Lặn lội cả ngàn cây số, gặp vô vàn những vất vả nhưng không đòi hỏi chút thù lao đền đáp. Động lực duy nhất chỉ là những nụ cười, lời cảm ơn của gia đình thân nhân. Ông tên là Đào Văn Quân (thôn Yên Từ, xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên, Hà Nam).
Ông Quân "liệt sĩ"
Đến Yên Từ, chỉ cần hỏi ông Quân "liệt sĩ", người làng sẽ chỉ thẳng đến nhà ông, không quên kèm theo câu hỏi "Tìm mộ liệt sĩ hử?". Chỉ mới đây thôi người ta mới gọi ông là ông Quân "liệt sĩ". Người thôn Yên Từ vẫn còn chưa quên những lần ông lên cơn điên. Ngày ấy ông Quân là nỗi hoảng sợ của trẻ con trong xóm. Như một người từ thế giới khác bước ra, ông khiến mọi người thay đổi hoàn toàn cách nhìn về mình. Một người sống vì người khác, người biết hy sinh cho lý tưởng cao đẹp.
Đến từ chiều, nhưng chờ mãi đến 8 giờ tối, tôi mới gặp được ông. Dáng người cao gầy, gương mặt có phần khắc khổ, râu ria lởm chởm là nét dễ nhận thấy nhất khi mô tả về ông. Mỗi khi ông cười, chỉ còn thấy được vài chiếc răng "đại diện". Ở tuổi ngấp nghé 60, trông ông có nét gì đó "tồi tội".
Bên ngoài, bóng tối đã kịp đặc quánh lại, không gian tĩnh lặng như tờ quấn lấy ngôi nhà cấp 4 không có đồ đạc gì giá trị. Ông kể với giọng điệu sôi nổi, từng lời như có "lửa": "Cách đây gần 5 năm, tôi làm tình nguyện viên cho Ban Liên lạc truyền thống (Trung đoàn 88 - Tu Vũ thuộc Sư đoàn 308 "quả đấm thép" Bộ Quốc phòng) và Trung tâm Giáo dục truyền thống và Lịch sử.
Tôi được giao nhiệm vụ chuyên đặc trách mảng liệt sĩ. Họ giao cho tôi danh sách các liệt sĩ chưa có người nhận từ thời chống Pháp đến giờ mà phần mộ còn nằm lại từ Bắc chí Nam như Đông Hà, Tây Ninh, kể cả Campuchia, Lào. Nhiệm vụ của tôi là tìm lại thân nhân cho các liệt sĩ ấy". - Ông vỗ vỗ vào chiếc cặp da chứa chồng tài liệu.
Ngoài "bầu máu nóng" là công cụ quý giá nhất, ông tìm mộ hoàn toàn theo phương pháp "thủ công". Sau khi đã có thông tin đầy đủ về các liệt sĩ trong tập tài liệu, ông lại mày mò tìm cách liên lạc với thân nhân của họ để báo tin. Với con ngựa sắt già nua cùng chiếc điện thoại bàn, "liên lạc viên của các liệt sĩ" bắt đầu hành trình trên từng cây số. Ông nói tường tận: Trước hết tôi dùng quyển danh bạ điện thoại các tỉnh, trong đó có Hà Nam, tra xem gia đình này ở dòng họ nào, thuộc thôn xã nào.
Tiếp đến là gọi điện báo cho tỉnh, rồi xuống huyện, xã nói khéo với người ta để người ta báo tin cho gia đình liệt sĩ biết. Bây giờ cơ chế "làm kinh tế", mình làm việc này là từ thiện, công đức thôi chứ không lương, không công gì thì người ta không tin. Cho nên mình cũng phải khéo đấy mới cho gia đình người ta sớm biết được nguồn tin để họ phấn khởi vui vẻ. Ông giải thích về chuyện "nói khéo" mà tôi thấy buồn man mác.
