Tết này con viết về cha

Ngày còn sống, Tết nào cha tôi cũng mời bạn bè, học trò đến ăn cơm vào ngày mùng Hai, mùng Ba. Khách thường là những người sống độc thân hoặc mấy vị giáo sư, sinh viên nước ngoài ở Việt Nam. Tính ông vốn vậy, xởi lởi, muốn chia sẻ niềm vui và nỗi buồn với học trò, bạn bè và bốn xung quanh họ hàng làng xóm.

Sống ở khu Tập thể Kim Liên gần 40 năm, cứ chiều mùng Một Tết là ông bắt đầu lọ mọ đi chúc Tết các chú, các dì và bà con hàng xóm. Lắm hôm, mẹ tôi phải nhắc: "Bố cứ sốt sắng thế, có nhiều nhà họ chọn tuổi xông đất, họ kiêng đấy!... Những ai không đến chúc năm mới được thì ông đi từ trước. Cứ ngoài hai mươi tháng Chạp ta là cha tôi bắt đầu đi chúc Tết thông gia và những người đã giúp đỡ ông trong năm đã qua. Quà không nhiều, chỉ chai rượu, hộp bánh, nhưng theo ông, đó là sự thể hiện tình nghĩa, lòng biết ơn. Ông thích quan tâm, lo lắng cho mọi người

Đợt nào đi công tác về, ông cũng mua quà, mua cho mẹ tôi và con cháu đã đành, ông còn gọi cháu giúp việc ra bảo: "Con nhớ giúp bà cho tốt, ông thưởng quà cho con đây". Khách đến chơi, nhiều người cứ nghĩ đấy là cháu chắt của ông, chứ không phải là người mình thuê giúp việc nhà.

Sau này, ông đi xa, các thế hệ cựu sinh viên Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn, đã góp công, góp sức, góp kinh phí in một cuốn sách về ông - Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phan Cự Đệ - với tiêu đề: "Bút danh người còn mãi với thời gian". Tôi cứ nghĩ, ngoài bộ sách Tuyển tập Phan Cự Đệ gần 3.000 trang với mấy chục đầu sách, thì gia tài ông để lại cho đời, chính là tình người, là cái đạo làm người.

Không phải ngẫu nhiên mà các nhà báo, nhà giáo, nhà văn hoá… đã viết về ông với những tình cảm hiện trên từng con chữ: "Thầy tôi", "Giản dị như chiếc lá Bồ Đề", "Còn mãi Trí tuệ - Tình thương"….

Chan chứa tình người

Đọc cuốn sách, tôi mới hiểu tại sao các anh chị học trò cũ lại yêu thương, kính trọng ông đến vậy. Nhớ về ông là nhớ về bát cơm rang nóng sốt thời bao cấp, mà ông đã bảo người nhà "thết đãi" những sinh viên nghèo, khi họ đang cố kìm cơn đói sau giờ học trên giảng đường. Nói chung cái thời ấy, trò nghèo, thầy cũng nghèo, nhưng yêu quí nhau lắm.

Nhiều sinh viên nghèo ngoại tỉnh ra trường không có việc làm được cha tôi tận tình giới thiệu, tìm việc làm. Thậm chí ông tìm đề tài nghiên cứu, viết sách, rồi giúp sinh viên cùng đứng tên, để giúp các anh chị mới ra trường có điểm tựa cắm chân và phát triển ở chốn đô thành phồn hoa, nhưng nghiệt ngã.

Không chỉ là sự giúp đỡ mang tính vật chất, cha tôi còn là điểm tựa tinh thần cho nhiều người xung quanh những lúc khó khăn.PGS,TS. Nguyễn Thành Hưng, giờ đã ngót nghét sáu mươi, vẫn còn nhớ những lời động viên và sự bao dung của người thầy cũ, khi anh từ chối vị trí trợ giảng cho thầy, sau khi được thầy hướng dẫn luận án. Anh buộc lòng chuyển sang tổ bộ môn khác, để dễ có suất đi nghiên cứu sinh nước ngoài, hòng "cứu nhà, cứu nước" trong cái thiếu thốn quắt quay của thời kỳ bao cấp.

