Mối hợp tác tình báo từ hơn 70 năm
Vào một đêm tháng 12/2011, điều kinh khủng đã xảy đến ở vùng núi Cudi gần biên giới giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq. Một bên gọi đó là cuộc thảm sát, còn một bên khác cho đó chỉ là tai nạn vào đêm. Vài chiếc chiến đấu cơ F-16 của Thổ Nhĩ Kỳ trút bom dữ dội xuống một đám dân làng vì cho rằng họ chính là nhóm du kích của đảng ly khai người Kurd PKK. Nhóm người được cho là từ miền Bắc Iraq trở về với những con lừa chở đầy hàng hóa. Sự thật cuối cùng cho thấy đám người này chỉ là dân buôn lậu chứ không phải chiến binh PKK như người Mỹ và chính quyền Ankara lầm tưởng. Khoảng 34 người bị giết chết trong cuộc không kích này.
Trước đó, một chiếc máy bay không người lái (drone) Predator của Mỹ phát hiện nhóm người trên và các chuyên gia phân tích tình báo NSA nhanh chóng phát đi cảnh báo đến các đối tác Thổ Nhĩ Kỳ. Chuyến bay do thám của Predator - được tờ Wall Street Journal tường thuật lần đầu tiên năm 2012 - và hậu quả bi kịch xảy đến sau đó cung cấp một cái nhìn sâu vào bên trong mối quan hệ hợp tác tình báo “cực kỳ gắn bó” giữa Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến chống lại chiến binh ly khai PKK.
Mặc dù PKK bị Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố trên thế giới song hiện nay hình ảnh của nhóm chiến binh này đã được cải thiện hoàn toàn khi họ giành được một số thành công trong cuộc đối đầu với tổ chức tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS) ở miền Bắc Iraq và Syria. Chiến binh PKK - được những đợt không kích của quân đội Mỹ yểm trợ - đang đứng trên tuyến đầu chống lại IS và từ đó khiến cho một số quốc gia trong EU tán thành chủ trương cung cấp vũ khí cho họ cũng như đề nghị gỡ bỏ danh hiệu "khủng bố" cho tổ chức này.
Các tài liệu mật do Edward Snowden cung cấp cho báo chí cho thấy Mỹ dính líu khá sâu vào cuộc chiến chống PKK của Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt nhiều năm. Ví dụ, kể từ tháng 1/2007, NSA cung cấp cho tình báo Thổ Nhĩ Kỳ dữ liệu địa lý cùng với nội dung ghi âm những cuộc điện đàm qua điện thoại di động của các thành viên cũng như lãnh đạo PKK giúp cho điệp viên Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành hàng chục vụ bắt sống hay ám sát. Chính quyền Mỹ cũng cung cấp cho người Thổ Nhĩ Kỳ thông tin về luồng giao dịch tài chính của PKK cũng như nơi sinh sống của một số lãnh đạo PKK khi lưu vong ở nước ngoài.
Do nằm ở vị trí chiến lược giữa châu Âu, Liên Xô và Trung Đông cho nên Thổ Nhĩ Kỳ trở thành đối tác cực kỳ quan trọng đối với cộng đồng tình báo phương Tây dưới thời Chiến tranh lạnh. Thổ Nhĩ Kỳ cũng là đối tác lâu đời nhất của NSA ở khu vực châu Á. Thậm chí ngay trước khi NSA được thành lập vào năm 1952, trong thập niên 40 Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã thiết lập mối quan hệ đối tác tình báo tín hiệu (SIGINT) với Thổ Nhĩ Kỳ.
Dưới thời Chiến tranh lạnh, Mỹ sử dụng các căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ để tiến hành do thám những yếu điểm của Liên Xô. Ngày nay, Mỹ chuyển mục tiêu sang Nga và Georgia cũng từ lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Từ khi cuộc nội chiến nổ ra ở Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia láng giềng Syria trở thành tâm điểm giám sát của NSA.
NSA cũng theo dõi sát sao những giao tiếp trên Internet của giới lãnh đạo PKK sống tại châu Âu, cung cấp địa chỉ email của họ cho tình báo Thổ Nhĩ Kỳ. Thậm chí, NSA cũng trao cho đối tác Thổ Nhĩ Kỳ thông tin về vị trí điện thoại di động của giới lãnh đạo PKK bên trong lãnh thổ nước này và dữ liệu được cập nhật trong mỗi 6 giờ.