Khi gia đình tới, ông lại giở tài liệu ra, tra ngày tháng năm sinh tên tuổi, quê quán, ngày tháng nhập ngũ, đơn vị, hy sinh ngày tháng năm nào, ở chiến trường nào, hiện đang nằm ở nghĩa trang nào cho gia đình biết, để khớp với thông tin từ phía gia đình. Rồi ông lại phải sưu tầm số điện thoại của tất cả các nghĩa trang. Thân nhân cứ theo số điện thoại trong đó gọi vào hỏi để yên tâm, rồi xin giấy của xã huyện mang vào nghĩa trang thăm viếng.
Với những trường hợp không thể nhờ xã báo tin, ông lại lóc cóc đạp xe gõ cửa từng nhà, có khi ông làm hành trình xuyên qua mấy tỉnh mới tìm được một địa chỉ chính xác. Việc báo tin cũng làm ông bao lần khốn khổ. Đội mưa, đội nắng đi đến từng xóm thôn, rồi từng nhà. Thế nhưng, trải qua hơn nửa thế kỉ, tên xóm, tên làng cũng bao lần đổi thay. Những con người tại địa chỉ đó người còn người mất, người thì bỏ xứ mà đi, mấy mươi năm chưa một lần hồi hương.
Vậy mà, ông vẫn miệt mài đi tìm, dù chặng đường ấy chẳng lấy làm bằng phẳng. Ông chia sẻ: "Có gia đình ở Kim Bảng (Hà Nam) nhưng mình đến tận nơi thì mới hay đã chuyển đến Bắc Ninh. Mình lại phải tìm cách hỏi lại địa chỉ cư trú hiện tại của họ, nếu không mất thân nhân gia đình liệt sĩ thì vô vị. Khi mình tìm đến nơi, gia đình ngạc nhiên hỏi "Sao bác biết nhà tôi ở đây mà tìm đến báo". Tôi bảo tôi phải tìm hiểu qua địa phương, hỏi dân làng thì người ta cho biết gia đình đi làm ăn".
Sau những lần gian truân ấy, còn đọng lại trong ông là niềm vui khi gia đình các liệt sĩ tìm được phần mộ người thân. Ông hào hứng, mắt sáng rực: Ví dụ nhà Chu Hy Quả trong Kim Bảng (Hà Nam), giờ hai vợ chồng đang bán hàng ở chùa Hương (Hà Nội). Mình báo tin cái là ra ngay, rồi lại cơm nắm cơm đùm đi ngay. Vào nghĩa trang Đông Hà thấy mộ bố nó, nó sướng quá gọi điện ra khoe "Chú Quân ơi, đây rồi. Chú ngồi đó nghe nhé, đúng số mộ chú nói đây rồi. Chính xác bố cháu đây rồi. Tuyệt vời quá chú ơi. Chúng cháu cảm động quá. Giờ cháu tạm thời xin chú để bố cháu yên nghỉ ở đây cho phấn khởi cái đã".
"Mồm nói, tay làm, chân đi"
Đó là mô tả của vợ ông khi nói về "công việc" của chồng. Bà vừa cười vừa nhanh nhảu "kể tội" chồng: Tôi suốt ngày ca thán. Toàn đi lo việc không công, không lương. Làm cái việc này không như nhà ngoại cảm ngồi phán, phải mồm nói, tay làm, phải đi đấy. Ông ấy "say sưa" lắm. Lắm lúc bỏ cơm để mà đi báo tin cho gia đình nhà người ta đấy.
Còn về phần mình, ông chỉ có một tâm niệm giản đơn: Mình trăn trở với những đồng chí nằm lại ở chiến trường. Gia đình họ phần nào cũng có sự thiệt thòi. Bản thân các liệt sĩ cống hiến cả một đời cho cách mạng để có được hòa bình hạnh phúc như hôm nay. Mình may mắn còn sống trở về quê hương, thì phải kế thừa trách nhiệm chung, trong đó có trách nhiệm riêng với tình đồng đội. Gia đình khó khăn nhưng mình vẫn phải bỏ tiền ra để làm việc tình nghĩa này.