TS. Nguyễn Thành Hưng viết: "Trước khi về, tôi còn nghe thầy an ủi tôi bằng một giọng suốt đời tôi không bao giờ quên: Anh không phải là người đầu tiên đâu… Nhiều người bỏ tôi lắm…. Cái số tôi nó vậy, văn học 30 - 45 nó vậy… Cố học ngoại ngữ và làm lý luận một dạo đi cho vững rồi bắt tay vào văn học sử. Tôi sẽ giúp. Đi được nước ngoài sớm thì tốt".

Chả là cái thời bao cấp ấy, dạy văn học sử trong nước thì đói lắm và chẳng có cơ hội đi nước ngoài. Người thầy cũ không những không giận anh Hưng, mà còn nhiệt tình giúp anh thi đỗ nghiên cứu sinh, và sau này lại xót xa kiếm việc làm thêm cho anh sau chuyến đi nghiên cứu sinh dang dở (vì sự cố đầu những năm 90 ở Liên Xô cũ và Đông Âu).

Người giúp đỡ anh Hưng chắc có nhiều, nhưng anh nhớ cha tôi có lẽ vì tấm lòng bao dung của ông là chính. Lại là người nghĩa tình, Tết nào anh và nhiều anh chị học trò cũng đến tâm sự với cha tôi trước tấm ảnh ông. Ca sĩ trẻ Hà Linh cũng vậy. Chị tâm sự: "Hành trang thầy cho tôi không chỉ là kiến thức. Tôi học ở thầy sự thanh thản và thiện tâm, nên cho dù sau này sóng gió cuộc đời ập đến khi tôi còn quá trẻ, tôi vẫn vững vàng vượt qua, không gục ngã, bởi tâm tôi thanh thản".

Vâng, phải sống thiện tâm, bao dung và giữ chữ tín, cha vẫn thường dạy tôi như vậy. Ông còn khuyên tôi phải bao dung, ngay cả với những người chơi xấu với mình: "Phải nghĩ rằng, có thể họ làm vậy là do hoàn cảnh, còn nếu do tính cách, thì cuộc sống vốn dĩ rất công bằng, con ạ. Hãy cứ tin vào thuyết nhân quả và hãy đứng trên cao mà sống, mà mở lòng yêu thương mọi người".

Có một nhà sư đến làm khóa lễ cho cha tôi sau này đã nói rằng, kiếp trước ông có căn tu hành và kiếp này ông sống có tâm, nên trời thương, chỉ bắt chịu hai chữ Sinh - Tử, thay vì bốn chữ Sinh - Lão - Bệnh - Tử như lẽ thường.Không biết điều ấy có đúng hay không, nhưng tôi thì nghĩ rằng, ông sống nhân hậu, bao dung, vì ông đã phải vượt qua nhiều khó khăn, để làm nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng.

Khổ nhiều, nên dễ hoà đồng, cảm thông với những cảnh ngộ, thân phận. Vốn là hậu duệ mấy đời của Lang trung Bộ Binh Phan Duy Thanh - một đồ đệ trung thành của cụ Tôn Thất Thuyết trong phong trào Cần Vương, và là chút ngoại của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn, nhưng hoàn cảnh buộc GS Phan Cự Đệ phải tự lập sớm. Từ cấp hai ông đã phải vừa học, vừa đi làm gia sư để kiếm sống. Có khi phải làm gia sư ở một nhà cực nghèo, sáng theo chủ đi cày, chiều dạy con nhà chủ, tối đến trường. Vậy mà một năm ông vẫn lên hai lớp.

