Bà Nguyễn Thị Nhất, người phụ nữ phía sau hai trí thức nổi tiếng, triết gia Trần Đức Thảo và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện:

Nợ tình nghĩa, hai vai hai gánh

Bà Nhất ngồi trên chiếc ghế tựa cũ kỹ, lần giở lại những dòng ký ức rất đỗi xa xôi, và dường như không còn rành mạch về cuộc đời mình. Lúc đầu bà bảo chỉ dành cho tôi 30 phút, nhưng câu chuyện của chúng tôi đã kéo dài suốt cả buổi chiều hôm ấy.

Tôi đang cố gom trong những hỗn độn ký ức của một người phụ nữ năm nay đã 85 tuổi, câu chuyện về một cuộc đời quá nhiều nỗi truân chuyên gắn liền với những biến cố của lịch sử như bà. Và chợt nghĩ đằng sau ánh hào quang của một đời làm vợ hai trí thức nổi tiếng của Việt Nam , bà Nhất vẫn mang một gương mặt buồn lặng lẽ của số phận.

1. Cuộc đời của bà Nhất đã đi qua cùng những biến động nổi trôi của lịch sử. Lớn lên trong một gia đình công chức, sống trong khu kháng chiến ở Sài Gòn, ký ức của bà Nhất là những ngày chiến tranh, loạn lạc. Gia đình bà di tản về quê gốc Bình Định để lại hai chị em cô bé Nhất chơ vơ giữa đất Sài Gòn trong những năm chiến tranh khói lửa.

Và ngay từ những ngày gian khó ấy, cô bé Nhất đã bộc lộ những khí chất của một người phụ nữ đặc biệt khi một mình bươn chải giữa đất Sài Gòn làm thư ký cho một công ty để kiếm tiền nuôi em ăn học. Nhưng nỗi cô đơn, vất vả vẫn không làm nguôi tắt khát vọng trong tâm hồn người con gái này.

Đến bây giờ bà Nhất cũng không hiểu, tại sao mình có cái ý chí can trường như vậy. Nhưng may mắn đã gõ cửa cuộc đời bà, khi một người anh họ, đang học ở Pháp, có lần ghé nhà bà chơi trước khi sang Pháp đã vô tình đọc trộm được những dòng nhật ký bà viết trong cuốn sổ nhỏ. Và tâm hồn trong trẻo, giàu mơ ước của cô bé đã ám ảnh ông, nên khi biết bà đang chơ vơ giữa Sài Gòn, ông đã tìm cách lo mọi thủ tục và mua vé máy bay để bà Nhất được sang Pháp du học.

Nợ tình nghĩa, hai vai hai gánh ảnh 1
Bà Nguyễn Thị Nhất.

Cuộc chuyển dịch như một cơ duyên đã làm thay đổi cuộc đời bà, bởi ở đó, bà Nhất đã có những cuộc gặp gỡ định mệnh với hai người đàn ông, sau này trở thành chồng của bà, triết gia Trần Đức Thảo và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện.

Họ đều là những người thầy của bà Nhất, và có những ảnh hưởng nhất định trên con đường lập nghiệp sau này của bà. Những ngày đầu sang Pháp, bà Nhất đến học thêm tại nhà riêng của Trần Đức Thảo, khi đó, ông khoảng chừng 30 tuổi, còn bà Nhất mới chỉ 19. Tâm hồn trong veo và vẻ đẹp thánh thiện của người con gái Việt Nam đã làm xao xuyến trái tim người đàn ông tài năng này.

Và đó cũng là mối tình duy nhất trong cuộc đời của một triết gia lữ hành cô độc. Một lần duy nhất khi trái tim ông biết hướng ra cuộc đời và đập những nhịp đập bình thường của một đời người. Bà Nhất kể, thường ngày, bà vẫn đến học trong căn nhà nhỏ bé của ông, có lần thấy ông Thảo cứ đi đi lại lại, rồi bỗng dưng quỳ xuống, cầm chặt lấy tay bà và im lặng. Bà Nhất vừa ngạc nhiên, vừa run…

Nhưng chiến tranh, rồi chia xa, loạn lạc, tâm hồn bà còn quá trong sáng chưa nghĩ đến tình yêu. Và ngay cả đến bây giờ, khi đã ở tuổi 85, bà vẫn chiêm nghiệm một điều rằng, hình như trái tim bà chưa một lần rung lên vì tình yêu mà chỉ bị cuốn theo tình cảm của người khác.

Học xong tú tài toàn phần, bà Nhất đứng trước sự lựa chọn, sẽ theo triết học hay một ngành y. Và bà quyết định học chuyên ngành tâm lý trẻ em tại đại học Sorbonn theo lời khuyên của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, dù khi đó ngành học này còn quá mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng bằng cái nhìn của một người đi trước, ông biết, sau này sẽ hữu dụng.