Tôi hỏi: "Thế bác đi đến nhà người ta thì có khi nào đi bằng xe máy không?". Ông cười cười, vô tư như đứa trẻ: Đi bằng xe đạp cũ kĩ thô sơ thôi chứ xăng xe ở đâu ra. Với lại tôi cũng không biết đi xe máy. Chỗ nào xa quá thì đi xe buýt.
Tôi hỏi tiếp: Thế lương thương binh của bác có đủ tiền đi lại thế không? Ông lắc đầu quầy quậy: "Sao mà đủ được. Một tháng được có 700-800 nghìn đồng tiền lương thương binh. Mỗi tháng tiền điện thoại đã mất 400-500 nghìn đồng rồi. Cho nên đi đường phải thật tiết kiệm, mong đến gia đình người ta càng sớm càng tốt. Địa phương báo xuống gia đình người ta được thì tốt mà không thì phải đến tận nhà. Vất vả mưa nắng. Bằng cái tâm thì không kể hết được. Ví dụ có gia đình người ta tìm thấy mang về, mình lại có vòng hoa đến viếng, mình lại trích tiền túi ra thì làm sao mà đủ xuể được.
"Việc này không một sớm một chiều làm ngay được mà đòi hỏi có cái tâm kiên trì chịu khó, nhẫn nại chứ không thể nóng hổi được. Phải thành tâm, mình phải nghĩ đến tình đồng chí đồng đội cao cả" . Thật may mắn khi cuộc đời vẫn còn có những người "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" đầy rộng lượng như ông.
Sau khi đã liên lạc được với thân nhân của liệt sĩ, ông lại xắn tay giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình tìm mộ thân nhân. Khoảng cách giữa một lão nông già thích làm việc thiện với gia đình thân nhân liệt sĩ xa lạ bỗng chốc xóa nhòa. Ông vui khi mọi việc xuôi chèo mát mái, cứ canh cánh trong lòng khi có sai sót xảy ra.
Mỗi khi thông tin của gia đình không khớp với thông tin trong tập tài liệu ông có, hay không khớp với tài liệu trong các Sở Thương binh xã hội của các tỉnh, có khi chỉ là một cái dấu đánh nhầm vị trí, ông lại cùng gia đình thân nhân lên Hà Nội, gõ cửa Cục Chính sách (Bộ Quốc phòng) hay lặn lội tìm về tận đơn vị của liệt sĩ để đề nghị chỉnh sửa.
Ông bảo: Mình như khâu trung gian ở giữa. Khâu nào sai sót mình lại điện lên hỏi cơ quan Nhà nước, Cục Chính sách chẳng hạn. Nhiều gia đình đi đến đâu là hẹn trước mình ngồi nhà trực. Ví dụ có sự cố chỗ nào, trục trặc ở chính quyền địa phương nào, quân khu nào thì mình lại điện vào nói với họ. Như vậy nó mới thông đồng bén giọt cho gia đình đi đến nơi về đến chốn.
Mỗi ngày qua đi, hành trình của ông cứ ngày một dài thêm, còn khoảng cách giữa các liệt sĩ đang nằm trên khắp dải đất hình chữ S này với thân nhân càng được rút ngắn. Ông đã, đang và sẽ còn thắp lên hy vọng cho những người mẹ chờ con, người vợ chờ chồng, người con chờ cha. Và đó là động lực, là niềm tin để một ngày nào đó, ông nông dân có dáng vẻ gầy gò xiêu vẹo không còn trăn trở và day dứt "Vẫn còn hơn 10.000 liệt sĩ nằm ở nghĩa trang Trường Sơn mà mình chưa có điều kiện đi báo hết được. Nhiệm vụ đặc trách mà chưa làm hết được"