Tôi đang cố gom trong những hỗn độn ký ức của một người phụ nữ năm nay đã 85 tuổi, câu chuyện về một cuộc đời quá nhiều nỗi truân chuyên gắn liền với những biến cố của lịch sử như bà. Và chợt nghĩ đằng sau ánh hào quang của một đời làm vợ hai trí thức nổi tiếng của Việt
1. Cuộc đời của bà Nhất đã đi qua cùng những biến động nổi trôi của lịch sử. Lớn lên trong một gia đình công chức, sống trong khu kháng chiến ở Sài Gòn, ký ức của bà Nhất là những ngày chiến tranh, loạn lạc. Gia đình bà di tản về quê gốc Bình Định để lại hai chị em cô bé Nhất chơ vơ giữa đất Sài Gòn trong những năm chiến tranh khói lửa.
Và ngay từ những ngày gian khó ấy, cô bé Nhất đã bộc lộ những khí chất của một người phụ nữ đặc biệt khi một mình bươn chải giữa đất Sài Gòn làm thư ký cho một công ty để kiếm tiền nuôi em ăn học. Nhưng nỗi cô đơn, vất vả vẫn không làm nguôi tắt khát vọng trong tâm hồn người con gái này.
Đến bây giờ bà Nhất cũng không hiểu, tại sao mình có cái ý chí can trường như vậy. Nhưng may mắn đã gõ cửa cuộc đời bà, khi một người anh họ, đang học ở Pháp, có lần ghé nhà bà chơi trước khi sang Pháp đã vô tình đọc trộm được những dòng nhật ký bà viết trong cuốn sổ nhỏ. Và tâm hồn trong trẻo, giàu mơ ước của cô bé đã ám ảnh ông, nên khi biết bà đang chơ vơ giữa Sài Gòn, ông đã tìm cách lo mọi thủ tục và mua vé máy bay để bà Nhất được sang Pháp du học.
Cuộc chuyển dịch như một cơ duyên đã làm thay đổi cuộc đời bà, bởi ở đó, bà Nhất đã có những cuộc gặp gỡ định mệnh với hai người đàn ông, sau này trở thành chồng của bà, triết gia Trần Đức Thảo và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện.
Họ đều là những người thầy của bà Nhất, và có những ảnh hưởng nhất định trên con đường lập nghiệp sau này của bà. Những ngày đầu sang Pháp, bà Nhất đến học thêm tại nhà riêng của Trần Đức Thảo, khi đó, ông khoảng chừng 30 tuổi, còn bà Nhất mới chỉ 19. Tâm hồn trong veo và vẻ đẹp thánh thiện của người con gái Việt
Và đó cũng là mối tình duy nhất trong cuộc đời của một triết gia lữ hành cô độc. Một lần duy nhất khi trái tim ông biết hướng ra cuộc đời và đập những nhịp đập bình thường của một đời người. Bà Nhất kể, thường ngày, bà vẫn đến học trong căn nhà nhỏ bé của ông, có lần thấy ông Thảo cứ đi đi lại lại, rồi bỗng dưng quỳ xuống, cầm chặt lấy tay bà và im lặng. Bà Nhất vừa ngạc nhiên, vừa run…
Nhưng chiến tranh, rồi chia xa, loạn lạc, tâm hồn bà còn quá trong sáng chưa nghĩ đến tình yêu. Và ngay cả đến bây giờ, khi đã ở tuổi 85, bà vẫn chiêm nghiệm một điều rằng, hình như trái tim bà chưa một lần rung lên vì tình yêu mà chỉ bị cuốn theo tình cảm của người khác.
Học xong tú tài toàn phần, bà Nhất đứng trước sự lựa chọn, sẽ theo triết học hay một ngành y. Và bà quyết định học chuyên ngành tâm lý trẻ em tại đại học Sorbonn theo lời khuyên của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, dù khi đó ngành học này còn quá mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng bằng cái nhìn của một người đi trước, ông biết, sau này sẽ hữu dụng.
Bà Nhất nói, bà không hiểu tại sao cả hai người đàn ông này đều cảm mến mình, có thể ngày đó cả thành phố Paris chỉ có 20 cô gái Việt Nam, mà bà lại xinh đẹp, nền nã… Những tình cảm đẹp được cất giữ trong tâm hồn của ba người, bởi lúc đó, họ đang sống cho những hoài bão lớn hơn...