Trong một chiến dịch quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 10/2005, NSA chuyển giao dữ liệu vị trí này hàng giờ cho đối tác. Tháng 5/2007, Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ (DNI) lúc đó là Michael McConnell ký một "bản ghi nhớ" cam kết hỗ trợ tình báo sâu hơn cho Ankara.
Một báo cáo được soạn thảo nhân chuyến viếng thăm của phái đoàn Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 4/2013 đến tổng hành dinh NSA ở Fort Meade cũng cho thấy sự hợp tác chống PKK giữa 2 bên được tăng cường trên phạm vi khắp các cơ quan chính quyền. Mối quan hệ đối tác sâu đậm như thế dẫn đến sự ra đời của Nhóm Liên kết tình báo chung (CIFC) - các chuyên gia Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ cùng làm việc về những dự án bao gồm tìm kiếm mục tiêu PKK để tiến hành không kích tiêu diệt. Một loạt cuộc không kích vào tháng 7/2007 xuất phát từ CIFC. Mối quan hệ đối tác sâu rộng vẫn được tiếp tục dưới chính quyền Tổng thống Barack Obama.
Tháng 1/2012, NSA bắt đầu cung cấp cho tình báo Thổ Nhĩ Kỳ 2 hệ thống nhận dạng giọng nói. Hệ thống này có thể xác định được đối tượng PKK thông qua những mẫu giọng nói được tình báo Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp cho NSA. Sự trao đổi dữ liệu tình báo giữa NSA và người Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra qua một cơ quan đặc biệt của NSA đặt trụ sở tại Ankara gọi là SUSLAT.
Ngoài dữ liệu tình báo, người Mỹ còn cung cấp cho đối tác Thổ Nhĩ Kỳ các hệ thống đánh chặn tín hiệu điện tử, huấn luyện mã hóa cũng như giải mã. Đáp lại, người Thổ Nhĩ Kỳ chuyển giao cho điệp viên Mỹ bản sao dữ liệu các cuộc gọi điện thoại được thực hiện bởi giới lãnh đạo PKK cũng như dữ liệu tình báo tín hiệu về Nga và Ukraina.
Mối quan hệ 2 mặt của NSA
Theo tài liệu mật của Snowden, tình báo Đức không là cơ quan duy nhất gián điệp đồng minh Thổ Nhĩ Kỳ mà còn có cả NSA và Cơ quan Tình báo tín hiệu Anh GCHQ. Một tài liệu NSA mô tả Thổ Nhĩ Kỳ một cách thẳng thừng là "đối tác và mục tiêu"! Các chính khách, sĩ quan quân đội và quan chức tình báo mà giới chức Mỹ hợp tác chặt chẽ trong cuộc chiến chống PKK cũng được coi là các mục tiêu giám sát hợp pháp của NSA.
Ngoài văn phòng liên lạc chính thức SUSALT và các nhân viên tình báo Mỹ có nhiệm vụ làm việc với chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ, người Mỹ còn có 2 nhánh bí mật vận hành các trạm nghe lén của họ ở Ankara. Mục tiêu Thổ Nhĩ Kỳ được xếp ngang với Venezuela - thậm chí còn hơn cả Cuba - đối với NSA.
Mức độ giám sát này được nêu rõ trong Khung Ưu tiên Tình báo Quốc gia (NIPF) - tài liệu báo cáo về các mục tiêu ưu tiên của tình báo Mỹ thường xuyên được cập nhật và trình lên tổng thống Mỹ vào mỗi 6 tháng. Báo cáo NIPF tháng 4/2013 đặt Thổ Nhĩ Kỳ vào danh sách mục tiêu ưu tiên giám sát thường xuyên của Washington trong số 19 khu vực khác nhau trên thế giới.
Thông tin về "ý định của giới lãnh đạo" của chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ được NSA xếp vào loại ưu tiên hàng thứ 2; còn thông tin về quân đội và cơ cấu hạ tầng, các mục tiêu trong chính sách đối ngoại và an ninh năng lượng của quốc gia này được xếp vào loại ưu tiên thứ 3. PKK cũng là mục tiêu thuộc loại ưu tiên của tình báo Mỹ song ở mức độ thấp hơn nhiều so với chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ.
