Văn học là văn học
Mạc Ngôn (Không nói) tên thật là Quản Mô Nghiệp, sinh năm 1955 trong một gia đình nông dân ở huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông. Tuổi thơ của ông từng phải chịu nhiều cay đắng và rất bần hàn do những khó khăn thời cuộc gây nên. Thậm chí nhà văn tương lai đã phải bỏ học từ năm 11 tuổi để đi chăn dê… Năm 1976, ông đã gia nhập quân đội, trưởng thành từ lính trơn lên làm tiểu đội trưởng, cán bộ bảo vệ rồi cán bộ chính trị… Cũng trong thời gian này, ông đã tự mày mò tập viết.
Tác phẩm đầu tiên của Mạc Ngôn được công bố năm 1981. Tới năm 1984, ông trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1986, tốt nghiệp đại học, ông rời khỏi quân đội và mau chóng chuyển sang làm báo và viết văn chuyên nghiệp. Cũng trong năm này, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Trung Quốc sau khi tiểu thuyết Cao lương đỏ được phát hành và được đón nhận nồng nhiệt từ phía công chúng và các nhà phê bình (năm 2000, tạp chí Asiaweek đã xếp Cao lương đỏ vào danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất của Trung Quốc trong thế kỷ XX)...
Mạc Ngôn được xếp vào thế hệ thứ tư của nền văn học Trung Hoa hiện đại. Cho tới nay, Mạc Ngôn đã xuất bản tới hơn 200 tác phẩm… Sách của ông được các nhà phê bình xếp vào dòng văn học “về nguồn” và “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”. Theo chính lời của Mạc Ngôn, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nhà văn nước ngoài như Francois Rabelais (Pháp); Patrick White (Anh); Gabriel Garcia Marquez (
Hiện nay, Mạc Ngôn là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc…
Ngay sau khi hay tin mình được trao giải thưởng Nobel, Mạc Ngôn đã nói với các nhà báo: “Giải Nobel, đó là giải thưởng văn học chứ không phải phần thưởng chính trị. Tôi nghĩ rằng nhu cầu sáng tác văn học đã nằm trong chính bản thể của con người và sáng tạo, đó còn là thứ lớn hơn cả chính trị. Việc tôi được nhận giải thưởng, đó là thắng lợi của văn học…”. Mạc Ngôn cũng nói thêm rằng, tất cả những ai từng đọc tác phẩm của ông đều hiểu ông là một người có tinh thần tự phê bình cao…
Viết theo cách của mình
Trong cuộc giao lưu với độc giả Đài Loan ngày 22/9/2013 tại chùa Phật Quang Sơn (thành phố Cao Hùng), nhà văn Trung Quốc này đã thổ lộ rằng, giải Nobel Văn học mà ông được trao năm 2012 không phải là phần thưởng lớn nhất đối với ông: “Nhà văn nào cũng mơ ước được nhận giải Nobel. Đúng, đó là một giải thưởng có uy tín. Nhưng đó không phải là thứ mà ta mơ ước với tất cả trái tim ta. Đối với bất cứ nhà văn nào thì điều quan trọng nhất là các tác phẩm của mình được phổ biến không chỉ ở một thế hệ để mọi người cùng đọc, cùng trích dẫn…”.
Mạc Ngôn còn kể tiếp: “Khi tôi mới 15-16 tuổi, một người hàng xóm kể cho tôi rằng có một nhà văn ở thành phố Tế Nam nhờ viết được một cuốn sách nên nhận được tới vài trăm nghìn USD. Và từ đó ông ấy có thể cho phép mình ngày nào cũng được ăn sủi cảo. Tôi bị sốc vì câu chuyện này. Vì tôi khi đó đã luôn nghĩ sủi cảo là món ngự thiện nên những người dân bình thường không thể nào có đủ tiền mua mà ăn được…”.
Rời Đài Loan, Mạc Ngôn đã sang Hồng Công. Ông hiện là Tiến sĩ danh dự của Trường Đại học mở Hồng Công. Và tại đó, nhà văn đã trả lời phỏng vấn cho báo South China Morning Post và nội dung bài này đã được đưa lên mạng Internet ngày 23/9.
- PV báo
- Nhà văn Mạc Ngôn: Nhà văn Trung Quốc nào cũng phải chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc và văn học phương Tây. Về phần văn học Trung Quốc thì nó tác động đến các tác giả theo hai hướng. Một số nhà văn chịu ảnh hưởng của thơ Đường và tiểu thuyết thời nhà Minh và nhà Thanh, những người khác chịu ảnh hưởng từ những câu chuyện dân gian. Trong trường hợp của tôi, các câu chuyện dân gian đã gây ảnh hưởng lớn hơn đến sáng tác.
- Trong diễn từ Nobel của ông, ông đã nói rất nhiều về mẹ mình. Ông kể rằng sau khi mẹ ông qua đời, ông đã rất đau khổ và quyết định viết một cuốn tiểu thuyết về bà (Phong nhũ phì đồn). Tại sao ông lại nghĩ rằng người mẹ - đó là “vị cứu tinh cuối cùng”, đủ khả năng để đồng cam cộng khổ một cách thực sự?
- Người phụ nữ trở nên vĩ đại nhờ những phẩm hạnh từ mẫu của mình. Sức mạnh của tình mẫu tử có thể “dịch núi rời sông”, không gì có thể ngăn lại. Nhân vật “mẹ” trong cuốn tiểu thuyết này đã vượt ra ngoài khuôn khổ của giai cấp, nó truyền tải phong cách tiểu thuyết của các thập niên trước.
