh tồn tại tới trên 2 tháng, địch phải dùng tàu chiến, mở cuộc càn vào mới gỡ tranh xuống được. Nguồn gốc bức tranh, từ bản phác thảo ký họa chân dung chị Tư Cào (Võ Thị Cào) quê ở xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, tay không dám chặn cả đoàn xe tăng Mỹ đang quần chạy trên đồng lúa. Bức ký họa người thật, việc thật, họa sĩ Lê Lam thực hiện từ cuối năm 1966 khi ông về bám trụ ở Đức Hòa, Long An và được hoàn chỉnh tại Bến Tre vào giữa năm 1967. Nó trở thành bức tranh cổ động cho toàn chiến trường miền Nam học tập tấm gương dũng cảm của chị Tư Cào…”.
Cũng theo lời Tư Sách, thì bức tranh đó sau này được Họa sĩ Lê Lam vẽ lại, gửi ra Bắc và được trưng bày tại triển lãm. Một lần Bác Hồ tới xem triển lãm, ngắm bức tranh, Bác hỏi kỹ về nhân vật trong tranh và nói: “Cái này mạnh hơn sắt thép đấy. Các chú in ra cho toàn dân và thế giới xem”. Bất giác tôi hỏi Tư Sách: “Vậy, bây giờ ông Lê Lam đang ở Giồng Trôm hay Thạnh Phú?”. Thoáng nét buồn trên gương mặt xương xương, khắc khổ, Tư Sách khẽ lắc đầu: “Ổng chỉ gắn bó với Bến Tre chừng hơn 2 năm. Sau Mậu Thân, cấp trên điều về “R”, phụ trách phòng Hội họa Giải phóng miền Nam”. Tôi lặng nhìn Tư Sách, khẽ thốt lên: “Tiếc quá! Quả là tìm người như thể tìm chim…”. Kết thúc chiến tranh, tôi chuyển ngành sang lực lượng An ninh. Bộn bề bao nỗi đời đè nặng trên vai người lính trở về. Lo chỗ đứng, chỗ ngồi, lo miếng cơm manh áo… rồi cha già, mẹ héo, vợ yếu, con thơ… Ký ức tìm gặp người xưa cứ mờ dần theo năm tháng. Vậy mà...
3. Trở lại chiến trường xưa lần này, tôi mang theo tâm trạng vừa vui mừng, vừa ngỡ ngàng. Vui, bởi được gặp lại đồng đội, đồng chí, bà con cô bác của quê dừa Đồng Khởi, những người đã một thời tôi gắn bó với họ, được họ hết lòng cưu mang, chở che, giúp tôi vượt qua bao hiểm nguy để sống và chiến đấu. Vui, vì được chứng kiến một miền quê trong quá khứ thuộc diện nghèo, khó khăn vào loại nhất, nhì Nam Bộ, hiện tại cũng còn đầy rẫy khó khăn, nhưng đã và đang vươn lên, phát triển đến không ngờ. Ngỡ ngàng, bởi một số tác phẩm văn học - những đứa con tinh thần của tôi viết về tình đất, tình người Bến Tre từ hơn 40 năm trước, tưởng như đã rơi vào quên lãng, vậy mà địa phương vẫn nhớ tới, đã sưu tầm, nghiên cứu, thẩm định để trao giải thưởng. Ngỡ ngàng, bởi nhờ chuyến đi lịch sử này tôi mới may mắn được gặp gỡ một số người tôi hằng ngưỡng mộ từ bao năm trước, trong đó có 2 họa sĩ tài danh mà anh em chúng tôi vẫn gọi là “hai đại lão gia của làng mỹ thuật đương đại Việt Nam”. Đó là họa sĩ Lê Lam và họa sĩ Huỳnh Phương Đông.
Từ trái tim mình, thông qua Chuyên đề An ninh Thế giới Cuối tháng, tôi bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng chí lãnh đạo tỉnh Bến Tre, các cơ quan chức năng, các cán bộ nghiên cứu, Hội đồng giám khảo tác phẩm văn học - nghệ thuật của tỉnh đã quan tâm để tôi có được vinh dự nhận giải thưởng lần này. Nhờ đó mà tôi có dịp được gặp những người mà bao năm tôi hằng ngưỡng mộ.
Xin cám ơn đồng đội, đồng chí cùng bà con cô bác của quê dừa Đồng Khởi, những người bất khuất kiên trung, sống chết vì cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước… đã và mãi mãi là nguồn cảm xúc cho những sáng tác văn học của tôi