Trò chuyện Chủ nhật

Tiêm vaccine giữ vai trò quan trọng hàng đầu phòng dịch bạch hầu

Bạch hầu đang gia tăng phức tạp tại các tỉnh Tây Nguyên, số mắc đã tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái và có khả năng lan rộng do tỷ lệ miễn dịch cộng đồng ở những vùng có dịch rất thấp. Hiện đã có 70 người dương tính với vi khuẩn bạch hầu, 3 người tử vong, đặc biệt phức tạp ở 4 tỉnh: Đắk Nông, Gia Lai, Kom Tum và Đắk Lắk.

Để hiểu rõ hơn về bệnh dịch nguy hiểm và cách phòng chống căn bệnh này, phóng viên Báo CAND đã có buổi trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Huy Nga, Trưởng Khoa Y tế công cộng và Điều dưỡng, Trường Đại học Quang Trung, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế).

Phóng viên (PV): Thưa ông, bệnh bạch hầu vẫn rải rác xuất hiện hằng năm ở nước ta, nhưng vì sao năm nay tỷ lệ lại tăng gấp nhiều lần?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga.
PGS.TS Nguyễn Huy Nga.

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Bệnh bạch hầu năm nay tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2019, đặc biệt tăng dồn dập vào một thời điểm nên người ta thấy quan ngại. Bệnh tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó có tỷ lệ tiêm chủng giảm. Tiêm chủng giảm do có phong trào bài xích vaccine, nhiều gia đình bị ảnh hưởng. Thứ hai là năm 2019 chúng ta chuyển đổi vaccine nên đã ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng. Đầu năm nay, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, nhiều trẻ tiêm nhắc lại hoặc tiêm định kỳ đã không tiêm được… Đến lúc tích lũy một số lượng người nhất định mà chưa có miễn dịch tạo ra lây lan và có nhiều trường hợp bệnh xuất hiện.

Tại sao chưa có miễn dịch, do họ chưa tiêm vaccine, không loại trừ trường hợp tiêm chưa đủ mũi, chưa đúng kỹ thuật, chưa có kết quả hoặc do cơ địa không tạo miễn dịch của cá thể… Tỉnh Đắk Nông hàng chục năm chưa có ca bệnh nào, nên khi có đã lây lan nhanh.

PV: Theo lãnh đạo Bộ Y tế, khu vực đang có dịch bạch hầu tỷ lệ miễn dịch cộng đồng rất thấp. Phải chăng trong những năm qua, y tế địa phương chưa làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền và vận động người dân cho con em đi tiêm chủng đúng lịch, đủ mũi, cũng như không có giải pháp để đưa trẻ đi tiêm chủng mở rộng. Đây có được coi là “lỗ hổng” không thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Vấn đề này phải có nghiên cứu cụ thể mới trả lời chính xác được. Những trường hợp mắc bạch hầu vừa qua đều là đồng bào dân tộc, sống ở vùng sâu vùng xa, không biết những trường hợp này có phải người ở Đắk Nông hay di cư từ đâu đến, có thể di cư từ ngoài Bắc vào, hay từ tỉnh này qua tỉnh khác, chúng ta phải nghiên cứu từng trường hợp cụ thể mới biết được, vì vậy không thể nói do y tế địa phương được. Ví dụ như ca bệnh dương tính với bạch hầu phát hiện ở TP Hồ Chí Minh, nếu lỡ lây cho người dân thành phố thì không thể nói là do y tế TP Hồ Chí Minh không bao quát, đôn đốc người dân tiêm chủng được, mà phải có nghiên cứu cụ thể.

Tuy nhiên Tây Nguyên là vùng trũng của tiêm chủng vì tiếp cận của cán bộ y tế đối với người dân tộc ở vùng sâu, vùng xa có hạn chế hơn. Hơn nữa kiến thức, ý thức cũng như trình độ của các bậc cha mẹ cũng như người lớn ở khu vực này vẫn còn hạn chế. Thứ ba là người dân còn nghèo, có trường hợp mất cả ngày đi từ bản mới đến xã để tiêm, mà không phải đến là tiêm được ngay. Quản lý nhân khẩu ở đây khá khó khăn, do đất đai rộng mênh mông, dân cư thưa thớt, lối sống du canh du cư khiến cho ngành y tế khó khăn trong vấn đề tiếp cận truyền thông, vận động. Tất nhiên sau này phải có tăng cường hỗ trợ công tác truyền thông cho những tỉnh này, hoặc mở các chiến dịch tiêm chủng như đi đến tận nhà tiêm chủng như ngày xưa.

PV: Bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc cấp tính, 50% trong số 53 ca mắc đầu tiên lại không có triệu chứng, là người lành mang trùng, điều này rất khó để phòng tránh. Xin ông cho biết, bệnh bạch hầu có những biến chứng nguy hiểm như thế nào và tỷ lệ tử vong ra sao?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Bệnh bạch hầu chủ yếu lây qua đường hô hấp, đường giọt bắn, nên rất dễ lây lan khi tiếp xúc. Người lành mang trùng lại càng khó phòng tránh hơn, vì vậy điều tra dịch tễ để truy vết rất quan trọng, giúp những người đã tiếp xúc được dùng kháng sinh dự phòng.

