Đã hai tuần nay, đều đặn, ngày cách ngày, sự xuất hiện của một cô gái trẻ đã gây chú ý đối với cán bộ, học sinh trong trường. Sự chú ý dựa trên một cặp phạm trù đối lập. Cô gái trẻ có phong cách hiện đại. Cô bước thẳng, gương mặt khả ái, vẻ tự tin. Một phong cách đối lập với ông giáo sư già tóc đã hoa râm, phong cách trữ tình cổ điển.
Sự tương phản còn thể hiện ở sự cao cả vĩ đại với sự bình thường nhỏ bé. Cô gái đến với mục đích xin việc. Mặc dù đã có trong tay tấm bằng thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ, nhưng với xã hội, cô vẫn vô danh. Còn ông, một vị giáo sư đầu ngành, được nhiều người vì nể.
Thêm sự đặc biệt: Cứ chiều tối, nhất là mùa này, mới năm giờ trời đã ngầu ngầu tối, ấy mới là lúc chiếc spayci cùng chủ nhân của nó đỗ xịch trước cửa phòng hiệu trưởng.
Đối với cô gái, cô sẵn sàng làm gia sư dạy tiếng Anh, kể cả không công, nhưng ai cũng hiểu ngầm đó là cơ hội để cô xin làm giảng viên tại trường.
Về phía giáo sư, cái sự cần tiếng Anh như thế nào thì ai cũng hiểu, vì ông phải đi công tác nước ngoài liên tục.
Những ngày đầu học, giáo sư thấy hơi ngại. Giá cô ấy cứng tuổi hơn. Không phải ông ngại kiểu "thầy già con hát trẻ", mà là sợ miệng lưỡi thế gian. Giá cô ấy không mặc váy ngắn, giá không phải học vào cái giờ tranh tối tranh sáng này, giá như cô ấy không kính đen, không tuýp chân dài, giá như... Thế là thầy cứ phải phân trần mỗi khi có khách: "Đây là cô gia sư. Tôi cũng mới học. Giờ phải học tiếng Anh ông ạ...".
Ngồi học, giáo sư không tiện khép cửa phòng. Ý là giữ "khách quan". Tuy nhiên, cửa vẫn được khép lại bởi cô gia sư. Nhưng cái sự kín đáo lại kích thích tính tò mò. Hình như ngày học lại nhiều khách hơn ngày thường.
Giáo sư Ngoạn vốn là dân... Văn. Thời trẻ, ông đã in ba tập thơ. Phòng giáo sư gần với ký túc Văn khoa. Được cái thầy cũng vui tính, dễ gần, uyên thâm chữ nghĩa văn chương nên các cô cậu sinh viên cũng hay qua lại chỗ thầy. Thỉnh thoảng lại có cô cậu tặng thầy vài bài thơ hay một hai truyện ngắn mới sáng tác vẫn còn đầy lỗi chính tả. Có cậu còn ép xác vài chú muỗi chồm hỗm ở đầu mỗi trang. Thầy không giận, vừa cười, vừa vỗ vai: "Hay! Được lắm! Hôm nào lấy nhuận bút nhớ khao tôi nhé!".
Cuối tuần, các cô cậu ấy hết tiền nên cứ lang thang vẻ mơ mộng lãng mạn. Thấy phòng sáng đèn liền vui chân gõ cửa. Gõ lấy lệ rồi lách cái mặt vào. Cũng nhanh, chưa nhìn thấy mặt đã thấy tiếng xin lỗi. Tưởng là lỗi thì phải ân hận nhưng vẻ mặt, ánh mắt lại có vẻ hí hửng lắm. Cô gia sư chẳng lạ những trò quái quỷ. Đã thế, cô khóa trái cửa lại.
Cửa khóa trái, đèn vẫn sáng. Vẫn không ổn. Bởi ban ngày có mấy khi gặp được thầy. Hết cuộc họp này lại đến cuộc họp khác, hết họp bộ lại họp trường. Hết giao ban lại đến dự hội đồng bảo vệ luận án, hội thảo khoa học, duyệt đề cương giáo trình… Lại còn các cuộc giao lưu không đi không được vì họ mời bản thể đại diện cho trường… Trăm công nghìn việc cứ trút lên đầu lãnh đạo. Nếu không tranh thủ ngoài giờ thì gặp làm sao được.