Tiểu thuyết Trung Quốc xuất bản sau năm 1949 đã quá nhấn mạnh tới khía cạnh chính trị và nguồn gốc xã hội của con người. Chúng làm sai lệch và coi nhẹ việc mô tả bản chất con người. Người phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong sáng tác của tôi.
Kinh nghiệm mách bảo với tôi rằng, khi ta bị lâm vào một tình huống khó khăn hoặc khi tâm trí ta bị bấn loạn thì chỉ có người phụ nữ mới an ủi, động viên được trái tim ta. Phụ nữ phục hồi được tất cả những gì đã bị đàn ông hủy hoại.
- Ông bắt đầu viết từ những năm 80 của thế kỷ trước. Bây giờ nhìn lại ông nghĩ gì về giai đoạn đó và đặc biệt là bối cảnh văn hóa khi đó?
- Những năm 80 của thế kỷ trước là một thời kỳ vàng son đối với văn học và tôi đã luôn thiếu thời gian. Khi đó tồn tại rất nhiều chủ đề cấm kị đối với các nhà văn mà họ muốn thách thức. Khát vọng này đã kích thích thêm cảm hứng sáng tạo và trí tưởng tượng của họ.
Nhưng tôi cho rằng, những cấm đoán như thế đã nâng thêm tầm cho các tác phẩm văn học có giá trị. Thực tế thì tôi chưa bao giờ nói bất cứ một điều gì tương tự như thế. Tôi chỉ đơn giản chỉ ra bức tranh thực tế của thời kỳ đó.
- Trong cuốn tiểu thuyết “Đàn hương hình” (giải thưởng văn học mang tên Mao Thuẫn năm 2011), ông đã chỉ trích chính sách kế hoạch hóa gia đình của Trung Quốc. Bây giờ, ở một số vùng các bậc cha mẹ từng là những đứa con duy nhất trong gia đình, đã được phép sinh nhiều con. Ông đánh giá thế nào về sự thay đổi đó?
- Khi tôi bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết này, tôi không có ý định chỉ trích chính sách kế hoạch hóa gia đình mà chỉ muốn miêu tả nhân vật “các bà cô”. Hơn 30 năm đã trôi qua kể từ khi Trung Quốc áp dụng chính sách mỗi gia đình chỉ được sinh một con. Trong thực tế, thì chính sách này đã cho phép các gia đình ở nông thôn có thêm đứa con thứ hai. Khi đứa con đầu là gái thì gia đình có thể sinh thêm một đứa con thứ hai sau tám năm. Nhưng nếu đứa con đầu tiên là trai thì sẽ không được phép sinh thêm một đứa con nào khác nữa. Tất nhiên, trong việc thực hiện những hướng dẫn như thế luôn tồn tại những sự du di. Một số trường hợp thực sự là rất thái quá.
Tôi nghĩ rằng, nhà văn không nên lảng tránh các chủ đề xã hội mà phải viết về những vấn đề nghiêm trọng và phức tạp của xã hội. Một số nhà văn hiểu biết sâu sắc về lịch sử, vì vậy tốt nhất để họ viết ra các cuốn tiểu thuyết lịch sử. Tương tự như vậy, những người có trí tưởng tượng phong phú thì sẽ dễ viết được những tác phẩm khoa học viễn tưởng hay. Theo cách nhìn của tôi, tác phẩm của họ cũng có giá trị cao.
Đương nhiên, chúng ta cũng cần cả các nhà văn tập trung vào các vấn đề nghiêm trọng và nhạy cảm. Tôi tin rằng họ cũng có vai trò xã hội của họ.
- Ông đã mấy lần đến thăm Hồng Công. Ấn tượng của ông về thành phố này như thế nào? Ông có biết những nhà văn ở đây không?
- Tôi đã đến Hồng Công không chỉ một lần, nhưng lần nào tới đây cũng vội vã như bị ma đuổi. Đối với tôi, Hồng Công là một thành phố nhộn nhịp, sôi động, và tất nhiên, là một nơi rất văn minh. Nhưng cá nhân tôi với tư cách một người đàn ông từng sống nhiều năm ở vùng thôn quê, thì tôi cảm thấy mình trở nên lạc lõng trong đô thị náo nhiệt này. Tôi cảm thấy bị ức chế khi đi bộ qua những con phố hẹp giữa các tòa nhà chọc trời, thậm chí không thể nhìn thấy tia nắng nào.
Nhưng, tất nhiên, khi ta đã quen được với nơi mới tới thì rồi ta sẽ thấy nó không có gì khác biệt so với những chỗ khác. Tương tự như vậy, nếu bạn đến với thành phố quê hương của tôi, nhìn ngắm sa mạc và cao nguyên bằng phẳng trải dài đến tận chân trời, bạn có thể cảm thấy một sự trống rỗng.
Về các tác giả Hồng Công mà tôi biết thì có CC, bút danh của nhà thơ Zhang Yan, Wong Bik-wan, Dung Kai-Cheung, Lau Yee-cheung và, tất nhiên, cả Jin Yong.
Tôi rất kính trọng những tác giả này. Họ viết tuyệt vời và mỗi người đều có phong cách độc đáo của riêng mình…