Có lẽ mạch thiêng Quan Yên soi chiếu xuống Ngã Ba Bông nơi hợp lưu của dòng sông Mã và sông Cầu Chày cấu thành vùng địa linh không chỉ là nơi sinh ra Bà Triệu mà còn một nhân kiệt nữa, đó là Đào Cam Mộc. Xã Định Tiến, cận kề Định Công xưa cũng là một dải đất Quan Yên cả.
Sử không chép năm sinh mà chỉ có năm mất (1015) chú bé họ Đào đã cất tiếng khóc chào đời nơi vùng đất này. Từ Quan Yên đến Trường Yên là cả một chặng hành trình dài dặc. Nhưng anh nho sinh họ Đào, như cá vuợt vũ môn hết trường đoạn gian khó này đến đoạn gian nan khác đã trở thành một trong những yếu nhân của chế độ Tiền Lê với chức quan Chi hậu.
Cuối triều Tiền Lê, Lê Ngọa Triều tham bạo giết vua anh để cướp ngôi và sống u mê, bạo ngược, sa đọa, trời bắt phải chết non. Con nối dõi còn quá bé, không thể kham nổi việc nước đang rối ren. Quan Chi hậu Đào Cam Mộc chủ trì cùng mấy đại thần cố công thuyết phục và lập quan Thân vệ Lý Công Uẩn, một người văn võ song toàn, tính tình công minh, trung hậu, khoan dung nhân từ, được lòng người quy tụ, lên làm vua. Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã phong cho Đào Cam Mộc làm Nghĩa Tín hầu và gả con gái là công chúa An Quốc cho. Đào Cam Mộc còn có nhiều công lao xây dựng triều chính, nhất là thời kỳ dời đô về Thăng Long, sau này ông còn được phong là Thái sư Á Vương.
Đại Việt sử kí toàn thư có chép một đoạn đầy kịch tính, miêu tả tài trí thông minh quyết đoán của mưu thần Đào Cam Mộc.
Bấy giờ, quan Chi hậu là Đào Cam Mộc dò biết (Lý) Công Uẩn có ý muốn được truyền ngôi, bèn nhân lúc vắng người, nói (với Lý Công Uẩn) rằng:
- Bấy nay, chúa thượng ngu tối và bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, vậy, tại sao Thân vệ lại không nhân cơ hội này mà nghĩ mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa thì xem dấu cũ của vua Thang, vua Vũ, gần thì xem việc của họ Đinh, họ Lê... trên thuận lòng trời, dưới hợp lòng người (nắm lấy ngôi báu có phải là hơn việc) khư khư giữ chút tiết hạnh bề tôi nhỏ nhoi hay không?
Mộ thân mẫu Thái sư Đào Cam Mộc.
(Lý) Công Uẩn lấy làm vừa ý với câu nói của Đào Cam Mộc nhưng lại còn sợ Đào Cam Mộc có mưu khác, bèn giả vờ mắng lại rằng:
- Sao ông dám ăn nói như thế? Tôi phải bắt ông đem nạp cho bá quan mới được.
Đào Cam Mộc thong thả nói với (Lý) Công Uẩn rằng:
- Tôi thấy việc trời và việc người như thế cho nên mới dám nói ra. Nay ông muốn tố cáo tôi thì tôi cũng xin thưa rằng tôi đâu sợ chết!
(Lý) Công Uẩn nói:
- Tôi đâu nỡ tố cáo ông, chẳng qua vì sợ lời nói của ông mà tiết lộ ra thì chúng ta đều phải chết nên mới răn như thế đó thôi.
Hôm sau, Đào Cam Mộc lại bảo (Lý) Công Uẩn rằng:
- Người trong nước cho rằng họ Lý sẽ làm nên nghiệp lớn, lời sấm đã hiện ra rồi, tai họa không thể che giấu được nữa. Nay, chuyện chuyển họa thành phúc phải làm ngay trong một sớm một chiều mà thôi. Đây chính là lúc mà trời thì ban cho, người thì theo về, ông còn ngần ngại gì nữa?
(Lý) Công Uẩn nói:
- Tôi hiểu ý ông cũng không khác gì ý của (nhà sư) Vạn Hạnh. Đã vậy thì nên tính kế như thế nào?