Năm 1951, Trần Đức Thảo về nước theo tiếng gọi của cách mạng, sau đó ông trở thành giảng viên Trường Đại học Tổng hợp. Bốn năm sau, năm 1955, bà Nhất cũng trở về công tác ở Bộ Giáo dục, cùng với 10 trí thức khác và được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp đón ân cần tại Phủ Chủ tịch.
Trong mớ ký ức lẫn lộn, bà Nhất còn nhớ rất rõ, cuộc hôn nhân đầu tiên của bà đến một cách thật giản đơn. Trần Đức Thảo biết bà về nước đã đến tìm và ngỏ lời cầu hôn. Một đám cưới giản dị, chỉ có mấy gói kẹo, do giáo sư Hoàng Xuân Nhị cùng mấy người bạn đứng ra tổ chức. Bà bảo, mọi chuyện đến cũng thật tình cờ như duyên trời định.
2. Hai năm sống ngắn ngủi, qua đi như một cái chớp mắt trong đời người nhưng là quãng đời nhiều biến động nhất trong cuộc đời của người con gái Bình Định ấy. Hai vợ chồng bà chuyển về sống trong một căn hộ nhỏ ở khu tập thể Kim Liên. Bố mẹ chồng cũng bán nhà trên phố về sống bên cạnh.
Ông bà yêu con, chăm sóc cho ông Thảo từ những việc nhỏ nhặt nhất, từng bữa cơm, giấc ngủ… khiến tâm hồn người con gái vốn thiếu vắng tình cảm như bà bị tổn thương. Thậm chí đôi khi bà Nhất có cảm giác mình bị gạt ra ngoài cuộc sống của ông, trở thành một người thừa. Còn triết gia Trần Đức Thảo mải mê với những công trình của mình.
Cuộc sống của vị triết gia lữ hành này là triết học. Ông quên ăn, quên ngủ và quên luôn cả vợ mình vì triết học. Bà Nhất vùi mình vào công việc và rong ruổi theo lý tưởng và hoài bão khoa học của mình. Bà là một trong những người biên soạn cuốn sách học vần lớp Một đầu tiên của đợt cải cách giáo dục đầu tiên vào năm 1960 của nền giáo dục tiểu học nước nhà.
Rồi bà đi thực tế các tỉnh, mở các trường mầm non điểm với phương pháp giảng dạy phù hợp với tâm lý từng lứa tuổi. Nhiều công trình đề án ra đời từ những chuyến đi thực tế của bà. Nhưng vẫn không thể khoả lấp sự trống vắng trong cuộc sống riêng. Hai năm làm vợ Trần Đức Thảo, nhưng thời gian ở bên cạnh nhau chỉ đếm bằng ngày tháng.
Bà Nhất càng này càng cảm thấy cô đơn trong chính mái ấm của mình. Và tôi cũng hiểu, trái tim đàn bà của bà Nhất đã không tìm được một điểm tựa. Một thời gian triết gia Trần Đức Thảo bị "hiểu nhầm" là có "dính líu" đến "Nhân văn giai phẩm", thì không có ai còn muốn gặp và trò chuyện cùng bà. Suy nghĩ nhiều, khiến bà đổ bệnh. Căn bệnh lao phổi di căn sang tử cung đã cướp đi thiên chức làm mẹ thiêng liêng của bà…
Nỗi bất hạnh đó đã xé vụn cuộc đời bà, nhưng không làm người con gái mang cái ý chí thép của đất võ Bình Định ngã gục. Bà đã tự chữa lành vết thương cho mình, bằng cách nhận nuôi một cô bé khi chào đời đã mất mẹ ở trong bệnh viện. Nhưng tiếng khóc của trẻ thơ đã không làm ấm lên căn phòng vốn lạnh lẽo của vợ chồng bà mà dường như càng làm cho họ cách xa nhau.
Triết gia Trần Đức Thảo không quen với việc có thêm một người khác ở trong nhà, và cũng không quen sẻ chia tình yêu thương cho một người khác, tiếng khóc của cô bé, đôi khi làm ông khó chịu vì dòng suy tưởng bị ngắt quãng.
Trong nỗi buồn riêng của một người phụ nữ và cả lòng tự trọng của một người có học, bà Nhất đã ôm đứa bé ra đi khi cuộc hôn nhân vỏn vẹn được hai năm.
