Sống ở khu Tập thể Kim Liên gần 40 năm, cứ chiều mùng Một Tết là ông bắt đầu lọ mọ đi chúc Tết các chú, các dì và bà con hàng xóm. Lắm hôm, mẹ tôi phải nhắc: "Bố cứ sốt sắng thế, có nhiều nhà họ chọn tuổi xông đất, họ kiêng đấy!... Những ai không đến chúc năm mới được thì ông đi từ trước. Cứ ngoài hai mươi tháng Chạp ta là cha tôi bắt đầu đi chúc Tết thông gia và những người đã giúp đỡ ông trong năm đã qua. Quà không nhiều, chỉ chai rượu, hộp bánh, nhưng theo ông, đó là sự thể hiện tình nghĩa, lòng biết ơn. Ông thích quan tâm, lo lắng cho mọi người
Đợt nào đi công tác về, ông cũng mua quà, mua cho mẹ tôi và con cháu đã đành, ông còn gọi cháu giúp việc ra bảo: "Con nhớ giúp bà cho tốt, ông thưởng quà cho con đây". Khách đến chơi, nhiều người cứ nghĩ đấy là cháu chắt của ông, chứ không phải là người mình thuê giúp việc nhà.
Sau này, ông đi xa, các thế hệ cựu sinh viên Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn, đã góp công, góp sức, góp kinh phí in một cuốn sách về ông - Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phan Cự Đệ - với tiêu đề: "Bút danh người còn mãi với thời gian". Tôi cứ nghĩ, ngoài bộ sách Tuyển tập Phan Cự Đệ gần 3.000 trang với mấy chục đầu sách, thì gia tài ông để lại cho đời, chính là tình người, là cái đạo làm người.
Không phải ngẫu nhiên mà các nhà báo, nhà giáo, nhà văn hoá… đã viết về ông với những tình cảm hiện trên từng con chữ: "Thầy tôi", "Giản dị như chiếc lá Bồ Đề", "Còn mãi Trí tuệ - Tình thương"….
Chan chứa tình người
Đọc cuốn sách, tôi mới hiểu tại sao các anh chị học trò cũ lại yêu thương, kính trọng ông đến vậy. Nhớ về ông là nhớ về bát cơm rang nóng sốt thời bao cấp, mà ông đã bảo người nhà "thết đãi" những sinh viên nghèo, khi họ đang cố kìm cơn đói sau giờ học trên giảng đường. Nói chung cái thời ấy, trò nghèo, thầy cũng nghèo, nhưng yêu quí nhau lắm.
Nhiều sinh viên nghèo ngoại tỉnh ra trường không có việc làm được cha tôi tận tình giới thiệu, tìm việc làm. Thậm chí ông tìm đề tài nghiên cứu, viết sách, rồi giúp sinh viên cùng đứng tên, để giúp các anh chị mới ra trường có điểm tựa cắm chân và phát triển ở chốn đô thành phồn hoa, nhưng nghiệt ngã.
Không chỉ là sự giúp đỡ mang tính vật chất, cha tôi còn là điểm tựa tinh thần cho nhiều người xung quanh những lúc khó khăn.PGS,TS. Nguyễn Thành Hưng, giờ đã ngót nghét sáu mươi, vẫn còn nhớ những lời động viên và sự bao dung của người thầy cũ, khi anh từ chối vị trí trợ giảng cho thầy, sau khi được thầy hướng dẫn luận án. Anh buộc lòng chuyển sang tổ bộ môn khác, để dễ có suất đi nghiên cứu sinh nước ngoài, hòng "cứu nhà, cứu nước" trong cái thiếu thốn quắt quay của thời kỳ bao cấp.
