Ông lão nhà quê

Ông lật tờ báo đến trang cuối cùng, thấy một khuôn mặt quen, đóng khung đen, ở mục "Tin buồn". Ông ớ lên một tiếng, xoay tờ báo ra chỗ sáng, khó khăn đánh vần mấy hàng chữ rồi kêu lên nho nhỏ: "Anh Năm chết rồi sao?". Khuôn mặt sạm nắng, nhăn nheo của ông hơi tái đi. Ông Tư Dòng Sông đưa tờ báo ra xa, vào gần, đánh vần lần nữa những chữ trong khung đen, rồi chẳng nói chẳng rằng đứng lên rời khỏi quán, cầm luôn tờ báo đi về.

Về đến nhà, ông vội tìm thằng cháu trai vừa tốt nghiệp cấp hai, bảo nó đọc cái tin buồn cho ông nghe. Đứa cháu đọc, ông biết đúng là ông Năm, người được ông nuôi mấy tháng trong hầm bí mật thuở chiến tranh. Sau đó, ông Năm hoạt động sang vùng khác, ông Tư Dòng Sông cũng trôi nổi nhiều nơi. Hòa bình, ngẫu nhiên họ gặp lại nhau, ngẫu nhiên như trong chiến tranh ông Năm lọt vào nhà ông Tư Dòng Sông để ông Tư Dòng Sông nuôi vậy. Ông Năm vẫn nhớ ông Tư Dòng Sông, hỏi han nhiệt tình, còn tranh thủ một chuyến công tác ghé thăm nhà ông Tư Dòng Sông, nhậu với ông Tư Dòng Sông một bữa "cây nhà lá vườn" tới xỉn mới chịu nghỉ. Ông Năm làm cán bộ trên thị xã, công việc lu bu không ghé thăm ông Tư Dòng Sông được lần nào nữa, trong mấy chục năm có nhắn mời ông Tư Dòng Sông ra nhà chơi thì ông Tư Dòng Sông cũng tính đi mấy lần mà chưa đi được lần nào. Nay đột ngột ông Năm qua đời. Nghĩa tử nghĩa tận, ông Tư Dòng Sông bảo đứa cháu cùng ông đi viếng ông Năm.

Ông cháu ông Tư Dòng Sông đang xớ rớ trước cổng, lập tức có người ra đỡ vòng hoa, dẫn vào. Một chiếc bàn đặt dưới tấm dù che rạp. Trên bàn có xấp phong bì, cuốn sổ. Một người ngồi sau bàn, nghiêm trang hỏi:

- Thưa, bác là đoàn nào ạ?

Lúc ấy, có người đang viếng bên trong, nhạc nổi lên não nề, ông Tư Dòng Sông không nghe rõ câu hỏi, cúi xuống nghiêng tai. Người ngồi sau bàn đã im lặng. Ông Tư Dòng Sông đưa bàn tay đen đúa nắm lấy cánh tay người ngồi sau bàn:

- Ông nói chi?

Người ngồi sau bàn nhíu mày. Vừa lúc, có một đoàn khoảng chục người với một vòng hoa lớn đi vào. Người ngồi sau bàn gạt ông Tư Dòng Sông sang bên: "Bác chờ cho chút", rồi lom khom đón đoàn người mới vào. Liên tục mấy đoàn người đông đúc với vòng hoa lớn nối tiếp nhau. Ông Tư Dòng Sông và đứa cháu đứng chờ mỏi chân mà không dám kiếm ghế ngồi. Khi đã vắng, người ngồi sau bàn đưa tay ra hiệu cho ông Tư Dòng Sông lại gần:

- Thưa, bác là đoàn nào ạ?

Lần này ông Tư Dòng Sông nghe rõ, nhưng phải hỏi lại:

- Dạ, ông nói đoàn là đoàn gì?

Người ngồi sau bàn lại nhíu mày, không ngửng lên nữa, hỏi:

- Bác từ đâu đến?

- Ông cháu tôi dưới quê lên - Ông Tư Dòng Sông mau mắn trả lời.

- Quê ngoại hay quê nội?

Ông Tư Dòng Sông vội trả lời:

- Tui ở quê của tui, xã …

- Thôi, được rồi - Người ngồi sau bàn thở dài không che giấu, chỉ xấp bao thư trên bàn - Bác phúng điếu bao nhiêu tiền để tôi ghi sổ?.