Có lúc vui, thầy đã liệt kê đến hai mươi hai tiếng gõ cửa khác nhau. Thậm chí, thầy thông thuộc từng tiếng gõ cửa. Nào là yểu điệu thục nữ gõ cửa như múa trống. Người làm công văn hành chính thì vừa nghe tiếng bước chân đã thấy gõ, tiếng gõ lơ đãng kiểu vừa sắp xếp lại giấy tờ vừa gõ. Cấp dưới nhún nhường, khoảng cách tiếng gõ rất lâu, cứ như chuẩn bị sắm lại giọng. Đặc biệt, sếp trên xuống cơ sở thì tiếng gõ như tiếng búa, thẳng tay đanh thép: Cộc. Cộc. Khi nghe mỗi tiếng cộc mạnh mẽ, dứt khoát, trọng tâm, thì chính chủ nhà ra mở cửa bị rơi vào thế lúng túng chứ không phải là khách. Người cẩn thận gõ rồi đợi, gõ rồi đợi, đợi đủ ba hồi mới cầm tay khóa xoay xoay mở thử rồi đi, miệng lẩm nhẩm: "Không biết sếp đi đâu". Người nóng vội thì vừa gõ, vừa lay khóa, vừa tư thế lao đi, tiếng giầy cộp cộp nện vào hành lang còn to hơn tiếng gõ cửa.
Thật ngại. Lời giảng của cô vừa phát ra còn treo lơ lửng trước mắt chờ thầy dựa vào đó mà trả lời, thì có tiếng gõ cửa. Thầy ngơ ngác. Gia sư đành phải nhẫn. Cộc… Cộc… Khoảng cách giữa hai lần gõ cửa như những tăm nước trong nồi nước đang reo. Thầy miễn cưỡng ra mở cửa. Cô lao công xanh từ đầu đến chân với hàng chữ to tướng "Môi trường xanh" đã chờ sẵn với lỉnh lỉnh xô chậu.
- Tôi không dọn vệ sinh vào giờ này. Tôi đang bận - Cánh cửa sập lại.
Cô lao công lúng túng:
- Em không biết anh bận.
Mấy giây, cánh cửa lại mở:
- Thôi chị để mai. Tôi đang học.
Sáng hôm ấy, tranh thủ lúc đợi xe lên bộ họp, thầy cắt một tấm biển bằng cáttông rồi viết bút dạ mấy chữ thật to: "Phòng bận họp. Không tiếp khách!".
Thầy giơ lên ngắm nghía, có vẻ hài lòng. Chợt thầy ngớ ra: "Thôi! Mất toi công. Đúng là giục tốc bất đạt".
Thói quen đã thành vô thức. Đây chính là tấm biển của phòng hành chính trước đây. Tấm biển này trấn ở cửa mỗi khi có sự vụ. Họp là một mệnh lệnh không ai có thể cưỡng lại được, cho dù ở hoàn cảnh nào đi chăng nữa. Có nghĩa việc họp là quan trọng nhất trong tất cả các việc. Cho dù việc có quan trọng hơn thì cũng phải đợi. Không đợi không được. Phải lần lượt từng bước từ A đến Z. Lúc này kẻ thù không phải là ai khác mà chính là tấm biển. Mặt nó vẫn bóng láng bình thản. Không ít người muốn giật nó xuống ném đi rồi một phen liều gõ cửa...
Tấm biển đã được làm lại bằng cách dán một tờ giấy đánh hàng chữ vi tính dán chồng lên: "Xin lỗi! Không tiếp khách!".
Không cần khóa cửa, được đúng mười lăm phút, cửa phòng mở toang. Ông bạn cũ vừa cười vừa chào từ cửa, niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt. Tiếng cười nói rổn rang. Một tay xách catáp, một tay ông ta giơ cao sẵn tiến đến thẳng chỗ thầy để bắt tay. Xong thủ tục. Ông bạn kễnh một chân lên để mở khóa số rút ra chiếc thiếp mời trắng in nổi bật chữ song hỉ: "Biết là anh đang bận nhưng thông cảm việc gấp quá". Thầy cười bắt tay tiễn khách. Ra đến cửa, nhìn lại tấm biển, ông khách nói vội: "Có lẽ lần sau tôi phải gọi điện trước xem anh có tiếp không đã nhỉ!". Thầy khựng lại. Thầy bỏ cặp kính ra, cúi sát vào tấm biển như để nhìn rõ hơn. Tấm biển thật không hợp lý trong trường hợp này.
Buổi sau, thầy thay biển mới. Một tấm biển hình vuông: "Xin lỗi! Không làm phiền".
Tấm biển treo lên, thầy yên tâm hẳn nhưng vẫn cẩn thận khóa cửa lại.
