Đám cháy lúc nửa đêm
Đêm mùa đông rét cắt da cắt thịt, 11h, cậu bé Sơn ra đóng cánh cửa sổ để đi ngủ. Vừa đưa tay ra ngoài thì một quầng sáng đã đập vào mắt, rực cả một góc trời, cậu chăm chăm nhìn, không biết là cái gì mà sao sáng kỳ lạ thế. Thấy quầng sáng mỗi lúc một to, lại cứ bập bùng như ma chơi, cậu hốt hoảng: “Không biết là nhà bưu điện hay bên công ty lâm nghiệp cháy rồi”. Chỉ áng chừng vị trí thế là cậu đã lao ra khỏi nhà, chạy thẳng đến đám cháy.
Đối diện bên kia đường, công ty lâm nghiệp vẫn chìm trong giấc ngủ, bên này, nhà bưu điện thì cứ lách tách cháy. Trong nhà bưu điện vẫn yên ắng, cậu nhảy qua hàng rào, hoảng hốt vừa đập cửa vừa la hét: “Cháy rồi. Dậy đi! Cháy rồi.” Vẫn không thấy động tĩnh gì, tiếng lửa cháy vẫn tanh tách, Sơn cứ thế lao vào đạp cửa, cánh cửa cót ép khóa bên trong, đạp mãi cái ống tre bên này mới nứt toác như cầm dao rựa chẻ. Cánh cửa bật ra, cô nhân viên bưu điện cắp nách một cháu nhỏ bốn, năm tháng tuổi, thằng ba tuổi cứ đứng kéo tay mẹ khóc thét lên không cho đi đâu cả, giấy báo dán trên trần nhà rơi lả tả. Kéo thằng ba tuổi khỏi tay mẹ nó ra ngoài, rồi quay vào kéo hai mẹ con ra, cô bưu điện bảo: “Còn cái cân ở gian trong”. Sơn lại chạy vào gian trong mang cái cân ra đặt ngoài sân. “Còn một đứa nữa đâu?” - Cô nhân viên bưu điện hốt hoảng - “Nó vẫn đang ngủ”. Sơn lại lao vào, rẽ ba bốn lần cái khu nhà zíc zắc mới đến được cái phòng thằng cu lớn đang nằm ngủ.
Cõng được thằng cu lớn ra rồi, lúc ấy đã bắt đầu bị bỏng, “nhưng nhớ đến cái tổng đài, nghĩ đến cảnh nước mình lúc đó đang chiến tranh, liên lạc là quan trọng lắm nên tôi quay trở vào cõng nốt cái tổng đài điện thoại ra. Nó to như cái bếp ga này này, phải đến ba mươi cân ấy, tôi hay sang chơi nên biết cái máy này, mỗi khi có điện gọi đến, cô bưu điện lại lấy một đầu dây, cắm vào một trong hai mươi bốn cái cổng”. Tranh tre mái lá cứ thế ngùn ngụt cháy, cõng được cái tổng đài ra đến giữa nhà thì cái mái sập xuống…
“Một lúc sau tôi mới tỉnh dậy được và lao ra ngoài, bác tôi – ông Lương Văn Đản kể: “Mày từ bưu điện lao ra như bó đuốc sống, lúc ấy tao vừa chạy sang đến nơi, nhận ra là mày rồi”. Thấy tôi cháy như thế, không ai dám lại gần, chỉ có ông bác tôi chạy lại ôm rồi cứ lấy tay đập đập để dập lửa, ông không dám xoa vì như thế thì da thịt sẽ bợt ra hết. Vừa lúc ấy thì có hai tiếng nổ to lắm, mọi người chạy hết cả. Ngay sau đấy thì một loạt tiếng nổ nữa, chắc là tre nứa.
Sau đám cháy thì cả xóm mất hết điện. Tôi khỏe, tôi đi về nhà, mẹ tôi bảo lấy nước mắm dội lên người tôi. Bà tôi thì bảo lấy dấm mẻ xát vào. Tôi nhất quyết không cho làm vì thấy mình chẳng làm sao cả (sau này tôi mới biết là lúc ấy mình bỏng nặng quá, đến mức mất hết cả cảm giác). Đến khi có điện, tôi mới nhìn thấy mình đỏ rát hết người, nhìn xuống chân tay thấy da bị lột hết, trắng như thịt gà luộc, khi ấy mới biết mình bị bỏng. Bà và mẹ tôi nhìn thấy hốt hoảng hỏi làm sao thì tôi bảo: “Con cứu bưu điện nên bị bỏng”. Lúc ấy, bà và mẹ tôi khóc lóc gọi hàng xóm láng giềng đến, họ đổ mỡ trăn lên người tôi, quấn tôi lại rồi đưa ra Bệnh viện Yên Bái”.
