Tuổi mới 21 cha mẹ mất sớm bản tính thông minh Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách Gia Chư Tử… không sách nào không đọc. Hiểu rộng tam giáo cửu lưu mà về thơ văn từ phú lại càng tinh xảo. Triều đình mở khoa thi kén kẻ sĩ bèn thu xếp hành trang về kinh đô dự thí. Nhưng khảo quan ở trường thi theo quy định nói rằng hễ là con nhà ca xướng thì không được dự! Lộc Khê hầu Đào Duy Từ nổi giận chửi vỗ mặt ngay tại trường thi rồi đùng đùng trở về đất Văn Trai, Tĩnh Gia. Về sau, ông vào
Chỗ rẽ vào Vân Hoàn gặp chúng tôi hỏi thăm nhiều người mau mắn "Các bác vào nhà cụ Tú ạ chỗ tê, chỗ tê". Ai cũng một hai cụ Tú cụ Tú... Chao ôi cái bằng tú tài năm 1941 của nhà thơ Hữu Loan mới danh giá làm sao. Những tiến sĩ rồi trên cả tiến sĩ thời buổi này sao thiên hạ hững hờ quá vậy? Người Pháp chiểu danh sách những cậu tú điểm nhất nhì ba cho vời Hữu Loan can dự ngay vào cơ chế, nhưng Hữu Loan không ưng không ưa.
Không ưng không ưa là tính cách Hữu Loan hay là sức hút của cái thuở ban đầu tham gia Việt Minh đã khiến Hữu Loan vừa có sự chùng chình lẫn dứt khoát? Tôi gạ thêm: thời điểm ấy ở thị xã Thanh Hóa cuộc gặp với cụ Trần Trọng Kim với mục đích gì? Thi sĩ nói ngay là ông ấy giao cho mình chức Tổng đoàn trưởng thanh niên. Trần Trọng Kim phong cách cẩn trọng cởi mở dễ gần, kiến thức lúc đằm lúc lồ lộ uyên bác khiến Hữu Loan nể phục. Nể mà nhận chứ chưa có hoạt động gì vang danh lẫn ấn tượng.
Rồi phong trào của Mặt trận Việt minh vuột ông hẳn về một phía mà trọng trách cao nhất là Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Những ngày đầu tham gia chính quyền lâm thời của tỉnh Thanh Hóa, một lúc ông phụ trách 4 Ty (bây giờ là Sở) Giáo dục; Thông tin; Thương chính; Công chính. Ông cười bảo rằng, có lẽ ông không có khiếu lãnh đạo! Khiếu? Hóa ra ông không biết bợ đỡ cả nể kể cả cúi luồn nữa. Không ít những người thân thuộc họ hàng sau này chửi ông là ngu, khổ là phải, vì khi ấy ông cho cả làng vào làm nhân viên, làm công chức cũng được nữa là vài người. Nhưng ông đã thẳng thừng từ chối rằng bay hãy cứ đợi đã!
Chả có ai kiên gan để đợi được ông. Bởi ông đã tham gia Vệ Quốc đoàn phới thẳng vào theo đợt
Chả biết tính ngang thẳng bạo liệt của họ Vũ làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm có dây mơ rễ má chi với mạch đất Vân Hoàn, Nga Sơn, nơi sinh thi sĩ Hữu Loan không nhưng được ông tướng Nguyễn Sơn coi như bạn tâm giao. Nâng chén rượu trắng Nga Sơn lên nhưng thi sĩ lại đặt xuống. Ông nheo mắt nói mãi về một Nguyễn Sơn tài danh ngang tàng phóng túng trên đất Thanh những năm cuối 40 mà ông thi thoảng lại cặp kè. Đâu đó lác đác có những đêm tâm giao bên chén rượu. Nhưng không túy lúy bét nhè mà như ông từng giảng cho tôi nghe câu "Tri kỳ vị, tri kỳ hương, tri kỳ ảo, tri kỳ linh" (uống phải biết vị, biết hương, biết cái huyền ảo và linh hồn của rượu. Nghe mà chợt cám cảnh cho thi sĩ.
Hằng bao năm ông vẫn dùng bữa đực bữa cái cái thứ rượu ngang cất bằng sắn bằng ngô trắng ởn cay nống đặc xịt vị độc anđêhyt). Người vợ mới của tướng quân, bà Hằng Huân em vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan cũng một tay ông mai mối. Ông thở dài khi kể cái đoạn ông từng đùng đùng bỏ cuộc cà phê mà tướng Nguyễn Sơn mời bạn bè về nhà riêng cũng chỉ tại cái riđô hoa cà chăng ngang gian khách với buồng ngủ mà ông thấy chướng mắt anh là đồ tiểu tư sản. Chủ nhiệm tờ báo Vệ quốc Hữu Loan của Sư 304 đã độp thẳng vào mặt ông tướng như vậy! Kèm theo một cái thở dài nữa khi ông bộc bạch tiếc rằng mình hơi kém duyên không được ở lâu với con người ấy và người ấy cũng không được bén duyên bằng hữu với anh em. Cái thở dài sau cùng là nhớ tiếc một tài danh, một tính cách nhưng mệnh yểu. Tưởng bao thứ vất vưởng buồn khổ lẫn nhố nhăng khiến mạch nhớ của ông đứt đoạn nhưng vẫn ào ào tuôn chảy hào sảng khi ông mồn một những câu trong một tráng ca khóc tướng Nguyễn Sơn năm 1956: … "đám tang đi/ không bao giờ đến huyệt/ Nguyễn Sơn như một con tàu khổng lồ/ mang giông tố đại dương/ đi đến đâu không cho sóng ngủ...". --PageBreak--
Lâu rồi, tôi nghe câu được câu chăng cái đoạn đêm trước khi ông bỏ tờ Văn Nghệ rời Hà thành về núi Vân Hoàn ở hẳn. Chưa tiện biên trích ra đây những gì ông và nhạc sĩ Văn Cao đã trao đổi với nhau gần như suốt đêm cứ loanh quanh bên hồ Thiền Quang. Hồi ấy ông chưa biết có một Nguyên Hồng đột ngột cứng cỏi ngang ngạnh rằng tao đ. chơi với chúng mày nữa khi chất nồi niêu thúng mủng từ biệt Thủ đô mà về ấp Cầu Đen ở Bắc Giang. Nếu có biết ông cũng chả học theo kiểu Nguyên Hồng nhưng hai người có lẽ gặp nhau ở cái sự tiết tháo không chịu được nhục? Tôi không mấy tin duyên do chính là cái cớ người ta dè bỉu "Màu tím hoa sim" là tạch tạch sè tiểu tư sản mềm yếu ủy mị xúc phạm đến tình yêu của ông với người vợ cũ Đỗ Thị Ninh khiến ông nổi xung lên. Mà phải là cái gì kia, không ghê gớm lắm như ông nói chỉ là cái thói gian dối trong đám quan chức lẫn văn bút mà ông rất chi là dị ứng!