Căn phòng nhỏ 9m vuông lụp xụp ở bờ sông được làm cho dân di tản trở thành nơi tá túc của mẹ con bà trong những ngày cô đơn. Lương của bà Nhất ngày đó ở Bộ Giáo dục chỉ có 60 đồng, bà đã phải thuê người giúp việc trông con vì thường xuyên phải đi công tác xa mất 30 đồng, số tiền còn lại chỉ đủ trang trải các chi phí giản tiện nhất cho hai mẹ con.
Trần Đức Thảo đã đến tìm bà về mấy lần nhưng bà nhất quyết từ chối. Con gái miền
Sống gần ông, mặc dù bà rất hiểu và thương ông, nhưng bà không chạm được vào khối cô đơn ấy, ông và bà mãi mãi là hai hành tinh tồn tại song hành trong cõi vũ trụ vô tận, hai khối cô đơn không bao giờ quyện được vào nhau. "Ông Thảo là một người đàn ông tốt, nhưng cô đơn, bởi thế giới của ông quá trừu tượng, không ai chạm tới được”.
Bà Nhất nói, bà rất ít khi ngồi nghĩ lại về quãng đời sống đã qua, bởi bà không muốn đắm chìm trong nỗi buồn, trong sự nổi trôi của số phận. Bà đã sống những ngày khốn khó cùng cô con gái nuôi. Có lẽ chỉ có niềm vui của trẻ thơ, và những đam mê công việc đã ủ ấm trái tim bà trong những ngày giá lạnh ấy.
3. Nhưng cuộc đời của bà Nhất luôn có những cuộc hội ngộ kỳ lạ. Trong những ngày bà một mình chống chọi với cuộc sống khó khăn ấy, thì bác sĩ Nguyễn Khắc Viện về nước. Vốn mến mộ bà từ khi còn học bên Pháp, nhưng lại là bạn thân của Trần Đức Thảo, nên ông chỉ đứng từ xa dõi theo cuộc sống của bà. Và những biến cố đã đưa ông trở lại. Năm 1963, ông về nước, chứng kiến nỗi vất vả của bà và ngỏ lời muốn được chia sẻ cùng bà.
Năm 1967, ở tuổi 40, bà Nhất kết hôn với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Trong hồi ký của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết về người phụ nữ mà ông coi là một mối tình đầu thứ hai của mình (mối tình đầu của ông là với một cô bạn Pháp): "Cái duyên của con người sao kỳ lạ, hai con người xa lạ nhau mà: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Vô duyên đối diện bất tương phùng. Chúng tôi gắn bó với nhau từ năm 1953, nhưng mãi 14 năm sau mới thành lập gia đình... Đám cưới chúng tôi tổ chức vào ngày Noel năm 1967".
Bà Nhất sống bình yên bên bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Họ đến với nhau bằng tình đồng chí, tình thầy trò và sự trân trọng, yêu thương. "Ông Viện là một người rộng lớn, bao dung, tôi đã được núp bóng dưới cuộc đời ông theo đúng nghĩa của một người đàn bà… bởi ông gần với đời thường hơn".
Và bà đến bây giờ ở tuổi 85, hàng tuần vẫn đi đến Trung tâm Tư vấn trẻ em Nguyễn Khắc Viện, cùng với các học trò của mình để làm tiếp những công việc còn dang dở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.
Giờ bà Nhất sống trong căn nhà nhỏ, chỉ mấy mét vuông, với những đồ dùng rất đơn giản, một chiếc phản nhỏ được kê làm giường, bốn chung quanh tường là giá sách. Và một thứ duy nhất không thể thiếu trong căn nhà nhỏ bừa bộn của bà là hoa tươi. Hai góc nhà bà để hai bàn thờ. Một bàn thờ gia đình bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Còn góc bên này, là bàn thờ bố mẹ bà, và triết gia Trần Đức Thảo. (Khi tro của triết gia Trần Đức Thảo được đưa về nước, chỉ còn bà là người thân duy nhất của ông).
Ngày giỗ, ngày tết, bà vẫn đi xuống Văn Điển và Mai Dịch thăm mộ của hai ông. Bà đã làm tròn bổn phận của người ở lại với vong linh của hai người đàn ông đi qua đời mình một cách nhẹ nhõm và bình thản. Nhưng tôi biết, trong tâm hồn người phụ nữ ấy vẫn còn mang những nỗi trăn trở rất riêng của số phận...