Nhìn lại bức tranh kinh tế thế giới

Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế số 1 thế giới. Chính sách vực dậy kinh tế Nhật Bản của Thủ tướng Abe chùn bước. Đồng rúp mất giá nặng nề khiến nền kinh tế Nga trước nguy cơ khủng hoảng. Đó là những nét chính trong bức tranh kinh tế thế giới năm vừa qua.

Căn cứ vào sức mua (PPP) và theo tính toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong năm 2014, Trung Quốc tạo ra nhiều của cải hơn Mỹ để trở thành siêu cường kinh tế số 1 của thế giới.

Không một ai nghi ngờ là Trung Quốc đang trên đà qua mặt nước Mỹ để trở thành nền kinh tế số 1 toàn cầu. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Các dự báo trước đây nêu lên những cột mốc cho sự thay ngôi đổi vị đó là vào năm 2017, 2019 hay 2025, 2030. Nhưng bất ngờ, theo phương pháp tính toán của IMF dựa trên sức mua PPP, năm 2014 là “năm lịch sử”: Trung Quốc giàu hơn Mỹ, với tổng sản phẩm nội địa GDP toàn năm lên tới 17,6 ngàn tỷ USD. Trong lúc GDP của Mỹ trong năm 2014 chỉ đạt 17,4 ngàn tỉ USD. Tính về trọng lượng, Trung Quốc chiếm 16,5% GDP toàn cầu, Mỹ chỉ là 16,3%.

Việc Trung Quốc tạo ra nhiều của cải nhất, dù là tính theo sức mua tương đương, nhưng điều đó cũng đủ để phản ánh sức mạnh của kinh tế Trung Quốc, và kèm theo đó là sức mạnh chính trị của nước đông dân nhất hành tinh. Thực tế cho thấy châu Âu và Mỹ không còn đủ trọng lượng để làm mưa làm gió trên bàn cờ kinh tế và thương mại thế giới.

Bản thân Trung Quốc chưa mở tiệc ăn mừng đón nhận tin vui nói trên vì biết được rằng nhiều thách thức đang chờ đợi. Chuyên gia kinh tế Pháp Jean Joseph Boillot cho rằng, hãy còn quá sớm để khẳng định Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế số 1 của thế giới, bởi sức mạnh kinh tế bao gồm vừa trọng lượng kinh tế được đo lường bằng nhiều yếu tố, mà trong đó GDP chỉ là một.

Trung Quốc vượt Mỹ trở thành nền kinh tế số 1 thế giới.
Trung Quốc vượt Mỹ trở thành nền kinh tế số 1 thế giới.

Bên cạnh chỉ số này còn phải xét đến sức mạnh của một quốc gia về phương diện tài chính, tiền tệ, khả năng kỹ thuật, về sức mạnh của các doanh nghiệp. Mà sức mạnh của các doanh nghiệp luôn được đo lường qua năng suất lao động, qua khả năng sáng tạo.

Theo Boillot, Trung Quốc chưa hội tụ được tất cả những điều kiện vừa nêu. Trung Quốc hiện có một đội ngũ nhân công khoảng 800 triệu người mà không sản xuất ra nhiều của cải hơn so với 160 triệu người lao động ở Mỹ. Năng suất lao động của Trung Quốc chỉ bằng từ 20 đến 25% so với Mỹ.

Tuy nhiên cách tính theo PPP có những giới hạn. Trong báo cáo gần đây nhất được công bố từ tháng 10-2014, IMF quy định rõ phương pháp tính toán của mình. Theo đó, khi đo lường GDP bằng sức mua tương đương, có nghĩa là IMF xem xét xem, cùng với một số tiền, một người Mỹ mua được những gì và một người tiêu dùng ở Trung Quốc mua được nhiều hơn hay ít hơn so với một công dân ở Mỹ.

Đơn giản là vì giá cả ở Trung Quốc và Mỹ không như nhau. Điều đó có nghĩa là thu nhập của một công nhân Trung Quốc tuy thấp hơn so với của một người lao động ở Mỹ nhưng chưa chắc là mãi lực của người dân ở Trung Quốc thấp hơn so với một công dân ở Mỹ.

Thứ nhì, nếu không tính theo sức mua PPP mà chỉ căn cứ vào tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa – gồm giá thị trường của tất cả các khoản hàng hóa, dịch vụ cùng được sản xuất ra trong phạm vi của một quốc gia trong một năm, và dựa vào tỷ giá hối đoái của thời điểm năm 2014 thì GDP của Mỹ còn cao hơn so với của Trung Quốc đến 70%.