Ông Tư Dòng Sông giật thót mình, túi ông chỉ còn đủ tiền cho hai ông cháu về quê. Lúng túng liếc nhìn xung quanh, ông nói nhỏ:

- Dạ, ông cháu tôi có vòng hoa.

- Được rồi - Người ngồi sau bàn phẩy tay - Vào đi.

Vòng hoa đi trước, ông Tư Dòng Sông lập cập bước theo sau. Ông choáng ngợp. Nền nhà lát gạch bông sáng loáng. Vòng hoa quá nhiều, dựng hai bên, còn treo cả trên cao. Quan tài lớn đặt chễm chệ, trước quan tài có ảnh của ông Năm. Nhìn thấy tấm ảnh như gặp lại người thân, ông Tư Dòng Sông bớt lập cập. Có tiếng nhắc ông để đôi dép lê lấm bùn đất bên ngoài, trước khi bước lên tấm chiếu hoa. Ông Tư Dòng Sông lại lúng túng. Ai đó giúi vào tay ông một nén nhang. Ông cúi đầu vái, lẩm bẩm khấn ông Năm mồ yên mả đẹp. Cố gắng cắm nhang vào lư quá nhiều chân nhang, ông dịch sang bên cho đứa cháu bước lên cắm nhang. Ông Tư Dòng Sông đang thầm thì kể cho ông Năm biết ông là ai thì xung quanh có tiếng to nhỏ. Những người đang đứng im xung quanh chợt rùng rùng cử động, họ nhúc nhích rồi người bước tới, người bước lui, người bước ngang và người ngồi xuống. Đứa cháu níu áo ông. Ông vội vã, lập cập lùi bước, suýt ngã ở bậc tam cấp gạch men bóng loáng. Có người dẫn hai ông cháu ra chiếc bàn gần cổng, chỉ có nước trà và bánh bích quy, không phải dãy bàn ăn nhậu cuối sân. Ông Tư Dòng Sông ngơ ngác nhìn quanh, muốn hỏi han chuyện gia đình của ông Năm, như thói quen ở thôn quê để chia buồn, nhưng không biết hỏi ai. Người xung quanh đông đúc nhưng đều xa lạ. Ông lắng nghe thì họ nói chuyện đâu đâu. Không biết ông Năm bị tai nạn giao thông chết liền hay còn sống mấy ngày, có đau đớn gì không? Đánh bạo, ông thì thào hỏi một người ngồi gần sau lưng:

- Ông Năm bị tai nạn ngày nào vậy ông?

- Nghe nói hôm kia.

Ông Tư Dòng Sông định hỏi thêm thì người mới bắt chuyện đã có người kéo vào bàn nhậu cuối sân. Ông Tư Dòng Sông hỏi người ngồi gần người vừa đi:

- Ông Năm có mấy người con?

- Bốn hay năm đứa gì đó.

Ông Tư Dòng Sông hết hứng thú hỏi han, hết hứng thú ngồi lại, hết cả thèm rượu như bình thường mỗi khi thấy rượu, ông ra hiệu cho đứa cháu đứng dậy để về. Đông người xung quanh nhưng không ai tiễn hay chào ông cháu ông Tư Dòng Sông lấy một tiếng. Hai ông cháu lặng lẽ bước khỏi cổng, vẫy chiếc xe ôm.

Minh họa: Lê Trí Dũng.
Minh họa: Lê Trí Dũng.

Từ đó, ông Tư Dòng Sông lại hay coi báo, những tờ báo nhặt được hay mượn của ai đó. Coi báo, ông chủ yếu coi mục báo tin người chết. Đưa tin người chết trên báo cũng có nhiều kiểu, người chỉ mấy dòng ngắn ngủn, người nửa trang, người có ảnh, người không, có người liệt kê cuộc đời đã làm những gì, khi chết có chức gì, được tặng bao nhiêu huân chương. Ngồi ở quán cà phê đầu ấp, ông Tư Dòng Sông nói:

- Báo tin người chết trên báo không chỉ là chuyện chết đâu nghe.

Các ông hàng xóm cười ồ. Một ông hỏi:

- Không chuyện chết thì chuyện gì?