Đào Cam Mộc nói:
- Thân vệ là người khoan thứ, nhân từ, người người đều theo. Hiện nay, trăm họ đều đã mỏi mệt vì kiệt quệ, dân khó mà sống nổi, Thân vệ nên nhân đó, lấy nhân đức mà vỗ về, ắt người người đều vui theo, chẳng khác gì nước chảy xuống chỗ trũng, không ai có thể cản lại được.
Đào Cam Mộc biết rõ việc đã cần kíp lắm rồi, để nữa sợ sinh biến, liền trình bày với các bậc quan lại trong triều, ai ai cũng đều bằng lòng cả. Ngay ngày hôm ấy, họ họp lại, bàn rằng:
- Hiện nay, dân chúng muôn triệu người đều có lòng khác, ai cũng ghét tiên đế hà khắc, bạo ngược nên muốn suy tôn quan Thân vệ, bọn ta không nhân cơ hội này mà tôn lập Thân vệ làm Thiên tử, lỡ để xảy ra việc gì, liệu chúng ta có giữ nổi đầu mình nữa hay không?
Do đó mà tất cả cùng theo giúp vua (Lý) Công Uẩn lên chánh điện lập làm Thiên tử. Trăm quan đều hô: "Vạn tuế".
Hiện tại Đền thờ Lý Bát Đế, mé bên trái là khu nhà Võ Chỉ, nơi thờ những quan võ tiêu biểu trong khuôn viên rộng 720m2, cũng kiến trúc gần giống như khu Văn Chỉ. Nhà Võ Chỉ có biển khắc chữ nho treo trang trọng chính cửa Nghĩa liệt anh hùng là nơi thờ ba vị thờ tượng: Đào Cam Mộc, Lê Phụng Hiểu và Lý Thường Kiệt.
Chúng tôi về thôn Tràng Lang, xã Định Tiến, quê nội của ngài Thái sư Đào Cam Mộc. Câu chuyện với cụ Đào Đăng Khoa, người được coi là trực hệ của Thái sư và cụ Trịnh Tuệ một người nhiệt thành luôn chăm bẵm những sử làng cùng sử nước cứ ngược mãi về cái thuở dân gian nhưng nhiều chi tiết phù hợp với những cứ liệu của chính sử.
Chuyện bà mẹ Đào Cam Mộc ra sông Mã kia gánh nước cứ thấy quả bầu trôi quanh quẩn bèn mang về sau này thụ thai sinh ra Đào Cam Mộc. Chuyện cậu bé Đào Cam Mộc mồ côi cha, mẹ đem về quê ngoại ở làng Nam Thạch Yên Trung nuôi nấng chăm bẵm rồi rèn cặp con thế nào.
Chuyện những năm quân nhà Mạc đưa đại quân vây bọc quân của Triết vương Trịnh Tùng, từ Ngã Ba Bông lên Phủ Quảng khúc sông mười mấy cây số biến thành bãi chiến trường, hầu hết dân Tràng Lang dắt díu nhau chạy lên Nam Thạch quê ngoại của Đào Cam Mộc sau này nhiều đời đã định cư tại đó sinh cơ lập nghiệp ra sao...
Vậy nên quê ngoại lẫn quê nội Đào Cam Mộc có mối quan hệ khăng khít đã hơn ngàn năm nay là vì thế v.v... Hai cụ còn dẫn chúng tôi đi coi dấu tích khu điện thờ ngài Thái sư Á vương ở làng Tràng Lang được bố trí theo kiểu "tiền thần, hậu phật", đền gắn với chùa. Cứ như trí nhớ lẫn sự hướng dẫn của hai cụ, ngôi đền lẫn chùa ngày trước rất quy mô.
Khu điện thờ này có tên "Hùng Phúc cổ tự", thần được thờ cùng với Phật. Ngôi chùa được xây dựng vào năm Kỷ Dậu (1069), đời vua Lý Thánh Tông để nhớ ơn vị khai quốc công thần này. Ở bên tả tòa tiền điện, tượng Thái sư Á vương Đào Cam Mộc đầu đội mũ, mặt chữ điền, mắt sáng, môi son, râu dài, hai tay cầm cân đai, chân đi hài, mình khoác hoàng bào… toát lên vẻ uy nghi, hùng dũng.