TS. Nguyễn Thành Hưng viết: "Trước khi về, tôi còn nghe thầy an ủi tôi bằng một giọng suốt đời tôi không bao giờ quên: Anh không phải là người đầu tiên đâu… Nhiều người bỏ tôi lắm…. Cái số tôi nó vậy, văn học 30 - 45 nó vậy… Cố học ngoại ngữ và làm lý luận một dạo đi cho vững rồi bắt tay vào văn học sử. Tôi sẽ giúp. Đi được nước ngoài sớm thì tốt".
Chả là cái thời bao cấp ấy, dạy văn học sử trong nước thì đói lắm và chẳng có cơ hội đi nước ngoài. Người thầy cũ không những không giận anh Hưng, mà còn nhiệt tình giúp anh thi đỗ nghiên cứu sinh, và sau này lại xót xa kiếm việc làm thêm cho anh sau chuyến đi nghiên cứu sinh dang dở (vì sự cố đầu những năm 90 ở Liên Xô cũ và Đông Âu).
Người giúp đỡ anh Hưng chắc có nhiều, nhưng anh nhớ cha tôi có lẽ vì tấm lòng bao dung của ông là chính. Lại là người nghĩa tình, Tết nào anh và nhiều anh chị học trò cũng đến tâm sự với cha tôi trước tấm ảnh ông. Ca sĩ trẻ Hà Linh cũng vậy. Chị tâm sự: "Hành trang thầy cho tôi không chỉ là kiến thức. Tôi học ở thầy sự thanh thản và thiện tâm, nên cho dù sau này sóng gió cuộc đời ập đến khi tôi còn quá trẻ, tôi vẫn vững vàng vượt qua, không gục ngã, bởi tâm tôi thanh thản".
Vâng, phải sống thiện tâm, bao dung và giữ chữ tín, cha vẫn thường dạy tôi như vậy. Ông còn khuyên tôi phải bao dung, ngay cả với những người chơi xấu với mình: "Phải nghĩ rằng, có thể họ làm vậy là do hoàn cảnh, còn nếu do tính cách, thì cuộc sống vốn dĩ rất công bằng, con ạ. Hãy cứ tin vào thuyết nhân quả và hãy đứng trên cao mà sống, mà mở lòng yêu thương mọi người".
Có một nhà sư đến làm khóa lễ cho cha tôi sau này đã nói rằng, kiếp trước ông có căn tu hành và kiếp này ông sống có tâm, nên trời thương, chỉ bắt chịu hai chữ Sinh - Tử, thay vì bốn chữ Sinh - Lão - Bệnh - Tử như lẽ thường.Không biết điều ấy có đúng hay không, nhưng tôi thì nghĩ rằng, ông sống nhân hậu, bao dung, vì ông đã phải vượt qua nhiều khó khăn, để làm nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng.
Khổ nhiều, nên dễ hoà đồng, cảm thông với những cảnh ngộ, thân phận. Vốn là hậu duệ mấy đời của Lang trung Bộ Binh Phan Duy Thanh - một đồ đệ trung thành của cụ Tôn Thất Thuyết trong phong trào Cần Vương, và là chút ngoại của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn, nhưng hoàn cảnh buộc GS Phan Cự Đệ phải tự lập sớm. Từ cấp hai ông đã phải vừa học, vừa đi làm gia sư để kiếm sống. Có khi phải làm gia sư ở một nhà cực nghèo, sáng theo chủ đi cày, chiều dạy con nhà chủ, tối đến trường. Vậy mà một năm ông vẫn lên hai lớp.
Thời kỳ ra Hà Nội chuẩn bị thi vào Đại học Tổng hợp, ông được một tốp bạn bè trong Nghệ ra thi. Họ nuôi ông hai tháng để vừa chờ đợi, vừa ôn thi. Lúc ấy, ông lo nấu cơm, giặt giũ quần áo cho cả tốp. Thời ấy, học Đại học Tổng hợp không có học bổng, ông phải bươn chải nhiều để trụ được ở đất Hà thành. Cha kể với tôi ngày tôi đỗ đại học rằng, những mùa đông còn là sinh viên, đói và rét lắm, rét hơn miền Trung quê ông. Có cậu bạn nhà giàu mải chơi hay nhờ ông giảng hộ bài, thỉnh thoảng cậu đãi ông bát phở. Có lẽ vì nghe ông kể, mà những bát phở nấu bằng nước ao cạnh cổng trường đại học ngày ấy sao mà lũ sinh viên chúng tôi cảm thấy ngon đến thế.