Đang lúc tập trung cao độ thì có tiếng cạy cửa, rồi tiếng xoay ngược tay khóa, tiếp theo là tiếng gõ cửa cả nắm tay nghe bộp bộp. Nửa phút lại bộp bộp tiếp. Rồi cái bóng ngồi thụp xuống chắc định tìm một lỗ thủng. Một phút, cái bóng lại đứng lên dí sát vào cửa. Lạ thế nhỉ, bóng xù xụ, trên to, dưới cũng to. Giáo sư đậy nắp cái bút, bình tĩnh ra mở cửa. Cả thầy cả cô trố mắt ngạc nhiên. Một cậu lùn. Đầu to. Mắt lồi. Miệng mấp máy liên tục mà chẳng tiếng nào rõ tiếng nào. Vừa nói cậu ta vừa chìa cái sổ cái ra. Chừng đã hiểu và rất thông cảm, thầy gật gật đầu và lấy bút ký vào danh sách những người đòi Mỹ bồi thường cho nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam, không quên kèm theo tờ một trăm nghìn đồng. Tiễn đại diện quỹ, thầy nhìn lại tấm biển. Ai đã úp ngược nó vào trong. Thầy hơi khó chịu. Lại chỉ có sinh viên chứ ai vào đây. Nhưng trời đã tối, sinh viên giờ này xuống hết căng tin. Hay cậu vừa nãy? Ngó xung quanh, không gian vẫn yên tĩnh, chỉ có tiếng xào xạc của gió. Sao giờ này phòng cậu Quang - Hiệu phó vẫn còn sáng ánh điện? Không biết cậu ấy bận việc gì vẫn chưa về. Rồi thế nào cô ấy cũng đến tìm cho mà xem.
Không biết tiếng Anh cũng thiệt thật. Nhớ lần đi công tác nước ngoài, một phụ nữ người Mỹ lai cứ quấn chặt lấy thầy. Mắt cô ấy xanh biêng biếc, tuyệt đẹp. Mỗi khi đối diện với thầy, ánh mắt ấy như có ngọn lửa xanh đang cháy dần lên. Cô ấy biết tiếng Anh nhưng không biết tiếng Việt. Thầy biết tiếng Việt nhưng không biết tiếng Anh. Thầy cũng không biết nói như thế nào để chứng tỏ mình rất thích và sẵn sàng. Ánh mắt của thầy không nói hết được điều ấy. Muốn biểu lộ bằng hành động thì lại không dám. Bột phát, thầy nói một câu tiếng Nga. Mắt cô ấy vụt sáng lên. Nhưng lời nói không có minh họa hành động nên ánh mắt ấy đã bình thản trở lại. Thế là cơ hội tuột mất...--PageBreak--
Hôm thầy đang học tiếng Anh, cô bạn thân hồi cấp ba lên Hà Nội ghé vào. Tấm biển vẫn treo, cô bạn vẫn gõ cửa:
- Em kệ. Mấy khi em lên đây và qua chỗ anh. Điện thoại cho anh thì không được. Thế hết giờ hành chính rồi anh còn bận gì?
Miệng tươi cười nhưng kỳ thực cô đã nhìn thấy một thầy một trò, cả hai đang chăm chắm chụm đầu vào chiếc laptop. Cô bạn còn nháy mắt một cách lém lỉnh, vẫn như hồi hai người còn học phổ thông. Từ hôm ấy, thầy thấy vui vui và những buổi học phấn chấn hơn. Trong mơ hồ, thầy thấy lảng vảng bóng cô gia sư sánh bước cùng thầy trên con đường rắc lá thu vàng tinh khiết, như những đôi trẻ yêu nhau và đẹp như bức tranh phong cảnh trên bờ hồ mà thầy đang treo trong phòng. Đang say sưa nghe tiếng bước chân đều đặn, tiếng cười ngộp trong hơi thở con gái thơm nồng, thầy giật mình. Có tiếng gõ cửa rất mạnh ở phòng thầy Quang. Rồi tiếng giật cửa ầm ầm cùng tiếng phụ nữ choe choé:
- Mở cửa! Mở cửa! Anh Quang, anh mở cửa ra ngay cho tôi! Anh lừa tôi! Anh họp thế à? Tắt đèn! Khóa trái cửa! Mèo chuột với nhau. Lại còn "Xin lỗi! không làm phiền!"... Đồ trí giả!
Ngừng độ vài giây, lại tiếp tục. Tiếng giằng cửa, tiếng chân huých vào cửa:
- Mở cửa! Mở cửa!
Ngồi trong phòng, thầy và cô gia sư đoán ra sự tình. Chỉ có sinh viên, nhất quỷ nhì ma làm việc này. Quả thật, lúc thầy mở cửa ra thì tấm biển không cánh mà bay. Mà nó lại bay sang phòng thầy Quang. Trong lúc lúng túng, sợ vợ thầy Quang sẽ quay sang, cô gia sư cầm luôn tấm biển cũ định mang ra treo. Vừa ló mặt ra cửa, vợ thầy Quang bổ sang, mặt phừng phừng. Chị nguýt dài một lượt từ cô gia sư, vòng sang giáo sư đang cúi đầu đi lại góc phòng, rồi quay ngoắt lên nhìn lại tấm biển hiệu trưởng. Chị hừ lên một tiếng rồi phóng thẳng tia mắt giận dữ lên tấm biển khẩu lệnh trên tay cô gia sư. Hai tay chống nạnh, chị riết lên: "Ôi dào!".