Ông khác:

- Chết mà không báo chết thì là từ trần, qua đời, tắt thở, ngoẻo củ từ.

Ông Tư Dòng Sông vẫn nghiêm trang nói:

- Cứ coi báo là thấy liền.

Những người hàng xóm hơi tự ái, nghĩ chắc ông Tư Dòng Sông hồi trước nuôi cán bộ trong nhà, nay quen biết hơn người khác chút ít thì lên mặt. Một người phản công:

- Ông kể lại chuyện mang vòng hoa viếng ông cán bộ trên thị xã lần nữa coi?

Lần đó, ông cháu ông về đến nhà, đói rã họng cả ấp đều biết. Ông Tư Dòng Sông hơi mắc cỡ, không trả lời, tỏ vẻ không thèm nói chuyện nữa và ông cầm tờ báo ở gầm bàn lên xem. Một ông hàng xóm đấu dịu:

- Cũng có thế thật, nhiều người làm cán bộ phấn đấu cả đời chỉ mong khi chết được đăng tin trên báo lớn hơn người khác một chút.

Nhưng ông Tư Dòng Sông không còn nghe người hàng xóm ủng hộ mình nữa, ông đã chúi mũi vào tờ báo vì thấy ngay trang đầu có một cáo phó to tướng. Đó lại là người quen thân với ông, quen thân hơn cả ông cán bộ thị xã, chức cũng to hơn. Bốn chục năm trước, một buổi tinh sương, ông ra ruộng gặp một người đàn ông nằm bên bờ, chân phải đẫm máu. Ông liền cõng về nhà, nuôi trong buồng. Vợ chồng ông nuôi ông cán bộ suốt một tuần, khi vết thương se miệng, mới chở xuồng đưa ông vào rừng. Hòa bình, ông cán bộ có đưa vợ con về thăm ông Tư Dòng Sông một lần, tặng túi quà có nhiều vải vóc, bánh kẹo. Ông cán bộ bị thương còn làm chứng để ông Tư Dòng Sông được tặng Huân chương Kháng chiến, kèm mấy triệu đồng mua được tôn xi măng thay mái nhà lá dột nát. Ông Tư Dòng Sông cũng có một lần ra nhà ông ấy, được đón tiếp vui vẻ. Tình nghĩa hai bên sâu đậm hơn ông cán bộ thị xã, nên khi đọc xong cáo phó, ông Tư Dòng Sông thừ người ra hồi lâu. Rồi ông lặng lẽ bước ra, đến ngoài đường tự dưng nước mắt chảy ướt đẫm đôi gò má nhăn nheo.

Lần này, đứa cháu không chịu đi theo ông nữa. Ông hỏi nó có nhớ hai ông bà đi xe con về thăm nhà ông không, nó bảo không nhớ. Ông nói, nhà ông cán bộ này ông đã đến, vợ con của ông cán bộ ông cũng đã biết, ra viếng sẽ không bị ngó lơ như ông cán bộ thị xã. Đứa cháu bảo, vợ con ông ta có nhớ thì nhớ ông chứ không nhớ nó, nên nó dứt khoát không đi. Ông Tư Dòng Sông đành lủi thủi đi một mình. Ông vay hàng xóm một món tiền đủ mua vòng hoa và bỏ bao thư phúng điếu, nhưng dọc đường ông lại đổi ý, không mua vòng hoa nữa vì nghĩ một mình một vòng hoa không giống ai, dồn tiền lại bỏ bao thư phúng điếu cho dày. Ông nói với xe ôm chạy thẳng đến nhà ông cán bộ. Ngôi biệt thự im ắng, chỉ mở nửa cánh cổng, lèo tèo mấy người đi lại và toàn người lạ. Ông dò hỏi, mới biết lễ tang ông cán bộ làm ở nhà tang lễ của thành phố.

Đám tang rất lớn. Một đoạn đường bị chặn cấm xe qua lại để đậu xe của những người đi viếng. Xe lớn, bé san sát, kéo dài. Ông Tư Dòng Sông nép sát vỉa hè đi vào, một tay khư khư giữ bao thư đựng tiền trong túi áo. Tới cổng nhà tang lễ, ông vươn cổ dòm vào thấy hai hàng người mặc áo trắng, cầm súng. Trong đó người đông nghịt và tối om. Ông đang vươn cổ dòm, một anh công an đến hỏi:

- Bác là ai?

