Tấm bia đình

Từ ngày mấy ông nhà báo loan tin tấm bia ở đình là cổ vật, người dân túa đến ngày một đông. Ông Bảy chống gậy ra xem, mắt ông nheo nheo nhìn tận mặt từng người như đợi coi có ai hỏi mình về tấm bia đó không. Nhưng cũng chẳng ai ngó ngàng gì đến ông. Cũng như từ hồi nhỏ đến giờ, có bao giờ ông thấy tấm bia đó lên tiếng: "Ê, biết tui là ai hông?". Cũng như ông bây giờ, không lẽ ông lên tiếng: "Ê, tui già nhất làng, tui rành tấm bia đó nhất làng!" hay sao?

Cuối cùng cũng có đứa cháu đi làm ở xa nhà, gọi điện về hỏi ông:

- Nội, tấm bia ở đình làng mình là cổ vật hả nội? Con nghe người ta nói ông bia bà bia linh lắm, khấn gì được nấy hả nội?

Ông già lãng tai, mở cái loa điện thoại chan chát mới nghe được, gật gù đến khi nghe câu hỏi cuối của đứa cháu mới nổi quạu:

- Tao kể bây nghe muốn nát đĩa mà bây không nhớ sao, đi hỏi lại tao?

Lúc này đứa cháu mới sực nhớ, nhà sát vách đình, lúc nhỏ mỗi buổi chiều ông nội dắt qua sân đình chơi, ông hay chỉ tấm bia nằm giữa sân. Nhưng ngặt nỗi đến cái đoạn hấp dẫn là ông nội kể gì thì đứa cháu đã quên mất rồi.

Gần một trăm năm trước, khi bà cố sanh ông Bảy thì ngôi đình đã có ở đó hơn trăm năm rồi. Ông lớn lên bên mái đình như bao người khác. Có lần trên xã gửi giấy xuống, yêu cầu đình phải đốn hàng dương để xã xây dựng trường học. Ông Bảy cầm đơn đi lên đi xuống xã ròng rã mấy tháng để xin giữ lại hàng dương. Nhưng xã vẫn phải đốn. Đồng chí Chủ tịch xã xuống tận nơi, nắm tay ông Bảy nói:

- Vì sự nghiệp giáo dục của nước nhà mà ông Bảy!

Lúc đó ông không nói, ông ngồi nhìn trân trân hàng dương, rồi ông khóc. Lần đầu tiên mấy đứa trong làng mới thấy ông Bảy rơi nước mắt. Ông khóc thút thít như con nít mất bạn. Nhưng may mắn sao, hàng dương vẫn còn một cây nằm ngoài dự án xây dựng. Cây dương đó thoát chết đứng trơ ra giữa những cây dương nằm xuôi dọc dưới mặt đất thênh thang. Lúc đó ông mới nói ông nội của ông Bảy và hàng dương trước sân đình là cùng một tuổi. Ai nấy đều bật ngửa. Có người ghé tai nhau hỏi, cái chén kiểu, để trăm năm là thành đồ cổ rồi, còn hàng dương trăm năm sao vẫn là cây dương bình thường vậy?

Ông Bảy nói, thôi thì cũng là do nơi duyên số. Những cây dương còn sống sót đến ngày nay âu cũng là do duyên số. Những năm chiến tranh khói lửa, mấy loạt pháo bay lạc chém đứt đọt hàng dương. Chúng cháy rụi rồi lại mọc lên xanh um, vươn thẳng lên trời cao xanh thẳm. Nhưng bây giờ, đất ở đâu để những gốc dương mọc lên chồi mới?

Minh họa: Thành Chương.
Minh họa: Thành Chương.

Từ lúc hàng dương bị đốn, ông thường qua lại đình hơn. Tuổi già của ông không đi qua đình làm lặt vặt công việc thì biết phải làm gì cho khuây khỏa. Tụi nhỏ kêu, nội ở nhà đi, chuyện đình để tụi con lo cho, nhưng nói thì nói vậy chứ có đứa nào lo bằng ông được đâu. Năm ngoái, có đứa sinh viên nói với ông, để con viết văn tế thành hoàng cho cụ. Ông Bảy cũng mừng thầm, cũng yên tâm vì trong cái làng này cũng đã có người chịu học hỏi, chịu thay ông viết văn tế. Nhưng khi chuẩn bị vào cúng mới tá hỏa, cái bài văn tế trớt quớt. Ông hỏi, đứa sinh viên nói nó lấy trên mạng về. Ông Bảy làm cho nó một trận:

- Sao bây không hỏi tao? Đi lấy trên mạng trên miết gì chi vậy?

- Cụ ơi, trên mạng hay lắm. Từ cổ chí kim cái gì cũng có hết!