Những ngày dài cô đơn cùng hình hài biến dạng
Đến giờ, đã ngoài năm mươi tuổi, đã thành ông nội, ông ngoại nhưng ông Lương Minh Sơn vẫn bị ám ảnh vì khuôn mặt bị biến dạng của mình. Nửa khuôn mặt trái của ông nhăn nhúm, nhàu nát. Ngồi nói chuyện với tôi, ông luôn quay nửa khuôn mặt bên phải vào trong bởi nửa khuôn mặt ấy còn khủng khiếp hơn nửa khuôn mặt kia, những vết sẹo kéo lệch khuôn mặt sang trái, mí mắt cũng sụp xuống, méo xệch và đỏ như con tôm luộc, giọng nói cũng không được tròn, rõ. Khuôn mặt ấy, ba mươi năm trước đã khiến tất cả mọi người nhìn ông như nhìn người ngoài trái đất và tránh xa ông như tránh tà.
Vào viện, các bác sĩ tìm cây thuốc nam đen xì bôi khắp thân cậu bé Sơn, “mẹ tôi bảo nhìn mày đen như cái đít nồi nằm trên cái giường trắng toát, chẳng nhìn thấy mặt mũi đâu nữa”. Nằm viện hơn bốn tháng, mất hơn bốn mươi phần trăm sức khỏe, mắt phải sau rất nhiều ngày mới mở được. Nhưng đáng sợ hơn là hình hài bị biến dạng, cậu không thể trở lại cuộc sống thường ngày. Đang ở tuổi thanh niên nhưng không có một người bạn, “Lúc nhìn thấy mình trong gương, tôi không nói gì cả, chỉ bỏ đi lang thang, cứ đi thôi chứ cũng không biết là đi đâu, nhưng nghĩ đến mẹ ở nhà, tôi lại quay về. Nhìn tôi đỏ như con tôm luộc, ai cũng nói này nói nọ, có người ác khẩu còn bảo tôi bị hủi và xa lánh, bọn trẻ con thì cứ nhìn thấy là khóc thét lên mà bỏ chạy”. Bị cô lập, xa lánh, có lúc cậu đã nghĩ đến cái chết, “đã đi ra đường ray tàu hỏa rồi đấy chứ”…
Tôi lại nghĩ đến vụ cháy ở Tân Dân, nạn nhân may mắn sống sót là Bùi Thị Thêm, lúc kể lại với nhà báo vẫn còn hãi hùng vì sự vô cảm của đồng loại: “Ngọn lửa bùng lên! Thấy hơn chục thanh niên trai tráng đứng nhìn, vừa cố gắng dập lửa, vừa cứu người, tôi gào lên van xin “các anh ơi cứu với...”. Họ vẫn đứng yên xem đám cháy bùng lên dữ dội chỉ cách đó hơn 20 mét. Họ chỉ cần giúp một tay phá mảng tường phía sau bằng gạch ba-banh thì sẽ cứu được tất cả. Sẽ không có ai bị chết...”. Những con người đứng nhìn hàng xóm láng giềng của mình tiến dần đến cái chết, mần thinh trước tính mạng bị đe dọa, trước lời kêu cứu của đồng loại, họ mới là người đáng bị xa lánh, bị kỳ thị, bị lên án, họ xấu xa về nhân tính chứ không cao đẹp như người đàn ông mang hình hài xấu xí đang ngồi trước mặt tôi.
Thành tích của cậu bé Sơn ngày ấy phải đến mười bảy năm sau mới được ghi nhận. Ông Sơn chia sẻ: “Tỉnh Yên Bái cử tôi đi dự cái hội nghị vì trẻ em, hồi ấy bà Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam Trần Thị Thanh Thanh tặng một cái huy chương với hai hay ba trăm nghìn nữa (cũng lâu lâu rồi nên không nhớ rõ). Ngành Bưu điện ban đầu cũng đến thăm hỏi, nhưng một năm sau, khi ông giám đốc cũ đi rồi thì cũng không thấy ai đến nữa. Sau này, ngành Bưu điện có tổ chức tìm lại những người đã giúp đỡ ngành, họ về gặp, cho tôi cái giấy chứng nhận và năm trăm nghìn đồng”.