Ông giật mình. Anh công an hỏi tiếp:

- Bác đến viếng tang hay gặp ai?

Ông lúng túng. Ông đi viếng tang nhưng cũng muốn gặp những người quen là vợ con của người quá cố. Ông chưa biết trả lời ra sao thì phía sau có một đoàn người với vòng hoa lớn ào vào. Anh công an quay sang đoàn đó. Ông Tư Dòng Sông ngẩn mặt nhìn theo và dáo dác nhìn quanh, hy vọng thấy người quen nhưng toàn người lạ. Sự khôn lỏi trong ông nổi lên, ông lẩn ra sau cánh cổng, bước sang quán cà phê chếch bên kia đường. Đến nơi xa lạ, chưa biết gì thì không gì bằng để ý nhìn. Ở đời chẳng ai học hết mọi điều, không thể học hết được và có việc cả đời mới gặp một lần biết đâu mà học, có học cũng quên, nên muốn không bị hớ thì không gì bằng nhìn người khác làm để làm theo. Cày bừa, gặt hái, ông có học đâu, nhìn người lớn mà làm theo cả.

Chủ quán cà phê là cô gái trẻ, đưa ly nước cho ông rồi cũng ngồi xem đám tang. Ông bắt chuyện:

- Đám tang lớn quá phải không cháu?

- Dạ, hôm qua còn đông hơn.

- Dưới quê bác, người chết phải chôn trong ngày, quy định nếp sống văn hóa mới phải như vậy, không được để lâu hơn.

- Ở thành phố, dân chết cũng được chính quyền động viên chôn sớm, nhưng cán bộ chết có người để cả tuần.

- Chà chà, cả tuần à?

- Chà, chà, chà, chà…

Lúc ấy, ngoài đường có một chiếc xe mười sáu chỗ dừng lại, người trên xe bước xuống, áo quần tề chỉnh. Vòng hoa lớn để trong xe, phải ba người mới lấy ra được. "Từ từ, kẻo rụng hoa, vòng hoa lớn nhất cửa hàng hoa đấy". "Hôm qua, tôi thấy có cơ quan kia đi vòng hoa cũng lớn lắm". "Không bằng vòng hoa này đâu". "Ờ, chắc không bằng. Vòng hoa này toàn hoa trắng, cho thấy sự thanh tao, trong sạch". Khi nói đến "trong sạch" thì vòng hoa đã được lấy ra khỏi xe, họ giục nhau xếp hàng. Mấy người dáng cấp trên đứng phía trước, những người còn lại đùn đẩy phía sau, chốc lát mới yên. Vòng hoa trắng lừng lững và đoàn người nghiêm trang đi vào. Ông Tư Dòng Sông nhìn theo, mới thấy ông không mua vòng hoa là hay, nếu mua vòng hoa thì vòng hoa của ông nhỏ bé sẽ tội nghiệp lắm.

Có đoàn đi ra. Họ đứng lại bên đường trước quán cà phê chờ ôtô tới đón. "Không thấy người nhà đâu cả?". "Hình như có mấy đứa con". "Chôn ở đâu?". "Không xem cáo phó ư?". "Đông quá, không kịp xem". "Đông thật, ngột muốn xỉu". Xe trờ tới. "Đến đâu đây?". "Quán Hoa Hồng được không?". "Quán đó em út xấu lắm, đến Thủy Tiên đi". "Thì Thủy Tiên".

Ông Tư Dòng Sông nghe lùng bùng lỗ tai, đưa tay vào túi sờ bao thư tiền mỏng dính, càng cảm nhận đầy đủ sự nghèo hèn của mình, không biết nên làm gì bây giờ. Mồ hôi tứa ra đầm đìa.

- Ở thành phố bây giờ hương hoa đám tang nhiều thứ nhập ngoại đấy bác ạ - Cô chủ quán hỏi - Vậy chớ hôm nay bác đi đâu trên này?

Ông Tư Dòng Sông cứ trả lời không ăn nhập vào câu hỏi của cô gái:

- Bác đi một mình, dưới quê mấy năm nay thất mùa liên tiếp, làm gì cũng thất…

Tiếng nhạc đám ma im bặt. Ông Tư Dòng Sông ngồi thừ ra. Cô gái nói:

- Hay là bác đi ăn cơm đi, đến giờ rồi đấy.