Bà Nhất nói, bà không hiểu tại  sao cả hai người đàn ông này đều cảm mến mình, có thể ngày đó cả thành phố Paris chỉ có 20 cô gái Việt Nam, mà bà lại xinh đẹp, nền nã… Những tình cảm đẹp được cất giữ trong tâm hồn của ba người, bởi lúc đó, họ đang sống cho những hoài bão lớn hơn...

Năm 1951, Trần Đức Thảo về nước theo tiếng gọi của cách mạng, sau đó ông trở thành giảng viên Trường Đại học Tổng hợp. Bốn năm sau, năm 1955, bà Nhất cũng trở về công tác ở Bộ Giáo dục, cùng với 10 trí thức khác và được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp đón ân cần tại Phủ Chủ tịch.

Trong mớ ký ức lẫn lộn, bà Nhất còn nhớ rất rõ, cuộc hôn nhân đầu tiên của bà đến một cách thật giản đơn. Trần Đức Thảo biết bà về nước đã đến tìm và ngỏ lời cầu hôn. Một đám cưới giản dị, chỉ có mấy gói kẹo, do giáo sư Hoàng Xuân Nhị cùng mấy người bạn đứng ra tổ chức. Bà bảo, mọi chuyện đến cũng thật tình cờ như duyên trời định.

2. Hai năm sống ngắn ngủi, qua đi như một cái chớp mắt trong đời người nhưng là quãng đời nhiều biến động nhất trong cuộc đời của người con gái Bình Định ấy. Hai vợ chồng bà chuyển về sống trong một căn hộ nhỏ ở khu tập thể Kim Liên. Bố mẹ chồng cũng bán nhà trên phố về sống bên cạnh.

Ông bà yêu con, chăm sóc cho ông Thảo từ những việc nhỏ nhặt nhất, từng bữa cơm, giấc ngủ… khiến tâm hồn người con gái vốn thiếu vắng tình cảm như bà bị tổn thương. Thậm chí đôi khi bà Nhất có cảm giác mình bị gạt ra ngoài cuộc sống của ông, trở thành một người thừa. Còn triết gia Trần Đức Thảo mải mê với những công trình của mình.

Cuộc sống của vị triết gia lữ hành này là triết học. Ông quên ăn, quên ngủ và quên luôn cả vợ mình vì triết học. Bà Nhất vùi mình vào công việc và rong ruổi theo lý tưởng và hoài bão khoa học của mình. Bà là một trong những người biên soạn cuốn sách học vần lớp Một đầu tiên của đợt cải cách giáo dục đầu tiên vào năm 1960 của nền giáo dục tiểu học nước nhà.

Rồi bà đi thực tế các tỉnh, mở các trường mầm non điểm với phương pháp giảng dạy phù hợp với tâm lý từng lứa tuổi. Nhiều công trình đề án ra đời từ những chuyến đi thực tế của bà. Nhưng vẫn không thể khoả lấp sự trống vắng trong cuộc sống riêng. Hai năm làm vợ Trần Đức Thảo, nhưng thời gian ở bên cạnh nhau chỉ đếm bằng ngày tháng.

Bà Nhất càng này càng cảm thấy cô đơn trong chính mái ấm của mình. Và tôi cũng hiểu, trái tim đàn bà của bà Nhất đã không tìm được một điểm tựa. Một thời gian triết gia Trần Đức Thảo bị "hiểu nhầm" là có "dính líu" đến "Nhân văn giai phẩm", thì không có ai còn muốn gặp và trò chuyện cùng bà. Suy nghĩ nhiều, khiến bà đổ bệnh. Căn bệnh lao phổi di căn sang tử cung đã cướp đi thiên chức làm mẹ thiêng liêng của bà…

Nỗi bất hạnh đó đã xé vụn cuộc đời bà, nhưng không làm người con gái mang cái ý chí thép của đất võ Bình Định ngã gục. Bà đã tự chữa lành vết thương cho mình, bằng cách nhận nuôi một cô bé khi chào đời đã mất mẹ ở trong bệnh viện. Nhưng tiếng khóc của trẻ thơ đã không làm ấm lên căn phòng vốn lạnh lẽo của vợ chồng bà mà dường như càng làm cho họ cách xa nhau.

Triết gia Trần Đức Thảo không quen với việc có thêm một người khác ở trong nhà, và cũng không quen sẻ chia tình yêu thương cho một người khác, tiếng khóc của cô bé, đôi khi làm ông khó chịu vì dòng suy tưởng bị ngắt quãng.

Trong nỗi buồn riêng của một người phụ nữ và cả lòng tự trọng của một người có học, bà Nhất đã ôm đứa bé ra đi khi cuộc hôn nhân vỏn vẹn được hai năm.

