Trả lời: Vấn đề này liên quan đến chế định xóa án tích trong Bộ luật Hình sự. Chương IX Bộ luật Hình sự năm 1999 (có hiệu lực ngày 21/12/2000) đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (có hiệu lực từ 1/1/2010) gồm có 5 điều từ Điều 63 đến Điều 67. Điều 63 BLHS có đoạn: "Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận". Có hai trường hợp thường gặp là đương nhiên xóa án tích (theo Điều 64) và trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 65). Ngoài ra, còn có trường hợp xóa án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 66).
Tháng 12/2006 bạn bị xét xử về tội "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" theo Điều 285 BLHS (thuộc Chương XXI) với mức phạt 2 năm tù cho hưởng án treo nên bạn thuộc trường hợp "đương nhiên được xóa án tích" quy định tại điểm a khoản 2 Điều 64 BLHS như sau: "Điều 64. Đương nhiên được xóa án tích. Những người sau đây đương nhiên được xóa án tích: 1. Người được miễn hình phạt. 2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây: a/ Một năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo".
Như vậy, một người mặc dù trước đó đã bị kết án nhưng sau khi người đó chấp hành xong hình phạt, đã thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì người đó được coi như chưa bị kết án nên việc ghi lý lịch như bạn thực hiện nêu trên là đúng. Do vậy, không đặt ra vấn đề xem xét trách nhiệm cá nhân. Đây là quy định có tính chất nhân đạo của pháp luật Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho những người đã được xóa án tích có thể có cuộc sống bình thường như các công dân khác trong đời sống xã hội