Thứ ba là thu nhập bình quân đầu người, dù với GDP gần xấp xỉ như nhau nhưng dân số của Trung Quốc lại đông gấp 4 lần so với Mỹ. Do vậy thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc chỉ bằng 1/4 so với ở Mỹ. Nhìn từ góc độ thu nhập bình quân đầu người, Trung Quốc tuột xuống hạng thứ 89 trên thế giới, trong lúc Mỹ đứng hàng thứ 10 trong bảng xếp hạng mà Qatar là nước dẫn đầu.

Riêng đối với Nhật Bản thì 2014 là năm để trắc nghiệm tính vững chắc của chính sách vực dậy kinh tế mang tên Thủ tướng Shinzo Abe. Thống kê trong quý III/2014 cho thấy nền kinh tế thứ 3 này của thế giới bất ngờ lại lâm vào suy thoái sau khi hai mũi tên đầu tiên trong thuyết Abenomics đã “bắn trúng đích”.

Thủ tướng Shinzo Abe thắng cử bất chấp những khó khăn do chính sách Abenomics tạo ra.
Thủ tướng Shinzo Abe thắng cử bất chấp những khó khăn do chính sách Abenomics tạo ra.

Tăng trưởng kinh tế đi xuống trong hai quý liên tiếp. Nhiều nhà bình luận coi đây là một thất bại của thuyết Abenomics, thế nhưng theo phân tích của nhà nghiên cứu Evelyne Dourille Feer thì đánh giá như vậy là bất công. Bằng chứng rõ rệt nhất là ông Abe dễ dàng đắc cử trong đợt bầu cử Quốc hội trung tuần tháng 12/2014.

Trong hai năm qua, tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản đã giảm từ 8 xuống còn 5%. Không những thế, 820.000 phụ nữ đã gia nhập thị trường lao động kể từ khi ông Abe lên cầm quyền. Đối với bà Dourille Feer, chính sách Abenomics khá thành công, khó khăn năm nay xuất phát từ “hiệu ứng VAT” khi chính phủ tăng thuế trị giá gia tăng từ 5 lên thành 8%.

Trong chính sách kinh tế của ông Abe có 3 mũi tên: mũi tên thứ nhất là dùng ngân sách nhà nước để tiếp sức cho guồng máy kinh tế. Mũi tên thứ nhì là huy động Ngân hàng Trung ương tiếp tay để chấm dứt tình trạng giảm phát tai hại. Mũi tên thứ ba là cải tổ sâu rộng cơ cấu của cả một nền kinh tế Nhật Bản.

Chính mũi tên thứ ba này mới là khâu quan trọng nhất, vì nó sẽ tạo ra nền tảng để kinh tế Nhật được phát triển một cách ổn định và tăng trưởng lâu bền. Nhưng đây cũng là khâu khó thực hiện nhất. Nói đúng hơn, mũi tên này đòi hỏi thời gian từ 3 đến 5 năm mới đem lại kết quả mong muốn. Nhìn trong ngắn hạn phải công nhận là chính sách kinh tế của ông Abe đã thành công vượt bậc trong năm tài khóa 2013, tức là cho đến hết tháng 3/2014.

Trong thời gian từ cuối tháng 3/2013 đến cuối tháng 3/2014, GDP của Nhật tăng 2%. Tỷ lệ đó đủ để khiến nhiều nước công nghiệp phát triển phải ganh tị. Trong cùng thời kỳ, Nhật Bản đã thoát khỏi giảm phát. Nhưng đúng là trong tài khóa 2014 – tức là kể từ đầu tháng 4/2014 kinh tế Nhật bắn đi nhiều tín hiệu trái ngược nhau. Tác động do việc Nhật Bản tăng thuế VAT ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng của quốc gia này.

Các nhà sản xuất trong thế chờ đợi, và họ dời lại các dự án đầu tư. GDP giảm liên tục trong hai quý và nhiều người nói tới một sự suy thoái. Nhưng cũng phải nói là bối cảnh kinh tế thế giới không thuận lợi, xuất khẩu bị chựng lại. Sau cùng, nếu chúng ta nhìn vào tỷ lệ tăng trưởng thực sự, tức là không tính đến yếu tố lạm phát trong đó, thì kinh tế Nhật Bản không giảm sụt như báo chí thường nói.