Một người cha, người chồng mẫu mực
Tôi luôn coi cha là hình mẫu lý tưởng để chọn bạn trước khi lập gia đình. Không rượu chè, không cờ bạc, sống có ý chí, nghị lực và rất có trách nhiệm với gia đình.Ngày tôi mới lên bốn, lên năm, có thời kỳ mẹ mệt, hai cha con đi sơ tán ở Đại Từ, Bắc Thái cùng Trường Đại học Tổng hợp.
Ở nhờ nhà cụ Trương Cáp, sáng nào ông cũng ra quét sân, quét vườn. Có miếng thịt trâu liên hoan ở trường, cha cũng đem phần về cho cụ Trương nên cụ quí lắm. Tôi tha thẩn cả ngày ngoài đồng chơi với lũ trẻ thôn quê. Chiều, cha đi dạy về, dỗ tôi ra giếng gần khe núi để tắm. Ông dỗ tôi bằng những con cua đá bé tẹo bò ra từ lòng giếng.
Ở sơ tán, cơm chỉ có cà chua ngoài vườn cụ Trương chưng lên và ít lạc, vậy mà bữa nào cha cũng động viên tôi ăn ba bát, nên cha con chẳng đau ốm gì cả. Tối, khi tôi đã lên giường, ông vẫn chong đèn dầu ngồi viết. Sau này, khi đã lên mười, tôi vẫn khoái nghe ông kể chuyện "Tây du ký" ru thằng em ngủ. Có những lúc chính người kể cũng buồn ngủ, liền "sáng tác" cho Tôn Ngộ Không "đánh nhau" với Tào Tháo(?!). Tôi liền lay ông dậy và hai cha con cười rũ ra. Ông tỉnh ngủ lại ra làm việc ở "buồng đẻ" (cái ban công 5m2 che nilông và che liếp, là nơi làm việc và cho ra đời mấy chục đầu sách của ông).
Cha tôi tình cảm nhưng cũng rất nghiêm. Lên chín, tôi được cha cõng đi quanh nhà, mỗi khi được điểm mười. Nhưng bị điểm kém hay cãi bậy thì coi chừng thước kẻ vào tay. Cha đánh đau lắm, giống như ông nội tôi ngày xưa, làm thầy đồ Nho nên rất nghiêm khắc. Có lẽ chính vì thế mà tôi thành người, lo học hành, biết kiềm chế các ý thích vượt quá khả năng của mình và của gia đình.
Cha tôi là người có hiếu. Không phải con cả, nhưng ông luôn chu đáo với dòng họ, với Hội đồng hương, với cha mẹ, anh em. Ngày bao cấp thiếu thốn lắm, nhưng hễ có nhuận bút là ông lại mua giò, chả, bánh trái về biếu ông bà nội. Ông kể bà nội tôi đã tần tảo, vất vả gánh vác việc nhà chồng và nuôi dạy tám người con ra sao. Bà nội tôi hợp tính và thương cha tôi lắm.
Ngày bé, có lần tôi hỏi cha: "Tại sao cha chọn mẹ?". Tôi đinh ninh ông sẽ trả lời vì mẹ tôi đẹp, lại con nhà dòng dõi. Vậy mà ông lại nói: "Vì mẹ con biết cư xử, có hiếu với ông bà nội". Tôi không hỏi, ngày ở quê và sau này có ai đã từng là "Nàng Thơ" của ông hay không, nhưng cha thương và chăm mẹ tôi lắm.