Bệnh bạch hầu là do vi khuẩn cho nên có thể điều trị được bằng kháng sinh. Bệnh có 3 biến chứng nguy hiểm, đó là: Biến chứng đường hô hấp làm viêm nhiễm, tắc đường hô hấp, có thể gây khó thở, thậm chí gây tử vong. Biến chứng viêm cơ tim, làm tổn thương cơ tim, thường các ca tử vong mắc gần đây là do phát hiện quá muộn dẫn tới biến chứng tổn thương cơ tim. Biến chứng thứ 3 là vi khuẩn bạch hầu ảnh hưởng đến não, thần kinh, ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu làm tổn thương hệ thần kinh. Đây là 3 biến chứng chủ yếu và là nguyên nhân gây tử vong. Ngoài ra còn có biến chứng đến cơ quan nội tạng khác.

PV: Vì sao người lớn cũng mắc bạch hầu và bệnh lại xuất hiện ở người đã tiêm phòng đủ mũi, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Bệnh gặp ở người lớn là do họ chưa tiêm chủng nên không có miễn dịch. Hoặc người đã tiêm lâu rồi nhưng không tiêm nhắc lại, bởi có vaccine chỉ có miễn dịch trong 6 năm. Hoặc có những trường hợp đặc biệt cơ thể không có khả năng tạo kháng thể miễn dịch. Về cơ bản, người chưa có miễn dịch thì bị mắc, còn người tiêm phòng đủ mũi, đúng lịch, đúng kỹ thuật thì không mắc bệnh.

Người tiêm phòng rồi mà vẫn mắc bạch hầu thì phải xem lại họ đã tiêm đủ mũi, đúng lịch, đúng kỹ thuật chưa. Nếu đã tiêm đủ mũi, đúng lịch mà vẫn mắc thì có khả năng là do tiêm chưa đúng kỹ thuật hoặc do cơ địa. Tiêm không đúng kỹ thuật là tiêm không theo hướng dẫn cho từng loại vaccine, sai góc đâm kim, độ sâu của kim tiêm, tiêm không đủ liều…, cũng có thể nhân viên y tế ở vùng sâu, vùng xa có kỹ thuật tiêm chưa chuẩn theo quy trình.

PV: Số người mắc bạch hầu tiếp tục gia tăng ở các tỉnh Tây Nguyên và TP Hồ Chí Minh cũng ghi nhận ca bệnh. Để dập dịch ở khu vực này, theo ông chúng ta cần triển khai các giải pháp gì?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Giải pháp dập dịch ở khu vực Tây Nguyên theo tôi là tiêm chủng cho 100% người dân ở vùng dịch, ít nhất tỷ lệ tiêm phải đạt trên 95%. Khu vực có nguy cơ cũng phải tiêm. Như ở trên tôi đã nói, Tây Nguyên là vùng trũng tiêm chủng, nên tiêm vacccine cho người dân vẫn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Việc làm này phải quyết liệt thì mới thành công được.

Bạch hầu là bệnh dịch truyền nhiễm nhóm B trong Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm, có thuốc điều trị đặc hiệu, có vaccine phòng ngừa, còn COVID-19 là bệnh dịch nhóm A, không có thuốc điều trị, không có vaccine. Vì vậy, dịch xảy ra chỗ nào chúng ta khoanh vùng chỗ đó, cách ly triệt để tại ổ dịch, hướng dẫn người dân ăn chín, uống sôi, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Đẩy mạnh tuyên truyền phát hiện ca bệnh sớm, uống thuốc dự phòng để ngăn ngừa bệnh lây lan, phát tán. Tăng cường năng lực chẩn đoán cho y tế địa phương, y tế xã, thôn để chẩn đoán ca bệnh sớm, điều trị sớm nhằm hạn chế tử vong. Tổ chức tập huấn kỹ thuật tiêm cho cán bộ y tế. Các giải pháp này phải triển khai quyết liệt thì mới sớm ngăn chặn dịch bệnh được.