Vào những tuần lễ cuối của năm 2014, kinh tế Nga càng thêm khó khăn. Đồng rúp có lúc mất giá chỉ còn có 50% so với hồi đầu năm. Lạm phát lên tới gần 12%. Hàng nhập thậm chí tăng giá 30%. Trong lúc giá dầu hỏa đang từ 100 USD rơi xuống còn khoảng 60 USD một thùng. Dầu hỏa chiếm đến 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga. Thêm vào đó là tác động từ các biện pháp trừng phạt kinh tế do Âu Mỹ áp đặt.

Theo chuyên gia kinh tế Julien Vercueil, đây là một cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ. Đồng rúp mất giá ảnh hưởng trước tiên tới các ngân hàng, tới các hoạt động và thị trường tài chính của nước Nga. Tức là toàn bộ hệ thống tài chính của Nga bị tác động. Đồng thời, đồng rúp mất giá ảnh hưởng trực tiếp tới mãi lực của các hộ gia đình, của tư nhân, tới chính sách đầu tư của khu vực sản xuất… tức là ảnh hưởng tới cỗ máy kinh tế, tới tỷ lệ tăng trưởng của Nga.

Bên cạnh đó thì từ nhiều năm nay, bản thân nền kinh tế của Nga đã có nhiều bất cập về mặt cơ cấu. Một trong những vấn đề chính của Nga là thiếu đầu tư vào khu vực sản xuất. Từ năm 1999 đến 2008, kinh tế Nga đã ổn định và tăng trưởng một cách khá ngoạn mục.

Thế nhưng, Nga đã không nắm bắt lấy cơ hội đó để hiện đại hóa guồng máy sản xuất, không đầu tư để nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh. Do vậy khi vấp phải những khó khăn nhất thời như hiện tại thì rất dễ bị động.

Các dự đoán kinh tế cho thấy Nga sẽ suy thoái trong năm 2015 và khi kinh tế Nga rơi xuống thấp như trong những tháng cuối năm nay, thì không khó để bật dậy. Và nếu như kinh tế Nga khởi sắc trở lại trong hai năm nữa, như điều Tổng thống Putin đã hứa hẹn, thì phép lạ đó có được là nhờ vào những yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như giá dầu tăng vọt, dòng tiền đổ vào nước Nga…

Tựu trung lại, kinh tế thế giới trong năm 2014 đã bắn đi một vài tín hiệu khả quan nhưng vẫn còn đầy rẫy những lo âu.

Mộc Thạch (tổng hợp)

Các tin khác

Tác động của việc UAE rút khỏi OPEC

Tác động của việc UAE rút khỏi OPEC

Từ ngày 1/5, Các tiểu vương quốc Arab Thống Nhất (UAE) thống báo rút khỏi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và cơ chế OPEC+. Việc lựa chọn rút khỏi tổ chức sau gần 60 năm là thành viên ở thời điểm này được coi là cú sốc với “cartel dầu mỏ” do Saudi Arabia dẫn đầu bấy lâu nay, và cả với hệ thống cung ứng năng lượng thế giới.

Trung Đông: Các bên nỗ lực tháo gỡ bế tắc

Trung Đông: Các bên nỗ lực tháo gỡ bế tắc

Những ngày qua, Tổng thống Mỹ liên tục đưa ra nhiều thay đổi bất ngờ trong nỗ lực tháo gỡ bế tắc ở Iran. Sau khi cho rằng Iran vẫn chưa “trả giá đủ lớn”, ngày 5/5, ông đưa ra cái gọi là Dự án Tự do, để giúp các tàu và thủy thủ đoàn bị mắc kẹt thoát khỏi Vịnh Persic, nhưng cũng nhằm làm suy yếu sự kiểm soát của Iran đối với eo biển Hormuz.

Một cuộc so găng ở độ cao 550km

Một cuộc so găng ở độ cao 550km

Bình minh ngày 24/2/2022 không chỉ được đánh dấu bằng tiếng xích xe tăng Nga gầm rú vượt qua biên giới Ukraine, mà còn bởi một “cú đánh bồi” lạnh lùng và vô hình trên không gian mạng. Đúng một giờ trước khi phát súng đầu tiên nổ ra, mã độc AcidRain đã âm thầm đánh sập mạng vệ tinh của Viasat, khiến hàng nghìn modem trở thành những khối nhựa vô dụng. Một phần hệ thống liên lạc chỉ huy của Ukraine lập tức tê liệt, 5.800 turbine điện gió ở Đức mất kết nối điều khiển từ xa, hàng chục nghìn thuê bao internet ở Pháp, Hungary, Hy Lạp và Ba Lan mất kết nối. Đó là buổi sáng khiến thế giới hiểu ra: bầu trời thấp không còn là vùng trung lập, mà đã trở thành chiến trường.

