Thi sĩ Nguyễn Thái Sơn: Như người lính vừa đi vừa nghĩ

Đã bước vào tuổi cổ lai hy, thi sĩ Nguyễn Thái Sơn vẫn đi trên con đường thơ một cách lặng lẽ.

Có thể do tính tình rụt rè, Nguyễn Thái Sơn luôn đứng ngoài những ganh đua chen lấn danh lợi. Thế nhưng, dù Nguyễn Thái Sơn cố giấu mình đi thì bản lĩnh sống và viết của ông vẫn hiện ra trong thi ca rất rõ ràng, rất thuyết phục!

Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn ngoài đời cao ráo và hiền lành. Thậm chí, ai khen ông một câu thì ông... mắc cỡ đỏ cả mặt. Ít người biết, Nguyễn Thái Sơn tài hoa, đàn rất hay và vẽ rất đẹp. Và càng ít người biết, Nguyễn Thái Sơn có một thời trai trẻ rất đáng tự hào. Nguyễn Thái Sơn bắt đầu làm thơ khi còn là cậu học trò ở Bình Lục (Hà Nam).

Năm 17 tuổi, Nguyễn Thái Sơn đã được giải Ba cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1965 với bài thơ Bố và con. Thời đó, giải thưởng văn chương còn lẫy lừng lắm, Nguyễn Thái Sơn mang cái vinh dự không nhỏ kia vào khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội trong sự ngưỡng mộ của bạn bè đồng trang lứa. Tuy nhiên, ngồi ghế giảng đường chưa ấm chỗ, Nguyễn Thái Sơn đã đăng ký nhập ngũ, vác ba lô vào chiến trường miền Nam. 

Nguyễn Thái Sơn tự họa.
Nguyễn Thái Sơn tự họa.

Khoảnh khắc ấy được Nguyễn Thái Sơn ghi lại trong thơ: “Một thời chiến tranh mấy thời thiếu đói/ sau bữa ăn trẻ con vẫn thèm cơm/ mười bảy tuổi hành quân dọc Trường Sơn/ dép rộng rút quai/ quần dài xén ống/ những người lính vừa đi vừa lớn...”.

Sau mấy năm xông pha bom đạn, Nguyễn Thái Sơn quay lại với bút mực, tốt nghiệp Học viện Chính trị Quân đội và tốt nghiệp chuyên ngành âm nhạc Đại học Văn hóa. Từng làm công tác tuyên huấn rồi làm công tác xuất bản, Nguyễn Thái Sơn vẫn đau đáu với thơ.

Dĩ nhiên, thuở thanh xuân thì thi sĩ nào chả lãng đãng những lời tình, mà thơ Nguyễn Thái Sơn thường nghẹn ngào nỗi chia ly khó lòng tiên liệu “dằng dặc ngàn dặm em giờ đã xa/ Lạc Trung cầu nghiêng, Thanh Nhàn chợ vắng/ liễu hồ Tây lá rụng trái mùa, cành héo quất roi vào nắng/ Kim Ngưu lặng sóng thương nhớ trâu vàng/ bầy vạc ướt sũng mưa, lẩy bẩy mò tép, đục bến Linh Đàm” và cũng thường tìm cách an ủi trái tim bơ vơ “ngang chiều thoảng một cơn mưa/ giọt mau hoa cúc, giọt thưa hoa nhài/ heo may rét lộc rét đài/ áo mình mình vá, cậy ai bây giờ”.

Trong muôn sự bẽ bàng ở đời, chuyện người yêu đi lấy chồng luôn để lại dư vị cay đắng. Nguyễn Thái Sơn không nỡ trách kẻ quay lưng, mà chỉ trách mình mệnh bạc qua bài thơ Ao nông cá vượt đầy buồn thương: “Xe hoa nửa trắng nửa hồng/ Tàn thu, ngọn gió lúc đông lúc nồm/ Mẹ ơi xin mẹ đừng buồn/ Lỗi tại con, chỉ vì con vụng về/ Người ta trả lễ rồi đi/ Ngẩn ngơ khắp huyện, riêng gì nhà ai/ Đau lòng cả đám con trai/ Ao nông cá vượt ra ngoài sông sâu/ Nhạt vôi, héo cả cau trầu/ Từ khi người ấy làm dâu đất người/ Sân rêu lớp lớp lá rơi/ Buồn chia khắp xứ, ngậm ngùi cả quê...”.

Đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, Nguyễn Thái Sơn chuyển vào định cư tại Sài Gòn. Ngoài những cơn bái vọng cố hương cồn cào “Người người náo nức về quê/ Miến măng giỏ trước, cau chè bị sau/ Rưng rưng, hút mắt con tàu/ Mình còn cha mẹ nữa đâu mà về”, thơ Nguyễn Thái Sơn còn bị bủa vây bởi gánh nặng áo cơm đô thị “bút khất nợ giấy, giấy trốn nợ người/ ta đáo nợ quỵt nợ chính mình/ thuyền độc mộc quẩn trong vũng hẹp”.

Đôi lần chính Nguyễn Thái Sơn cũng loay hoay trong khao khát định vị thơ mình: “In giấy đen e tội nghiệp thơ/ In giấy trắng sợ oan uổng giấy/ Thơ mình thế nào thì in thế ấy/ Nhưng thơ mình thế nào dễ gì đã nhận ra!”. 

Thế nhưng, vào những năm tháng chênh chao, Nguyễn Thái Sơn đã có những câu thơ Thăm mộ chiều cuối năm rung động sâu xa: “Vạt đồi yên nghỉ bao đồng đội/ Nhang trầm một thẻ - biết làm sao/ Thắp lên, đành cắm nơi đầu gió/ Hương khói đừng quên nấm mộ nào”.

Chỉ bốn câu với 28 chữ mà mở ra một thế giới ân nghĩa dài rộng. Từ hiện vật nhỏ bé “nhang trầm một thẻ” đến hành động cụ thể “cắm nơi đầu gió” đã kéo theo xúc cảm tâm linh “hương khói đừng quên”, khiến bài thơ ám ảnh và day dứt.

Không thể nói khác hơn, bài thơ Thăm mộ chiều cuối năm là một bước ngoặt trong sự nghiệp thơ Nguyễn Thái Sơn. Như một “người lính vừa đi vừa lớn”, Nguyễn Thái Sơn phát huy được thế mạnh cá nhân khi viết về những thân phận trong chiến tranh và sau chiến tranh, mà mình đã từng dự phần với bao nhiêu phấp phỏng, với bao nhiêu đắng đót, với bao nhiêu âu lo. Những ngày đã sống, những chuyện đã nghe, những người đã gặp nơi vang tiếng súng và nơi im tiếng súng lần lượt xuất hiện trong thơ Nguyễn Thái Sơn.

Và đôi khi, qua một hình ảnh riêng tư bỗng thấy vui buồn của một xứ sở, bỗng thấy được mất của một dân tộc: “Người họa sĩ già lang bạt khắp xóm quê/ dựng ảnh thờ liệt sĩ/ rượu cạn đáy chai/ nhập thần vung bút vẽ/ những liệt sĩ từ vô định bước ra/ khuôn mặt khắc khổ như cha/ đôi mắt lo toan giống mẹ/ vầng trán dô của chị/ cái miệng vẽ theo miệng em trai/ các anh hiện dần vóc dáng hình hài/ trở về từ chân mây góc biến/ người họa sĩ thả rơi bút vẽ/ bức ảnh thờ hoàn thành/ lúc bố ôm ngực thở dốc khô khan/ mẹ nức nở gọi tên con lạc giọng...”.

Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn.
Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn.

Những bài thơ lẻ in rải rác trong những tập thơ lẻ dường như không đủ để trút bớt những đầy vơi suy tư của người lính luôn đeo bám Nguyễn Thái Sơn. Năm 2009, Nguyễn Thái Sơn tung ra trường ca Chiến tranh - chín khúc tưởng niệm dày gần 200 trang. Những hồi ức thảng thốt, những hồi ức dông bão, những hồi ức mê đắm cứ tuôn tràn qua hàng ngàn câu thơ dồn dập được Nguyễn Thái Sơn đóng cửa viết ròng rã suốt một năm. 

Chiến tranh - chín khúc tưởng niệm khẳng định ý thức bảo vệ non sông “hổ thẹn với tiền nhân/ mang tội với muôn đời sau/ nếu để giặc chiếm/ dù chỉ vũng trâu đầm, gốc cây, bờ ruộng...”. 