Căn phòng nhỏ 9m vuông lụp xụp ở bờ sông được làm cho dân di tản trở thành nơi tá túc của mẹ con bà trong những ngày cô đơn. Lương của bà Nhất ngày đó ở Bộ Giáo dục chỉ có 60 đồng, bà đã phải thuê người giúp việc trông con vì thường xuyên phải đi công tác xa mất 30 đồng, số tiền còn lại chỉ đủ trang trải các chi phí giản tiện nhất cho hai mẹ con.

Trần Đức Thảo đã đến tìm bà về mấy lần nhưng bà nhất quyết từ chối. Con gái miền Nam vốn khảng khái, và đầy tự trọng đã không cho phép bà ngoảnh lại. Bà Nhất đã chấp nhận một cuộc chia tay nhẹ nhàng… nhưng là điều không tránh khỏi, dù chưa một lần bà oán trách ông. Bởi bà đủ hiểu, Trần Đức Thảo không phải là một con người bình thường. Tâm hồn ông, cuộc sống của ông dành trọn cho những suy tưởng.

Sống gần ông, mặc dù bà rất hiểu và thương ông, nhưng bà không chạm được vào khối cô đơn ấy, ông và bà mãi mãi là hai hành tinh tồn tại song hành trong cõi vũ trụ vô tận, hai khối cô đơn không bao giờ quyện được vào nhau. "Ông Thảo là một người đàn ông tốt, nhưng cô đơn, bởi thế giới của ông quá trừu tượng, không ai chạm tới được”.

Bà Nhất nói, bà rất ít khi ngồi nghĩ lại về quãng đời sống đã qua, bởi bà không muốn đắm chìm trong nỗi buồn, trong sự nổi trôi của số phận. Bà đã sống những ngày khốn khó cùng cô con gái nuôi. Có lẽ chỉ có niềm vui của trẻ thơ, và những đam mê công việc đã ủ ấm trái tim bà trong những ngày giá lạnh ấy.

3. Nhưng cuộc đời của bà Nhất luôn có những cuộc hội ngộ kỳ lạ. Trong những ngày bà một mình chống chọi với cuộc sống khó khăn ấy, thì bác sĩ Nguyễn Khắc Viện về nước. Vốn mến mộ bà từ khi còn học bên Pháp, nhưng lại là bạn thân của Trần Đức Thảo, nên ông chỉ đứng từ xa dõi theo cuộc sống của bà. Và những biến cố đã đưa ông trở lại. Năm 1963, ông về nước, chứng kiến nỗi vất vả của bà và ngỏ lời muốn được chia sẻ cùng bà.

Năm 1967, ở tuổi 40, bà Nhất kết hôn với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Trong hồi ký của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết về người phụ nữ mà ông coi là một mối tình đầu thứ hai của mình (mối tình đầu của ông là với một cô bạn Pháp): "Cái duyên của con người sao kỳ lạ, hai con người xa lạ nhau mà: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Vô duyên đối diện bất tương phùng. Chúng tôi gắn bó với nhau từ năm 1953, nhưng mãi 14 năm sau mới thành lập gia đình... Đám cưới chúng tôi tổ chức vào ngày Noel năm 1967".

Bà  Nhất  sống  bình  yên bên bác  sĩ  Nguyễn  Khắc Viện. Họ đến với nhau bằng tình đồng chí, tình thầy trò và sự trân trọng, yêu thương. "Ông Viện là một người rộng lớn, bao dung, tôi đã được núp bóng dưới cuộc đời ông theo đúng nghĩa của một người đàn bà… bởi ông gần với đời thường hơn".

Và bà đến bây giờ ở tuổi 85, hàng tuần vẫn đi đến Trung tâm Tư vấn trẻ em Nguyễn Khắc Viện, cùng với các học trò của mình để làm tiếp những công việc còn dang dở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Giờ bà Nhất sống trong căn nhà nhỏ, chỉ mấy mét vuông, với những đồ dùng rất đơn giản, một chiếc phản nhỏ được kê làm giường, bốn chung quanh tường là giá sách. Và một thứ duy nhất không thể thiếu trong căn nhà nhỏ bừa bộn của bà là hoa tươi. Hai góc nhà bà để hai bàn thờ. Một bàn thờ gia đình bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Còn góc bên này, là bàn thờ bố mẹ bà, và triết gia Trần Đức Thảo. (Khi tro của triết gia Trần Đức Thảo được đưa về nước, chỉ còn bà là người thân duy nhất của ông).

Ngày giỗ, ngày tết, bà vẫn đi xuống Văn Điển và Mai Dịch thăm mộ của hai ông. Bà đã làm tròn bổn phận của người ở lại với vong linh của hai người đàn ông đi qua đời mình một cách nhẹ nhõm và bình thản. Nhưng tôi biết, trong tâm hồn người phụ nữ ấy vẫn còn mang những nỗi trăn trở rất riêng của số phận...

Khánh Linh

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.