Bắt đầu từ năm 2006, NSA mở một chiến dịch tình báo toàn diện - một nỗ lực phối hợp chặt chẽ của vài bộ phận NSA - nhằm xâm nhập bí mật mạng máy tính của giới lãnh đạo chính trị hàng đầu trong chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ. Nội bộ NSA gọi nỗ lực này là "Kế hoạch tăng cường dự án Thổ Nhĩ Kỳ" (TSPP) và phải mất đến 6 tháng để hoàn thành nó.
Các tài liệu mật NSA cũng tiết lộ họ giám sát cả các nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là những người làm việc tại Mỹ. Một tài liệu mật năm 2010 mô tả NSA thành lập chương trình có tên mã là "Powder" để do thám sứ quán Thổ Nhĩ Kỳ ở Washington D.C. Một dự án tương tự với tên mã "Blackhawk" được tạo lập để giám sát đại diện ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ ở Liên Hiệp Quốc. Các chuyên gia phân tích tình báo NSA có thể dễ dàng kiểm soát mạng điện thoại bên trong Sứ quán Thổ Nhĩ Kỳ và ghi lại trực tiếp nội dung từ các máy tính.
Ngoài ra, NSA cũng sử dụng phần mềm gián điệp để lây nhiễm hệ thống máy tính của các nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ. NSA cũng bí mật cài đặt phần mềm Trojan tại cơ quan đại diện ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ tại Liên Hiệp Quốc ở New York. Theo tài liệu NSA, thậm chí họ có thể sao chép toàn bộ các ổ cứng tại cơ quan ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ ở Liên Hiệp Quốc.
NSA chia sẻ nhiều thông tin tình báo tín hiệu của họ với các đối tác trong liên minh tình báo "Five Eyes" - bao gồm cộng đồng tình báo từ 5 quốc gia: Anh, Mỹ, Canada, Australia và New Zealand. Bên trong "Five Eyes", Cơ quan Tình báo tín hiệu Anh GCHQ cũng phát triển chương trình gián điệp riêng để do thám các mục tiêu chính trị cũng như khu vực năng lượng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Theo một tài liệu mật của tình báo Anh, vào tháng 10/2008, điệp viên GCHQ đã cải thiện chương trình xâm nhập Bộ Năng lượng Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như các doanh nghiệp quan trọng bao gồm: Tập đoàn Ống dẫn dầu (PPC), Tập đoàn Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ (TPC) và Công ty Năng lượng Calik Enerji. GCHQ cũng lập danh sách tên 13 mục tiêu giám sát đặc biệt, bao gồm Bộ trưởng Năng lượng lúc đó là Hilmi Guler.
Cũng trong năm 2008, các chuyên gia phân tích tình báo GCHQ bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ những hình ảnh vệ tinh về phần mái các tòa nhà cấp bộ và công ty Thổ Nhĩ Kỳ để hiểu rõ các loại hệ thống giao tiếp được sử dụng cùng với khả năng xâm nhập chúng từ xa.
Các tài liệu mật bị rò rỉ cũng mô tả mọi nỗ lực gián điệp Thổ Nhĩ Kỳ bất hợp pháp của GCHQ có được thành công ngoài sự mong đợi như thế nào! Bộ trưởng Tài chính Thổ Nhĩ Kỳ Mehmet Simsek cũng nằm trong danh sách mục tiêu của GCHQ, bất chấp sự việc ông là công dân mang 2 quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ - Anh.
Với sự tra vấn của báo chí, giới chức GCHQ trả lời họ không bình luận chi tiết các chiến dịch tình báo. Sau khi biết được thông tin về chiến dịch giám sát Bộ trưởng Tài chính Thổ Nhĩ Kỳ khi ông đến London trước thềm Hội nghị thượng đỉnh G-20 năm 2009, giới chức Ankara giận dữ đến mức Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ cho triệu tập tức thì đại sứ Anh và chỉ trích dữ dội chiến dịch gián điệp "đáng hổ thẹn" và "không thể chấp nhận được" của Anh!
Khi được báo chí phỏng vấn về các chương trình gián điệp của NSA và GCHQ nhằm vào mục tiêu Thổ Nhĩ Kỳ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố "những điều như thế" chỉ có thể được bàn luận ở cấp ngoại giao