Và những người lính trẻ măng đã bước vào khói lửa vừa nhẹ nhàng vừa bồn chồn: “Để lại những bài học suốt tuần không ngó tới/ mớ quần áo trai làng trai phố chật căng sứt chỉ mẻ khuy/ dăm vần thơ ngớ ngẩn mấy câu hát vu vơ/ ghi nguệch ngoạc trên cột nhà cánh cửa/ nhưng lại không hay biết/ nỗi buồn lo nghẹn tim thắt dạ mẹ cha: đứa con hứng hoa nâng trứng sắp rời xa/ ăn bữa cơm cuối cùng trên mâm gỗ nhà mình/ chỉ còn đêm nay ngồi trước ngọn đèn dưới mái nhà mình/ đủ anh chị em/ còn cha có mẹ/ chốc lát nữa lên xe ra trận/ giật mình/ chợt nhận ra những điều ngỡ xa lạ lắm/ lưng cha còng bao giờ sao mình không biết/ cánh tay mẹ nổi gân xanh, mỗi ngày xới cơm độn khoai cho con/ ta cũng chẳng hay/ đàn em nhỏ dại lép gầy/ trái bếp gió lùa vênh nắng mủn mưa/ đòn tay cột cái mối xông mọt nghiến”.

Trong thi ca Việt Nam, có khá nhiều trường ca viết về công cuộc giải phóng đất nước. Thế nhưng, Chiến tranh - chín khúc tưởng niệm có hai điểm độc đáo, mà các trường ca trước đó chưa đề cập hoặc đề cập tương đối nhạt nhòa, đó là khao khát giới tính của những người lính ngoài trận địa và sự dằn vặt của những người phụ nữ ở hậu phương.

Nguyễn Thái Sơn đã viết riêng một khúc Đàn ông và đàn bà để chia sẻ: “Thập kỉ sáu mươi/ đã có mấy người biết khái niệm đồng tính đồng giới/ lính trẻ chưa được ai dạy cách làm sướng mình/ chưa phải kiểm thảo không bị cản ngăn/ cứ ngỡ đã phát kiến ra điều kì diệu... /những người lính mình trần như nhộng/ nằm ôm nhau ngủ chung võng suốt đêm/ võng một hóa võng đôi/ trĩu nặng dềnh lên dập xuống như thuyền/ dây võng níu căng nghiêng cây tróc vỏ/ sên vắt thức giấc tìm mồi rào rạo lá khô/ dưới những tấm võng có từng vũng kiến nâu kiến gió...”.

Phía ngược lại, Nguyễn Thái Sơn bày tỏ sự cảm thông cho những thiếu thốn và bất hạnh của những người phụ nữ chỉ có được những phút giây chồng vợ ngắn ngủi: “Có chồng hai đêm/ chị chỉ là đàn bà tập sự/ thi cấy ở xã thi cày trong thôn/ nửa đêm vùng dậy tát nước gàu sòng/ uống nước mưa mặt cũng đỏ nhừ như say rượu/ tứ thời kìm nén/ quanh năm khát thèm/ vụ chiêm lại vụ mùa/ năm Mùi đến năm Thân/ thực tập làm đàn bà hai đêm/ đàn bà chính thức - gần mười năm thất nghiệp/ khép hờ cửa buồng/ lách vạt ngô già/ nấp bụi mía non/ thịt da ngút lửa tự đốt tự thiêu/ trưa ôm bao thóc/ chiều ghì cột nhà/ đêm quặp chăn ép gối...”.

Đọc trường ca Chiến tranh - chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn, độc giả càng thấu đáo hơn sự khốc liệt của đạn bom gây ra cách ngăn, gây ra lỡ làng, gây ra thống khổ: “Sau chiến tranh đàn ông càng khan càng đắt/ đàn ông được quyền chọn lựa/ đàn ông, phần thưởng của thiếu nữ, giải thưởng của đàn bà/ nhiều người phụ nữ chùng chình đi sớm về khuya/ tha thẩn đường thưa bãi vắng/ ra đồng tát nước nhổ cỏ giữa đêm/ khép cửa hờ khi ngủ.../ những người đàn bà không như Thị Nở/ vẫn ao ước gặp Chí Phèo/ một nửa đàn bà ở đất nước này góa chồng/ nhiều hơn thế, không được làm cô dâu/ ít hơn thế, bạc tóc vẫn còn là Trinh Nữ/ đắng lưỡi xót lòng/ che mưa dập lửa/ mắt lá răm đa tình/ mấy thời đẫm lệ/ một đời chưa khô...”.

Hơn ai hết, bằng thái độ của một người lính năm xưa, nhà thơ Nguyễn Thái Sơn nồng nhiệt cổ vũ hòa bình: “Có những người ngậm ngùi/ trước cảnh bình lặng của Hàm Rồng/ nuối tiếc một thời hào hùng không còn nữa/ những chiến tích đã lui vào quá khứ/ bọn trẻ hôm nay, bọn trẻ ngày mai/ cố tạo thêm những đất dầu, đất lúa, đất hoa/ chúng không cần thêm những đất lửa”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.