Câu chuyện một chiều muộn ngả sang cái đoạn ông đi đánh đá ven chân núi Vân Hoàn bán gạo để nuôi một đàn con lít nhít mà đâu có yên để hành cái nghề thổ mộc nặng nhọc khốn khổ ấy. Vẫn có người theo dõi cật vấn ông. Cả những lý do nhố nhăng thi thoảng lại hạch hỏi giấy tờ. Như người ta nhịn đi cho yên nhưng có mấy lần ông cự lại. Mà không cự bằng lời bằng miệng mới rách việc. Với nắm đấm gân guốc của người quen tay với việc thổ mộc, ông tương thẳng vào mặt bọn hàm hồ. Kết cục ông bị chúng đánh cho tơi tả, đêm về nằm ổ rơm cho bà vợ nước mắt lã chã bóp lá cúc tần.
Có một ông chức quan cũng kha khá ở Hà Nội là chỗ quen biết chúng với mấy anh em không hề can dự vào việc viết lách nhưng một lần cứ đòi theo đám chúng tôi ghé ông. Hỏi lý do thì ông cười, các ông xem cụ Hữu Loan có để lại nhiều tác phẩm lắm đâu. Tất nhiên có những văn nhân người đời nắc nỏm danh lưu hậu thế chỉ một bài, một cuốn sách... Nhưng cụ Hữu Loan tôi phục nhất là cái tiết tháo. Mà thứ ấy bây giờ kiếm được, lùng được khó lắm. Tôi biết cụ dị ứng với các loại quan chức. Có vào các ông cũng đừng giới thiệu kẻo cụ đuổi ra. Bữa ấy, nhân chén rượu trắng, hăng lên tôi cứ giới thiệu bừa nhưng thi sĩ chả đuổi mà còn mời rượu nữa...
Bặt đi một thời gian dài, tôi không được hầu chuyện ông cũng là có duyên do cả. Cùng quê Nga Sơn với thi sĩ là nhóm thơ nhóm viết những anh Đỗ Xuân Thanh, Lã Hoan, Trịnh Thanh Sơn mà thi sĩ rất quý. Riêng nhà thơ Trịnh Thanh Sơn có khí chất cũng tờ tợ như nhà thơ Hữu Loan. Tôi thi thoảng được hầu cũng là đi ké với các anh như thế. Oái oăm cái nỗi cả ba anh, mỗi người lần lượt theo nhau mà đi vì bạo bệnh. Được hầu chuyện ông là cái vui, là cái may nhưng nhõn một mình như thế thấy chống chếnh thế nào. Năm ngoái có hai cuộc chống chếnh như thế... Trong đó có cuộc đưa anh bạn làm phim ở phía
Điều ưng ý với cả nhóm có lẽ là chứng kiến cảnh cô cháu nội học lớp 9 của nhà thơ cùng thi sĩ song đọc với nhau bài thơ Hoa Lúa mà ông nói hồi ấy viết tặng bà vợ bây giờ. Bà vợ mà những năm khốn khó quang gánh tất tả làm trộm bánh cuốn bánh đa bán dấm dúi ở các chợ, phụ giúp với việc đánh đá của chồng nuôi 10 đứa con nay tất thảy đều phương trưởng những dâu rể và hơn 40 đứa cháu nội ngoại.
Người ta nói tính cách vùng miền họp nên thứ quốc tính của dân tộc. Chả biết nữa, nhưng có lẽ tính cách xứ Thanh, dẫu thế này thế khác cũng đã can dự vào việc neo giữ sự ấm êm của mái nhà này qua bao phen tao loạn tưởng như tan tác?
Bửng tưng sáng nay, nghe đài thông báo cái tin "Màu tím hoa sim" đã về trời bỗng giật thột tưởng như sắc cước mái tóc bồng bềnh của thi sĩ Hữu Loan đang rung rung bên mái đầu xanh cháu nội khi hai ông cháu hòa giọng cùng Hoa Lúa: Ta đi/ đầu sát bên đầu/ Mắt em/ thăm thẳm/ đựng/ mầu trời quê. Chao ôi, thiếu chi những loài hoa, giống hoa mà là hoa lúa? Chỉ có giống thi sĩ lẫn... tính cách Thanh mới có lúc mềm đi như thế!