Mẹ tôi không khoẻ, nhưng cứ ham đi học ngoại ngữ, rồi dạy thêm giờ để đỡ gánh nặng kinh tế cho chồng. Có lần, mẹ nhịn đói đi dạy, ngã ngất ở trường. Từ ngày ấy, cha tôi kiên quyết không cho mẹ dạy thêm, ông còn thuê người giúp việc lo việc nhà, mặc dù nhà tôi ngày ấy cũng khó khăn, thường xuyên phải nợ tiền công, khi nào bố tôi ra sách mới có tiền trả. Ông rất nhớ mua quà ngày sinh nhật, ngày lễ cho mẹ tôi và các con, các cháu, mặc dù con cháu cũng bận làm, bận học, chẳng chăm sóc ông được nhiều.
Dù bận viết sách, bận đi dạy, bận công việc quản lý Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Quốc tế, nhưng hễ vắng người giúp việc, là ông tranh rửa bát và giặt giũ thay mẹ tôi. Lúc nào ông cũng dặn tôi, mẹ con ốm lắm đấy, phải chăm mẹ cẩn thận. Thế nhưng bản thân mình có bệnh thì ông lại giấu, lúc nào cũng bảo bố khoẻ lắm, không phải đi khám bệnh đâu.
Ông viết phê bình với trái tim của một nhà thơ, một nghệ sĩ lãng mạn. Không phải ngẫu nhiên mà ông gắn bó suốt đời với Thơ mới và văn học Việt Nam 1930 - 1945. Đấy là trong trang sách, còn ngoài đời, ông lúc nào cũng ăn mặc lịch sự, đàng hoàng và tính tình rất rộng rãi. Không đẹp, nhưng thông minh, dí dỏm, với vầng trán cao và đôi mắt sáng.
Tôi đồ rằng với cuộc đời nhà giáo 50 năm có lẻ của ông, không ít nữ sinh đã say mê tài ăn nói, sự lịch lãm và tấm lòng nhân hậu của ông. Mẹ tôi nói: "Bố tài giỏi và đào hoa, nhưng bố say mê công việc và biết kiềm chế mình". Tôi trộm nghĩ, ông - một con người chan chứa tình cảm - chắc không chỉ một lần rung động trước cái đẹp và tình người. Những tình cảm ấy ông đã dồn cả vào những trang viết thấm đẫm tình cảm, trí tuệ, vào những bài thơ, bài hát mà ông đã sáng tác cuối đời.
Cho đến giờ, bên tai tôi vẫn văng vẳng lời ca của Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung trong Đêm thơ nhạc Phan Cự Đệ: "Hàn Mặc Tử ơi! Đọc thơ anh lòng tôi muốn khóc. Thương nhớ người thi sĩ khôn nguôi. Hàn Mặc Tử ơi! Phượng Hoàng si dại. Yêu một đời thao thức những vầng trăng…". Trái tim người nghệ sĩ là trái tim luôn rung động trước tình đời, tình người. Và đó là những gì còn mãi với thời gian. Hiểu được tấm tình ấy, hiểu được tình cảm của cha tôi với những nhà văn, nhà thơ ông yêu thích suốt cuộc đời cầm bút, mà Hàn Mặc Tử là một ví dụ, cái Tết này tôi đã thực hiện được ước mong của ông: đến Qui Nhơn thăm quê hương của thi sĩ họ Hàn.
Trong giấc mơ, tôi thấy cha mỉm cười và mẹ đang chuẩn bị hành trang cho ông sang Mỹ giới thiệu về văn học Việt Nam, giới thiệu cả thơ thi sĩ họ Hàn. Mùa xuân này, chắc ông và bạn văn chương đang vui lắm. Xin được gửi một cái Tết an lành, hạnh phúc và thành công tới muôn nhà, và xin gửi tới cả nơi xa xôi ấy - nơi có cha tôi và những tâm hồn nghệ sĩ đang bay trong niềm vui của Đất Nước - Mùa Xuân.
Qui Nhơn - Hà Nội, Xuân 2010