Theo đơn xin ly hôn của bà Ng.Th.M. (34 tuổi, ngụ TP Mỹ Tho, Tiền Giang): bà và ông Ng.V.Đ. (38 tuổi) kết hôn với nhau năm 1995 và đã có với nhau 2 con chung (14 tuổi và 4 tuổi). Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc cho đến cuối năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn. Sau khi sinh đứa con thứ hai, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt hơn nên ông bà quyết định sống ly thân. Vì vậy, đầu năm 2009 bà nộp yêu cầu xin được ly hôn.
Về con chung, bà yêu cầu được nuôi hai con và yêu cầu ông Đ. cấp dưỡng mỗi tháng 2 triệu đồng. Về tài sản chung, theo bà: hai vợ chồng có 1 phần đất thổ cư hơn 100m2 nằm trên đường Trần Hưng Đạo, TP Mỹ Tho, 1 căn nhà và đất diện tích 108m2 cũng nằm trên đường Trần Hưng Đạo do cả hai vợ chồng đứng tên...
Chẳng có gì ngạc nhiên nếu như bà không liệt kê ra vô số vật dụng khác trong nhà như tivi, máy tính, xe đạp, bếp điện... và yêu cầu được chia đôi. Ngoài ra, bà M. còn cho rằng bản thân bà cũng có tài sản riêng là 1 chiếc Honda Dream, 1 máy may, 1 xe đạp martin, 7 cái nồi inox, 1 bộ nồi ấm, 30 cái chén, 30 cái ly thủy tinh... tất cả những tài sản này hiện ông Đ. đang "quản lý" nên bà yêu cầu được nhận lại. Còn về nợ: bà M. cho rằng, hiện tại vợ chồng bà còn nợ số tiền 7.000 đôla
Trình bày tại tòa, ông Đ. cũng không vừa. Theo đó, ông này đồng ý ly hôn, nhưng yêu cầu được nuôi 1 con, không bên nào phải cấp dưỡng. Về phần tài sản, ông cho rằng ngôi nhà vợ chồng đang sống là tài sản do ông tạo dựng nên trước ngày cưới nên không đồng ý chia (dù giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất đều do hai vợ chồng đứng tên).
Ông Đ. còn tố cáo bà M. trước khi ra khỏi nhà có mang theo 620 triệu đồng, 9 chỉ vàng 24k... và yêu cầu phải chia đôi. Số tiền nợ 7.000 đô la
Xử sơ thẩm vào giữa tháng 8/2009, TAND tỉnh Tiền Giang đã công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Đ. và bà M. Về phần con chung, do con gái lớn của họ đang bị bệnh bại não và có đơn yêu cầu xin được ở với mẹ, cháu thứ hai thì chưa đầy 3 tuổi nên Hội đồng xét xử giao cả hai cháu cho bà M. nuôi dưỡng.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con, xét bà M. không chứng minh được thu nhập của ông Đ. trên 5 triệu đồng/tháng nên Hội đồng xét xử chỉ ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của ông Đ. là 700 ngàn đồng/tháng.
Phần tài sản chung, ông Đ. được nhận 2/3 giá trị ngôi nhà đang ở và 1/2 miếng đất ở đường Trần Hưng Đạo, 4,5 chỉ vàng. Riêng số tiền hơn 600 triệu đồng ông Đ. tố vợ mang theo trước khi đi, tòa cho rằng, không có cơ sở để chấp nhận. Về khoản nợ 7.000 đô la, tòa bác yêu cầu của bà M. yêu cầu ông Đ. phải trả 1/2 số nợ này.
Không bằng lòng với bản án trên, ngay sau đó ông Đ. và bà M. đều làm đơn kháng cáo.
Bà M. không bằng lòng với "phán quyết" buộc bà phải chia cho ông Đ. 4,5 chỉ vàng, một mình bà phải trả số nợ 7.000 đô la Canada và chỉ chia cho bà 1/3 diện tích căn nhà trong khi phải nuôi hai con nhỏ. Tương tự, ông Đ. cũng kháng án yêu cầu cấp phúc thẩm phải chia cho ông 1/2 số tiền 534 triệu đồng mà bà M. mang theo trước khi bỏ đi. Trước tòa, cả hai vẫn giữ nguyên quan điểm.
Tòa nhận thấy cả hai trình bày đều không có chứng cứ, đã động viên họ nên thương lượng để giữ tình nghĩa với nhau. Hiện tại hai người vẫn còn con chung, nhất là cháu lớn bị bệnh bại não, thời gian tới bà M. sẽ vất vả hơn... Mỗi người hãy nghĩ đến con cái mà nên rút một phần kháng cáo...
Nghe phân tích, cuối cùng bà M. cũng đồng ý rút yêu cầu đòi ông Đ. phải cùng trả số nợ 7.000 đô la và đồng ý chia cho ông Đ. 4,5 chỉ vàng 24k; ông Đ. cũng chấp nhận giao miếng đất cho bà M., đổi lại ông sẽ lấy căn nhà... Riêng khoản tiền 534 triệu đồng ông Đ. vẫn kiên quyết đòi.
Tuy nhiên, sau hơn 3 giờ xét xử, xét yêu cầu của ông Đ. là không có cơ sở, HĐXX đã bác yêu cầu của ông Đ., chấp nhận một phần kháng cáo của bà M.: tuyên bà M. được hưởng lô đất nằm trên đường Trần Hưng Đạo, ông Đ. hưởng phần đất và ngôi nhà còn lại, nhưng phải chi trả lại cho bà M. số tiền chênh lệch gần 50 triệu đồng...