- Nhưng bài văn tế đình mình có giống hệt từng câu từng chữ bài văn tế trên mạng đâu?

Lúc đó thằng nhỏ mới phát hiện, nó chép y hệt bài văn tế của đình khác, không thèm sửa lại một chữ nào. Hú hồn, may mà ông phát hiện sớm, chứ lỡ đọc lên, chắc đã làm phật ý thành hoàng rồi.

Hôm bữa, ông Bảy nói, tụi trẻ bây giờ hay thiệt, cái gì cũng biết. Ông quên tên bài hát kháng chiến cũ. Kêu đứa cháu chắt mở mạng lên, nội hát, nó gõ cộc cộc một hồi là ra ngay tên bài hát đó liền. Ờ, mà còn nữa, hôm rồi ông tính đi Sài Gòn mua cái trống cho đình, thằng Tân nói thôi nội đừng có đi, để con mở mạng cho nội xem. Ông xem nó mở mạng, rồi chọn một cái trống. Mấy bữa sau người ta chở trống về tới đình. Thiệt là nhanh lẹ!

Nhưng cái mạng này cũng làm người ta đau đầu thật, cái tấm bia của đình. Tụi nhà mạng biết gì mà lên đó nói khơi khơi. Ông dọa sẽ vác đơn đi kiện tụi nó. Ông đã viết ra cả chục tờ đơn rồi. Có đứa cháu khuyên, thôi bỏ đi nội ơi! Nhưng ông Bảy vẫn không chịu:

- Bỏ sao được, đình của mình mà để người ta vẽ rồng vẽ rắn như vậy coi sao được mậy.

Có đứa cháu bàn:

- Hay là nội cứ chờ xem, có ông nhà báo nào tìm đến hỏi nội về tấm bia, thì nội kể cho người ta nghe, kêu người ta lên mạng đính chính lại. Chứ hơi đâu mà đi kiện chi cho mệt vậy nội.

Ông Bảy nghe có lý, nên ưng bụng dẹp mấy lá đơn. Mỗi khi nghe có đoàn khách nước ngoài hay đoàn nhà báo nào đến đình tham quan tấm bia là ông ra trước cửa đứng đợi coi có ai hỏi ông về tấm bia đó hông. Nhưng mỏi mòn mà không ai hỏi cả, ông thấy vậy, chống gậy bước qua đình, nắm tay ông nhà báo:

- Để qua kể cho chú em mầy nghe về tấm bia này nha! Tấm bia này có từ năm Tự Đức ngũ niên…

Ông nhà báo nhìn ông Bảy, nửa tin nửa không, móc túi lấy cái điện thoại ra quẹt quẹt rồi lắc đầu:

- Sai rồi cụ ơi! Chắc cụ nhớ nhầm rồi. Tấm bia này có từ hồi Hồng Bàng năm…

Nội nhíu mày:

- Sao chú biết qua nói sai, ông bà qua là người ở đây, kể cho qua nghe, dạy cho qua đọc từ hồi tấm bia này còn rõ chữ mà.

- Dạ, đành vậy, nhưng trên mạng viết khác cụ ơi! Vả lại, bây giờ tấm bia chỉ còn đọc được có mấy chữ, mấy chữ còn lại bị mờ hết rồi. Những tiến sĩ ngôn ngữ học đọc còn không ra, cụ già rồi, mắt mờ rồi, sao cụ đọc được.

- Mấy năm trước tui có trình trên xã cho xây dựng cái nhà bảo quản tấm bia, tui xin phép đứng ra dịch lại tấm bia. Nhưng trên xã nói đợi trên xã xin ý ở trên.

- Dạ, nhưng báo chí ai cũng nói vậy, cháu nói khác không được cụ ơi!

Nói vậy rồi ông nhà báo bỏ lên xe đi mất. Ông Bảy về nhà nằm lăn qua lăn lại trên chõng, rồi bệnh hết mấy hôm ròng. Mấy đứa cháu nhìn ông rung rung không cầm được muỗng múc cháo mà lòng như muốn rớt nước mắt. Tính nói, thôi kệ họ đi nội, nhưng lại sợ ông buồn, ông giận, nên thôi.

Những đoàn khách về đình ngày một đông, có hôm có đến mấy chục chiếc xe hơi. Tụi nhỏ chạy photo mấy tờ báo viết về tấm bia của đình, đi rao bán cũng kiếm được đủ tiền mua cá cho cả nhà. Mấy bà bán cháo bán cơm thi nhau pha chuyện thần thánh cho tấm bia thêm phần huyền hoặc. Chuyện tấm bia của đình càng vang xa, người đến chiêm bái càng đông, những câu chuyện không biết thực hư thế nào cũng ngày một nhiều.