Chỉ đến khi lấy vợ, sinh con, nghèo đói quá thì Lương Minh Sơn mới đi hỏi bên bưu điện. “Người ta bảo tôi về làm cái đơn, rồi đi giám định sức khỏe, hồi ấy là năm 1988, từ bấy giờ tôi được hưởng lương như thương binh loại A hạng 3/4 của Nhà nước, năm 2009, mỗi tháng là tôi được 900 nghìn đồng” - ông Sơn nói.
Một tấm lòng trong đời sống
“Tôi lấy vợ tôi bây giờ là do có người mai mối đấy chứ, nhưng ban đầu chẳng hiểu thế nào mà tôi còn không đồng ý cơ, cũng không phải là tôi mặc cảm về hình dáng bên ngoài đâu” (cười). Rồi đám cưới của ông Lương Minh Sơn và bà Hà Thị Long cũng được tiến hành, cô con gái lớn sinh năm 1983, cậu út vừa hết phổ thông. Nhà chỉ có bốn sào ruộng lầy thụt đến ngang ngực, năm nào được mùa cũng chỉ tạ sáu một sào (1,6 tạ/sào), hai héta đồi chè, Nhà nước lấy già nửa để mở đường. Có những ngày dài hai vợ chồng, bốn đứa con nheo nhóc trong nghèo đói, cái sức chỉ còn gần sáu mươi phần trăm của anh cũng đã kiếm đủ mọi việc để làm, cả hai vợ chồng làm thuê làm mướn bất kể mưa nắng, bất kể công việc. Cứ trở trời là ông lại đau khắp mình mẩy. “Đau lắm, tôi cứ nằm sấp xuống nền nhà cho bà ấy đứng lên dận khắp từ đầu đến chân, cứ bảo bà ấy phải dận cho thật mạnh vào, không thì không chịu được” - ông Sơn nói.
Gần chục năm trước, nạn ma túy bắt đầu rộ lên, con đường mới mở cắt ngang khu nhà ở và đồi chè nhà ông Sơn. Sớm tinh mơ đi từ nhà ra đồi đã thấy kim tiêm mỗi nơi một cái, thấy đài báo nói mãi về ma túy với HIV, bà Hà Thị Long hãi quá mới đi nhặt, gom lại một chỗ. Rồi không chỉ ở khu đất nhà mình, đi một dải dọc cái đường to ấy, thấy chỗ nào cũng có kim tiêm đỏ lòm những máu, không biết là của những người ở đẩu ở đâu đến chích choác rồi ném lại, bà rùng mình nghĩ đến cảnh chẳng may một đứa trẻ nào giẫm phải. Bà lại xách xô đi nhặt, ngày nào cũng nhặt và ngày nào cũng có. Đến một ngày, thằng út chạy về mếu máo: “Con không thích mẹ “đi đá ống bơ nữa””. Cả nhà gặng hỏi thì nó bảo: “Mọi người bảo mẹ bị hâm, “tay nhặt lá, chân đá ống bơ” nên mới suốt ngày đi nhặt kim tiêm như thế””.
Mặc kệ hàng xóm láng giềng ì xèo, mặc kệ người ta gọi mình là “hâm, điên, gàn, chập mạch”, bà Long vẫn lặng lẽ làm cái công việc mà chẳng ai làm ấy. Ông Sơn rồi cũng hiểu cái lẽ của vợ, bàn tay co quắp, nhăn nhúm sẹo vì bỏng cũng cầm cái kẹp tre, xách xô đi nhặt xi-lanh con nghiện vứt lung tung với vợ. Giờ con cái đi làm thuê tít dưới Hà Nội, ông Sơn phải đi theo để trông cháu cho các con kiếm tiền, năm ngoái ở bên Gia Lâm, năm nay sang Từ Liêm trông cháu cho cô con gái lớn, bà Long ở nhà với đứa cháu nội, trông cháu, đi nấu cơm thuê cho kho bạc và đi nhặt xi-lanh.
Giữa thời buổi lòng nhân ái giữa người với người cứ vơi ngót, cứ bị cái vô cảm, trơ láo đè lấn thế này, lẽ sống của ông Sơn, bà Long vừa lạc lõng lại vừa khiến nhiều người lạc quan hơn, tin hơn vào ánh sáng của tâm hồn người