Thời kỳ ra Hà Nội chuẩn bị thi vào Đại học Tổng hợp, ông được một tốp bạn bè trong Nghệ ra thi. Họ nuôi ông hai tháng để vừa chờ đợi, vừa ôn thi. Lúc ấy, ông lo nấu cơm, giặt giũ quần áo cho cả tốp. Thời ấy, học Đại học Tổng hợp không có học bổng, ông phải bươn chải nhiều để trụ được ở đất Hà thành. Cha kể với tôi ngày tôi đỗ đại học rằng, những mùa đông còn là sinh viên, đói và rét lắm, rét hơn miền Trung quê ông. Có cậu bạn nhà giàu mải chơi hay nhờ ông giảng hộ bài, thỉnh thoảng cậu đãi ông bát phở. Có lẽ vì nghe ông kể, mà những bát phở nấu bằng nước ao cạnh cổng trường đại học ngày ấy sao mà lũ sinh viên chúng tôi cảm thấy ngon đến thế.

Một người cha, người chồng mẫu mực

Tôi luôn coi cha là hình mẫu lý tưởng để chọn bạn trước khi lập gia đình. Không rượu chè, không cờ bạc, sống có ý chí, nghị lực và rất có trách nhiệm với gia đình.Ngày tôi mới lên bốn, lên năm, có thời kỳ mẹ mệt, hai cha con đi sơ tán ở Đại Từ, Bắc Thái cùng Trường Đại học Tổng hợp.

Ở nhờ nhà cụ Trương Cáp, sáng nào ông cũng ra quét sân, quét vườn. Có miếng thịt trâu liên hoan ở trường, cha cũng đem phần về cho cụ Trương nên cụ quí lắm. Tôi tha thẩn cả ngày ngoài đồng chơi với lũ trẻ thôn quê. Chiều, cha đi dạy về, dỗ tôi ra giếng gần khe núi để tắm. Ông dỗ tôi bằng những con cua đá bé tẹo bò ra từ lòng giếng.

Ở sơ tán, cơm chỉ có cà chua ngoài vườn cụ Trương chưng lên và ít lạc, vậy mà bữa nào cha cũng động viên tôi ăn ba bát, nên cha con chẳng đau ốm gì cả. Tối, khi tôi đã lên giường, ông vẫn chong đèn dầu ngồi viết. Sau này, khi đã lên mười, tôi vẫn khoái nghe ông kể chuyện "Tây du ký" ru thằng em ngủ. Có những lúc chính người kể cũng buồn ngủ, liền "sáng tác" cho Tôn Ngộ Không "đánh nhau" với Tào Tháo(?!). Tôi liền lay ông dậy và hai cha con cười rũ ra. Ông tỉnh ngủ lại ra làm việc ở "buồng đẻ" (cái ban công 5m2 che nilông và che liếp, là nơi làm việc và cho ra đời mấy chục đầu sách của ông).

Cha tôi tình cảm nhưng cũng rất nghiêm. Lên chín, tôi được cha cõng đi quanh nhà, mỗi khi được điểm mười. Nhưng bị điểm kém hay cãi bậy thì coi chừng thước kẻ vào tay. Cha đánh đau lắm, giống như ông nội tôi ngày xưa, làm thầy đồ Nho nên rất nghiêm khắc. Có lẽ chính vì thế mà tôi thành người, lo học hành, biết kiềm chế các ý thích vượt quá khả năng của mình và của gia đình.

Cha tôi là người có hiếu. Không phải con cả, nhưng ông luôn chu đáo với dòng họ, với Hội đồng hương, với cha mẹ, anh em. Ngày bao cấp thiếu thốn lắm, nhưng hễ có nhuận bút là ông lại mua giò, chả, bánh trái về biếu ông bà nội. Ông kể bà nội tôi đã tần tảo, vất vả gánh vác việc nhà chồng và nuôi dạy tám người con ra sao. Bà nội tôi hợp tính và thương cha tôi lắm.

Ngày bé, có lần tôi hỏi cha: "Tại sao cha chọn mẹ?". Tôi đinh ninh ông sẽ trả lời vì mẹ tôi đẹp, lại con nhà dòng dõi. Vậy mà ông lại nói: "Vì mẹ con biết cư xử, có hiếu với ông bà nội". Tôi không hỏi, ngày ở quê và sau này có ai đã từng là "Nàng Thơ" của ông hay không, nhưng cha thương và chăm mẹ tôi lắm.