Nhưng hỡi ôi, mọi chi tiết lẫm liệt uy nghi ấy chỉ còn trong trí nhớ bởi ngôi điện thiêng ấy bắt đầu bị phá vào cuối năm 1959 đầu năm 1960. Hai cụ kể lại cái dạo HTX Định Tiến có phong trào làm lò sấy thuốc lá, túng củi sấy lò, đám thanh niên táo tợn đã tìm đến dấu tích ngôi điện lôi tượng cụ Thái sư Á vương và nhiều pho tượng khác ném vào lò! Sau này cái người khởi đầu việc kiếm củi ấy tự dưng chết cháy! Duyên do là giời rét nằm ổ rơm hút thuốc lào nhưng dân làng nói là ngài quở!
Hoành tráng và uy nghi không kém, thậm chí quy mô hơn, tại làng Nam Thạch, Yên Trung quê ngoại Thái sư Đào Cam Mộc cũng có khu đền được xây cùng thời điểm với Hùng Phúc cổ tự dưới Tràng Lang (tức năm Kỷ Dậu - 1069). Nhưng số phận khu đền thiêng này cũng không thoát được sự tàn phá mà khởi đầu là từ năm 1959.
Rồi cũng như Hùng Phúc cổ tự ở Tràng Lang, có muộn hơn chút ít, ngôi đền trở nên trần thùi lụi trơ khấc lại mặt bằng là cuối những năm 70 của thế kỷ trước. Những gốc muỗm cổ thụ hai ba người ôm, những gốc cáo (gạo) khổng lồ, khu tam quan cùng với nghi môn uy nghi, bức đại tự hoàng tráng Sinh vi Lý tướng, tử vi Lê thần (sống làm tướng nhà Lý, chết làm thần nhà Lê) mà trật tuổi mới độ 50, 60 ở Nam Thạch còn được chứng kiến đã sạch bách, đã bằng địa nhường chỗ cho những ruộng dưa chuột. Tôi ngó PGS Hà Đình Đức tha thẩn ven thửa ruộng dưa cúi xuống cầm lên vật gì. Đó là một viên gạch vỡ màu đo đỏ pha sắc trắng mà PGS cho hay có lẽ từ đời Lý?
Rời nền đền, nói chính xác hơn là khu giồng dưa chuột, chúng tôi được ông cán bộ thôn đưa đến thăm ngôi mộ thân mẫu Thái sư Đào Cam Mộc. Phần mộ vốn lọt thỏm trong một khu vườn cây cối rậm rì. Ngôi mộ được coi là Thần thành hoàng làng Nam Thạch, từ một nấm cỏ sè sè mới được xây lại từ năm 2008 ghi hàng chữ phần mộ thân mẫu Thần hoàng làng Nam Thạch. Mấy ngôi nhà dân trong khu vườn rậm này ngó đổ nát xác xơ quá. Ông cán bộ trưởng thôn thì thầm rằng họ nói đây là khu đất dữ nên bỏ đi cả rồi! Họ than phiền không hiểu sao từ khi chuyển đến đây nhà thì đau ốm liên miên, nhà thì con cái bị tai nạn giao thông?!
May mắn thay có Đại lễ ngàn năm Thăng Long nên số phận hai ngôi đền thiêng ở quê nội và quê ngoại thờ Thái sư Đào Cam Mộc ở Tràng Lang và Nam Thạch đã có cơ được phục dựng. Làm việc với các nhà chức việc xã Yên Trung, chúng tôi như lây cái mừng là UBND tỉnh Thanh Hóa vừa có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử Thái sư Á Vương Đào Cam Mộc tại xã Yên Trung (huyện Yên Định).
Đền thờ Thái sư Á Vương Đào Cam Mộc sẽ được phục hồi, tôn tạo trên nền đền thờ cũ bị phá dỡ năm 1959, theo hình thức kiến trúc đình, đền thời Lê (thế kỷ XVII). Các hạng mục sẽ được tôn tạo: nghi môn ngoại, nhà bia, nghi môn nội, nhà tả hữu vu, điện thờ chính (tiền tế và hậu cung), lầu nghinh phong...
Theo đó, di tích này sẽ được đầu tư tôn tạo từ nay đến năm 2011 với tổng số vốn đầu tư hơn 46,5 tỉ đồng. Đây cũng là một trong những công trình văn hóa của tỉnh Thanh Hóa góp phần hưởng ứng Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2010.
Và nghe đâu trong một số cuộc hội thảo gần đây, Hà Nội sẽ có một con đường mang tên Đào Cam Mộc?