Ông Tư Dòng Sông ngơ ngác:

- Ăn cơm gì?

- Ăn cơm trong đám ma ấy. Hôm nay, đám ma vẫn nấu rất nhiều cơm đãi bá tánh thập phương như hôm qua, cháu biết mà, bày bàn trong sân bên cạnh. Sân rộng lắm, bác qua cổng rẽ tay phải sẽ thấy, ai muốn ăn là vô ăn thôi.

- Thế à, thế à… - Ông lẩm bẩm - Thật không, thật không?

- Cháu không lừa bác đâu - Giọng cô gái ôn tồn - Hôm qua mấy người ăn xin vô ăn còn được quay phim chụp ảnh đưa lên báo, nói là người nghèo vào tiễn đưa. Ông cứ vô, người ta không đuổi đâu.

Ông không nhìn cô gái nữa, ngơ ngác nhìn xung quanh, mồ hôi lại tứa ra. Ông đưa ống tay áo sờn mồ hôi lên chùi lia lịa, rồi bước ra vỉa hè khi không có đoàn nào đến, đoàn nào đi nên trống vắng. Đến giữa vỉa hè, ông đứng sững lại, rồi bặm miệng đi vào. Đúng là người ta đã ăn cơm, sảnh nhà tang lễ trống vắng hẳn. Ông hiên ngang bước giữa hai hàng tiêu binh, tới đầu sảnh. Người ngồi ở chiếc bàn đầu tiên lễ phép đứng dậy hỏi:

- Thưa, bác ở đâu đến viếng ạ?

Ông xướng đầy đủ họ tên, quê quán. Người hỏi ngồi xuống, ghi chép cẩn thận lên một tờ giấy chuyển vào bàn bên trong, đồng thời hướng dẫn ông đi tiếp vào. Người ngồi ở bàn thứ hai lễ phép đứng dậy nói với ông, ở đây đã có chuẩn bị sẵn một số vòng hoa để luân phiên cho những người đến mà không đem theo vòng hoa, ông có cần không? Ông dõng dạc trả lời không, ông chỉ phúng tiền thôi. Người ở bàn thứ hai hướng dẫn ông đi tiếp đến bàn thứ ba. Người ngồi ở chiếc bàn lớn mời ông dừng lại để ghim lên áo một mảnh vải đen. Bấy giờ, có hai người mặc lễ phục trắng toát như những tiêu binh trước cổng, đến mời ông đi vào nơi làm lễ. Ông Tư Dòng Sông đi giữa, hai người áo trắng đi hai bên, ông cảm thấy thật oai vệ, một cảm giác ông chưa bao giờ có. Phòng tang lễ rộng lớn, trần cao vòi vọi, nền lát gạch bóng lộn. Xa bên trong, nơi đặt quan tài người quá cố, vòng hoa xếp mênh mông, khói hương nghi ngút. Ông Tư Dòng Sông ngẩng cao đầu, mắt nhìn thẳng, chân tay khuỳnh khuỳnh. Chợt vang lên tiếng đọc đều đều, rất rõ ràng họ tên, quê quán của ông và ông nhác thấy xung quanh quan tài nhiều người rùng rùng đứng lên. Cách quan tài dăm thước, ông được hai người áo quần trắng khẽ kéo tay dừng lại. Lúc ấy, ông lờ mờ thấy ảnh người quá cố đặt trước quan tài nhưng nhìn không rõ. Ông vươn cổ ra thì đột ngột tiếng kèn đồng của đội quân nhạc réo lên bài "Hồn tử sĩ". Tiếng nhạc mạnh đến nỗi ông giật mình, suýt ngã. Cả phòng tang lễ phút chốc ngập tràn điệu nhạc buồn thê lương.