Mẹ tôi không khoẻ, nhưng cứ ham đi học ngoại ngữ, rồi dạy thêm giờ để đỡ gánh nặng kinh tế cho chồng. Có lần, mẹ nhịn đói đi dạy, ngã ngất ở trường. Từ ngày ấy, cha tôi kiên quyết không cho mẹ dạy thêm, ông còn thuê người giúp việc lo việc nhà, mặc dù nhà tôi ngày ấy cũng khó khăn, thường xuyên phải nợ tiền công, khi nào bố tôi ra sách mới có tiền trả. Ông rất nhớ mua quà ngày sinh nhật, ngày lễ cho mẹ tôi và các con, các cháu, mặc dù con cháu cũng bận làm, bận học, chẳng chăm sóc ông được nhiều.

Dù bận viết sách, bận đi dạy, bận công việc quản lý Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Quốc tế, nhưng hễ vắng người giúp việc, là ông tranh rửa bát và giặt giũ thay mẹ tôi. Lúc nào ông cũng dặn tôi, mẹ con ốm lắm đấy, phải chăm mẹ cẩn thận. Thế nhưng bản thân mình có bệnh thì ông lại giấu, lúc nào cũng bảo bố khoẻ lắm, không phải đi khám bệnh đâu.

Ông viết phê bình với trái tim của một nhà thơ, một nghệ sĩ lãng mạn. Không phải ngẫu nhiên mà ông gắn bó suốt đời với Thơ mới và văn học Việt Nam 1930 - 1945. Đấy là trong trang sách, còn ngoài đời, ông lúc nào cũng ăn mặc lịch sự, đàng hoàng và tính tình rất rộng rãi. Không đẹp, nhưng thông minh, dí dỏm, với vầng trán cao và đôi mắt sáng.

Tôi đồ rằng với cuộc đời nhà giáo 50 năm có lẻ của ông, không ít nữ sinh đã say mê tài ăn nói, sự lịch lãm và tấm lòng nhân hậu của ông. Mẹ tôi nói: "Bố tài giỏi và đào hoa, nhưng bố say mê công việc và biết kiềm chế mình". Tôi trộm nghĩ, ông - một con người chan chứa tình cảm - chắc không chỉ một lần rung động trước cái đẹp và tình người. Những tình cảm ấy ông đã dồn cả vào những trang viết thấm đẫm tình cảm, trí tuệ, vào những bài thơ, bài hát mà ông đã sáng tác cuối đời.

Cho đến giờ, bên tai tôi vẫn văng vẳng lời ca của Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung trong Đêm thơ nhạc Phan Cự Đệ: "Hàn Mặc Tử ơi! Đọc thơ anh lòng tôi muốn khóc. Thương nhớ người thi sĩ khôn nguôi. Hàn Mặc Tử ơi! Phượng Hoàng si dại. Yêu một đời thao thức những vầng trăng…". Trái tim người nghệ sĩ là trái tim luôn rung động trước tình đời, tình người. Và đó là những gì còn mãi với thời gian. Hiểu được tấm tình ấy, hiểu được tình cảm của cha tôi với những nhà văn, nhà thơ ông yêu thích suốt cuộc đời cầm bút, mà Hàn Mặc Tử là một ví dụ, cái Tết này tôi đã thực hiện được ước mong của ông: đến Qui Nhơn thăm quê hương của thi sĩ họ Hàn.

Trong giấc mơ, tôi thấy cha mỉm cười và mẹ đang chuẩn bị hành trang cho ông sang Mỹ giới thiệu về văn học Việt Nam, giới thiệu cả thơ thi sĩ họ Hàn. Mùa xuân này, chắc ông và bạn văn chương đang vui lắm. Xin được gửi một cái Tết an lành, hạnh phúc và thành công tới muôn nhà, và xin gửi tới cả nơi xa xôi ấy - nơi có cha tôi và những tâm hồn nghệ sĩ đang bay trong niềm vui của Đất Nước - Mùa Xuân.

Qui Nhơn - Hà Nội, Xuân 2010

Phan Quỳnh Anh

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.