Tấm biển dù có được đóng chắc lên cây cột sống thì cũng chỉ ngăn được tấm thân đồ sộ, còn những tiếng choe chóe mỉa mai cứ thông thốc:
- Anh Quang nói với em bận họp, em mới đến tìm. Hóa ra anh cũng đang họp thật! Em chào!
Giáo sư nhìn ra thì vợ thầy Quang quay ngoắt đùng đùng đi về. Ánh sáng rùng rình theo bước chân người đàn bà.
Buổi học sau, cả hai thầy trò đã ngồi vào chỗ, cả hai tấm biển vẫn để nằm yên trên bàn. Có biển cũng như không. Có khi lại thành chuyện thị phi. Lúc mới du học về nước, cô thấy rất phi lý về những tấm biển. Đã ghi "Cấm" mà người ta vẫn hút thuốc, vẫn đái bậy, vẫn đi ngược chiều, vẫn vi phạm pháp luật. Nhiều tấm biển ở nơi công cộng bị vứt vạ vật đáng thương. Nhiều tấm biển đã không còn hiệu lực vì sai mục đích, có khi ngồi liên hoan vẫn treo biển. Chính con người đã khoác lên mình nó trách nhiệm mang tính quy phạm, vậy mà họ lại sử dụng tùy tiện. Tại sao mỗi người không tự cho mình là một tấm biển để họ có thể thực hiện một cách tự giác và kiểm soát các hành vi của mình. Có lẽ phải gắn những con chíp điện tử tự động. Con chíp sẽ kêu lên nếu vi phạm thì mới ngăn ngừa được sự bừa bãi và vô lối này… Những suy nghĩ miên man làm cô thần cả người.
Nhìn tấm biển, vị giáo sư suy nghĩ hồi lâu. Thầy lại nhớ về ngôi làng nhỏ ven sông của mình. Đường vào làng đi trên nền phù sa mịn mát thấm vào tận gan bàn chân. Đi quanh đường làng mà không nhìn thấy cái cổng nào. Cả tường rào cũng vậy. Hai bên đường đi là những bụi chuối tây cao ngất. Có cây to đến nỗi thằng bé lên mười như thầy khi ấy ôm không hết. Có những buồng chuối sai mấy chục nải làm cây rạp hẳn xuống đường đi. Từ nhà này sang nhà khác cứ thông thống. Khách vào đến cửa mới biết. Gặp bữa cơm ngồi lại nhẩn nha củ khoai củ sắn, hoặc vài chén lá mít rượu suông. Tình làng nghĩa xóm thân mật ấm áp. Có bao giờ mất trộm, có bao giờ phải tính đến chuyện xây cổng ngăn ngõ đâu. Quả thật, khi treo tấm biển lên, thầy thấy tự mình đã tạo ra một khoảng cách. Tất cả mọi người đến đây đều cần đến thầy. Tấm biển do thầy tạo ra để thực hiện mệnh lệnh như một quy ước. Song giữa con người với con người còn có những quy ước khác mà thể tất cho nhau. Thầy không trách những người biết nhưng vẫn cố tình để được gặp trực tiếp. Con người sống với nhau quan trọng ở chữ "Tình". Nhưng chưa đủ nếu thiếu chữ "Cần". Phải cần đến nhau. Anh cần đến tôi. Tôi cần đến anh. Vợ chồng cũng vậy. Tôn kính nhau nhưng phải cần đến nhau. Thầy hình dung đến một ngày những người xung quanh không cần mình nữa. Những bước chân bình thản, những cái bắt tay hờ hững. Căn phòng lạnh tanh, mờ nhạt dần. Tấm biển Hiệu trưởng cũng chẳng còn giá trị, vô nghĩa. Nghĩ vậy, thầy đứng dậy đặt mấy tấm biển xuống góc phòng.
Những hôm tiếp theo, không ai nhắc đến tấm biển nữa. Vừa học, họ vừa liếc những bóng ngoài cửa. Có lúc gợi một nụ cười thư giãn khi cánh cửa hé mở, nửa cái mặt ngó vào rồi cuống quýt khép lại không kịp xin lỗi. Có lúc, tiếng gõ cửa như chiếc chuông reo đánh thức sự tồn tại của không gian và thời gian. Không có tấm biển nào treo cả, nhưng lời xin lỗi vẫn vang lên, thấp thoáng một nụ cười, một ánh mắt, một giọng nói, một dáng hình như những nốt nhạc, những chấm màu tươi tắn làm nên cuộc sống này