Chưa bao giờ ông Tư Dòng Sông đứng trong một căn phòng rộng lớn trang nghiêm mà nhất cử nhất động được sắp xếp chính xác chi ly như thế, lại đứng một mình, thêm tiếng nhạc trầm buồn âm u như từ cõi âm phủ vọng lên, khiến ông phút chốc mất hết vẻ bình tĩnh cố giữ nãy giờ, tay chân bủn rủn, đầu óc hoang mang. Choáng ngợp, lo lắng, lúng túng, không biết cử động như thế nào cho đúng, ông đứng đơ ra, nhanh chóng bị tiếng nhạc nhấn chìm vào trạng thái không làm chủ được bản thân, nước mắt tự nhiên tuôn chảy đầm đìa, giọt ngắn giọt dài và ông bật tiếng khóc thổn thức. Ông đưa hai tay lên quẹt nước mắt lia lịa, cố kìm tiếng nấc mà không được. Khi nhạc đã tắt, ông vẫn đứng đơ ra, cúi đầu thổn thức, hai người mặc áo quần trắng phải ghé tai nói nhỏ, đồng thời kéo tay áo, ông mới biết bước theo để đi quanh quan tài người quá cố. Ông bước như một cái máy, nước mắt vẫn sụt sùi, thêm khói hương mù mịt, ông không còn nhìn rõ được gì nữa, cả cỗ quan tài với rừng hoa lẫn những người xung quanh. Ông đi như người mộng du.

Trở ra sảnh, ông Tư Dòng Sông mới bừng tỉnh. Tim ông đập thình thịch, miệng thở hổn hển. Bấy giờ ông mới nhớ là chưa nói được lời chia buồn với vợ con người quá cố. Nhưng đứng quanh quan tài có vợ con của người quá cố không? Ông tự hỏi và rất áy náy, muốn trở vào làm cho tròn phận sự người viếng tang, lại là người từng sống chết có nhau nhưng nhìn suốt dãy bàn dài thì biết rằng đó là điều không thể. Muốn trở vào, phải lần lượt từ bàn số một, lại phải qua nhiều thủ tục trịnh trọng, người ta có chịu làm lần nữa cho ông hay không? Ông cảm thấy mình quá nhỏ bé, quê mùa, vô duyên, trong khi không nguôi tự trách mình thì bàn chân đã đưa ông ra tới cổng. Hình như có người mời ông ở lại ăn cơm nhưng ông cứ thở dài, chân ông cứ bước. Đến trước quán cà phê, cô chủ quán hỏi ông sao ăn cơm nhanh quá. Ông đứng lại, khuôn mặt nghệt ra ngơ ngác nhìn cô chủ quán, nhìn xung quanh, ngoảnh lại nhìn nhà tang lễ bấy giờ lại vang lên điệu nhạc buồn não. Đột ngột ông chắp hai tay giơ cao lên trời vái một vái dài xuống tận đất, rồi bỏ đi như chạy theo lề đường đầy bụi, chói lóa ánh nắng

S.N.

Các tin khác

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Mỗi lần Vân đỡ anh dậy, anh vòng tay qua cái cổ ấm áp của cô và áp gò má anh vào má cô. Những lúc như thế, anh cảm thấy run rẩy, anh cảm thấy sức nặng của tấm vải bạt đắp lên chân nặng cả nghìn cân. Anh muốn đứng dậy, bế bổng cô chạy ra khỏi cái cửa hang chết tiệt kia, ra đứng giữa đất trời mà hét lên, mà quay cô mòng mòng như cánh quạt của mấy con “diều hâu” tuần tiễu trên bầu trời.

Một cú đá chết bảy mạng

Một cú đá chết bảy mạng

Ở Vương Gia Trang, có một người đàn ông trung niên tên là A Lương, 42 tuổi. Anh ta là người trung thực, chăm chỉ và sống giản dị. Anh trồng vài mẫu ngô và khoai lang trên sườn đồi phía sau làng và cách vài ngày lại đi nhổ cỏ cho ngô và khoai lang.

Chuyện con nhà lính

Chuyện con nhà lính

Vài ba hành khách khác định ngồi ở chiếc ghế cạnh người lính, nhưng họ nhìn thấy thông báo và bỏ đi. Khi máy bay gần kín chỗ, người lính thấy một cô gái rất xinh đẹp vội vã bước vào khoang máy bay nên anh ta nhanh chóng gỡ tờ thông báo khỏi chiếc ghế trống bên cạnh. Bằng cách ấy, anh lính nọ đã có được một cô gái đồng hành cùng mình trên suốt chặng bay.

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.