Vậy mà ông Bảy - ông Đại bái của đình lại đổ bệnh nên không ai đứng ra dàn xếp được chuyện đình. Còn ông Chánh bái thì tuổi còn nhỏ hơn cái nhà kho của đình, lấy gì biết được tới tấm bia nên cũng bó tay trước lượt người ào ạt đến. Chính quyền địa phương mướn nhà viết sử về viết cho đình một quyển sử chánh thống để dễ dàng lưu truyền.

Nhà viết sử đọc được hai ba chữ trong tấm bia, còn những chữ kia vì quá mờ nên không đọc được. Lúc ấy, nhà viết sử mới yêu cầu kiếm một ông cụ già nhất làng, thông thạo chữ Nho, từng đọc được tấm bia này để đọc cho nhà viết sử viết. Lúc bấy giờ Hội Người cao tuổi mới rà lại danh sách, ông Chủ tịch hội nhảy cẫng lên:

- Là ông Bảy Đại bái của đình đó, sao không hỏi ổng?

Nhưng, lúc nhà viết sử đến nhà thì ông Bảy đã lặng lẽ ra đi hôm qua khi ông vừa bước qua tuổi một trăm. Lúc đó người ta mới tá hỏa kéo đến nhà ông Bảy kêu lục lại coi ổng có viết gì để lại hay không. Đám trẻ lục trong tủ của ông có một xấp giấy, trao cho nhà viết sử. Nhà viết sử đưa hai tay ra cầm, để vào bọc cẩn thẩn, nghiêm mặt nói:

- Xấp giấy tờ này là chứng tích lịch sử. Chúng ta có thể căn cứ vào đây để đoán ra những chữ đã mờ trong văn bia.

Nhưng đọc hoài, đọc mãi sấp giấy đó, thấy toàn là tâm sự của ông, chứ có thấy ông nói gì tới văn bia đâu. Lúc này, chính quyền địa phương mới lên loa kêu gọi ai còn giữ những gì của ông Bảy thì gửi lại cho Ủy ban, sẽ được trọng thưởng. Lúc này người ta mới lục lại những toa thuốc Bắc, những bài khấn chữ Nôm, những câu đối… mà hồi sinh tiền ông Bảy đã viết cho. Có người cắc cớ lên mạng in một sấp giấy rồi đem nạp.

Nhà viết sử đọc hết tất cả những gì có liên quan đến ông Bảy mà xã đưa cho. Mấy tháng sau, nhà viết sử gửi một bức thư về xã, trong thư ngoài lời hứa không biết là khi nào, nhưng nhà viết sử sẽ trở lại viết sử cho đình khi tìm đủ tư liệu. Kèm theo bức thư là một tờ giấy photo bút tích của ông Bảy: "Tui nói, mà có ai nghe đâu. Tui không sợ khi tui chết không ai đứng ra nói, mà tui chỉ sợ bây giờ tui còn sống trơ trơ mà nói không ai muốn nghe". 

Truyện ngắn của Lê Quang Trạng

Các tin khác

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Mỗi lần Vân đỡ anh dậy, anh vòng tay qua cái cổ ấm áp của cô và áp gò má anh vào má cô. Những lúc như thế, anh cảm thấy run rẩy, anh cảm thấy sức nặng của tấm vải bạt đắp lên chân nặng cả nghìn cân. Anh muốn đứng dậy, bế bổng cô chạy ra khỏi cái cửa hang chết tiệt kia, ra đứng giữa đất trời mà hét lên, mà quay cô mòng mòng như cánh quạt của mấy con “diều hâu” tuần tiễu trên bầu trời.

Một cú đá chết bảy mạng

Một cú đá chết bảy mạng

Ở Vương Gia Trang, có một người đàn ông trung niên tên là A Lương, 42 tuổi. Anh ta là người trung thực, chăm chỉ và sống giản dị. Anh trồng vài mẫu ngô và khoai lang trên sườn đồi phía sau làng và cách vài ngày lại đi nhổ cỏ cho ngô và khoai lang.

Chuyện con nhà lính

Chuyện con nhà lính

Vài ba hành khách khác định ngồi ở chiếc ghế cạnh người lính, nhưng họ nhìn thấy thông báo và bỏ đi. Khi máy bay gần kín chỗ, người lính thấy một cô gái rất xinh đẹp vội vã bước vào khoang máy bay nên anh ta nhanh chóng gỡ tờ thông báo khỏi chiếc ghế trống bên cạnh. Bằng cách ấy, anh lính nọ đã có được một cô gái đồng hành cùng mình trên suốt chặng bay.

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.