PV: Đối với khu vực miền Trung, hằng năm có các ca bạch hầu rải rác, trước diễn biến phức tạp của bệnh bạch hầu tại 4 tỉnh Tây Nguyên, khu vực này cần phải làm gì để tránh bùng phát dịch?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Các địa phương này cần tiêm chủng hết cho trẻ em, phải tăng cường tiêm được từ 90% trở lên, nếu được 95% thì càng tốt. Những địa phương có nguy cơ như Lâm Đồng có huyện Đam Rông, cận kề ổ dịch Quảng Hòa, huyện Đăk Glong, Đắk Nông; huyện Ba Tơ, Trà My của Quảng Nam tiếp giáp với Kon Tum, Gia Lai, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc, lối sống, tập quán còn lạc hậu; hay một số huyện của tỉnh Quảng Ngãi…đều là nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp, chúng ta phải đến tận nhà vận động người dân đi tiêm chủng. Hoặc tỉnh này tiêm giúp tỉnh kia để bảo đảm độ bao phủ tiêm chủng trên diện rộng, người dân được tiêm đủ mũi, đúng lịch. Nhưng các địa phương phải vào cuộc quyết liệt, phải coi phòng bệnh hơn chữa bệnh thì mới đạt kết quả cao. Còn đối với vùng khác, tỷ lệ tiêm chủng cao, có biện pháp dự phòng thì khả năng xảy ra dịch khó hơn.

PV: Đại dịch COVID-19 vẫn chưa đi qua, dịch bạch hầu lại bùng phát, khiến người dân không khỏi lo lắng. Để dịch không chồng dịch, ông có khuyến cáo gì với người dân?

PGS.TS Nguyễn Huy Nga: Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nguy cơ biến chứng và tử vong cao, do vậy tiêm chủng là biện pháp duy nhất để phòng bệnh. Người dân phải cho trẻ tiêm phòng đủ 4 mũi, đúng lịch, sau 5-6 năm phải tiêm nhắc lại đến năm 14-15 tuổi. Người lớn ở vùng dịch 6-7 năm phải tiêm nhắc lại một lần. Người chưa tiêm chủng không ở vùng dịch hoặc vùng không có nguy cơ thì không cần tiêm, nhưng nếu đi vào vùng dịch thì tiêm hoặc uống thuốc kháng sinh dự phòng.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư!

Trần Hằng (thực hiện)

Các tin khác

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã nội soi buồng ối đặt bóng gây bít khí quản thai nhi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh cho bào thai còn đang trong bụng mẹ (kỹ thuật cao FETO). Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam triển khai kỹ thuật hiện đại này cho trường hợp mắc bệnh lý bẩm sinh vô cùng phức tạp.

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Nhiều người khi thấy một nốt ruồi mới mọc, một vết đen hay mảng da sẫm màu dưới lòng bàn chân thường "tặc" lưỡi cho qua vì nghĩ chỉ là vết tụ máu do va đập hoặc nấm kẽ chân. Nhưng đây là vị trí "ưa thích" của ung thư tế bào hắc tố – loại ung thư da ác tính và có tỷ lệ tử vong cao nhất.

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Theo Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), tỷ lệ người dưới 50 tuổi cần can thiệp tim mạch chiếm khoảng 30%, dưới 40 tuổi phải can thiệp tim mạch chiếm 15–20%; thậm chí có những trường hợp dưới 20 hay 30 tuổi đã bị nhồi máu cơ tim.

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Kết hôn muộn sẽ dẫn đến sinh con muộn, sinh ít con, thậm chí không sinh con làm cho mức sinh giảm thấp. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với những hệ lụy như thiếu hụt lực lượng lao động.

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Sau 3 ngày 2 đêm lênh đênh trên biển với vết thương nặng ở chân phải do bị cáp tời cuốn, nam ngư dân được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) trong tình trạng gãy hở, xương gãy phức tạp, nhiều dị vật, mô mềm tổn thương nặng, có dấu hiệu nhiễm trùng...

Các y bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn tham dự lễ tri ân nghĩa cử cao đẹp hiến tạng của nữ nhân viên y tế B.H.A.

Nữ nhân viên y tế hiến tạng cứu sống 3 người

Một nữ nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) không may mắc bệnh nặng, dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng chị không qua khỏi. Gia đình đã đồng ý hiến tạng của chị để cứu sống 3 người bệnh nặng.

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Tình trạng mang thai và sinh con ở tuổi chưa thành niên tại Việt Nam còn cao tại một số khu vực, nhất là Tây Nguyên và Trung du, miền núi phía Bắc. Tảo hôn và sinh con sớm (15-19 tuổi) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 3 lần so với toàn quốc. 

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Ngày 23/9, tại Trạm Kiểm soát Biên phòng Trần Đề thuộc Đồn Biên phòng Trung Bình - Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP Cần Thơ tiếp nhận 5 ngư dân gặp nạn trên biển được một tàu cá phát hiện, cứu vớt và đưa vào bờ bàn giao cho lực lượng chức năng.

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

Tính đến 9h ngày 21/9, TP Hồ Chí Minh đã ghi nhận 5.018.955 người được khám sức khỏe, khám sàng lọc, chính thức vượt cột mốc 5 triệu người. Song song với tiếp tục mở rộng độ bao phủ, chương trình đang chuyển sang một yêu cầu quan trọng hơn: bảo đảm khám thực chất, nâng cao chất lượng chuyên môn, hoàn thiện kết quả trên Hồ sơ sức khỏe điện tử và làm sạch dữ liệu, bảo đảm số liệu trên hệ thống phản ánh đúng số người thực tế đã được khám.