Vịnh Aden lại dậy sóng

Vịnh Aden lại dậy sóng

Một loạt tàu thương mại bị cướp biển khống chế trên vùng biển Somalia và vịnh Aden chỉ trong khoảng 2 tuần, từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5/2026. Đây là tốc độ leo thang chưa từng thấy kể từ thập kỷ trước - thời điểm hành lang hàng hải này trở thành nỗi kinh hoàng của ngành vận tải biển toàn cầu. Điều gì đã kéo “bóng ma hải tặc” trở lại, và tại sao đúng vào lúc này?

Những thông điệp từ nước Anh

Những thông điệp từ nước Anh

Giữa lúc quan hệ Anh - Mỹ đang trải qua thử thách nghiêm trọng, chuyến thăm kéo dài 4 ngày của Quốc vương Charles III tới Washington nhân kỷ niệm 250 năm ngày ký Tuyên ngôn Độc lập đã mang theo nhiều thông điệp quan trọng về “mối quan hệ đặc biệt” giữa hai bên.

Liên hợp quốc tìm người kế nhiệm Tổng Thư ký Antonio Guterres: Cuộc đua ngắn hay dài nhất?

Liên hợp quốc tìm người kế nhiệm Tổng Thư ký Antonio Guterres: Cuộc đua ngắn hay dài nhất?

Ngày 21 và 22/4 vừa qua, 4 ứng cử viên cho chức Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã trải qua các phiên đối thoại trực tiếp trước Đại Hội đồng - sự kiện được ví như “một trong những cuộc phỏng vấn xin việc khắt khe nhất thế giới”. Cuộc đua thay thế ông Antonio Guterres, người kết thúc nhiệm kỳ ngày 31/12/2026, đang bước vào giai đoạn quyết định.

Colombia: “Hòa bình toàn diện” hay “chiến tranh toàn phần”?

Colombia: “Hòa bình toàn diện” hay “chiến tranh toàn phần”?

Thỏa thuận hòa bình mang tính bước ngoặt năm 2016 giữa Chính phủ Colombia và lực lượng nổi dậy lớn nhất ở Mỹ Latin đã thành công ở một số khía cạnh: Lực lượng vũ trang Cách mạng Colombia (FARC) đồng ý hạ vũ khí và bạo lực từng tàn phá đất nước đã giảm đáng kể.

Chiến tranh hiện đại và sự phụ thuộc trí tuệ nhân tạo

Chiến tranh hiện đại và sự phụ thuộc trí tuệ nhân tạo

Cuộc xung đột diễn ra tại Trung Đông cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng cao của quân đội Mỹ và Israel vào trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực quân sự, đặc biệt là trong việc xác định mục tiêu và lập kế hoạch tấn công.

Vận tải biển tránh Hormuz, chọn lối Panama

Vận tải biển tránh Hormuz, chọn lối Panama

Hormuz bị phong tỏa đẩy chuỗi cung ứng toàn cầu vào thế đảo lộn, khiến các hãng vận tải đổ dồn qua kênh đào Panama và chấp nhận trả phí ưu tiên cao chưa từng có để tránh rủi ro chậm trễ.

Khi UAE rời khỏi OPEC...

Khi UAE rời khỏi OPEC...

Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) thông báo, kể từ ngày 1/5, nước này rời khỏi Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) sau 60 năm là thành viên, giáng một đòn nặng nề vào tổ chức này, trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nguồn cung lớn nhất lịch sử.

Quốc hội gỡ “khó” từ đất đai đến thuế: Mở lối cho dòng chảy nguồn lực

Quốc hội gỡ “khó” từ đất đai đến thuế: Mở lối cho dòng chảy nguồn lực

Chỉ với 12 ngày làm việc, nhưng Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI đã thực hiện rất nhiều nhiệm vụ quan trọng: đó là, tập trung kiện toàn bộ máy Nhà nước, bầu các chức danh lãnh đạo cao cấp; kịp thời thể chế hóa nhiều chủ trương, chính sách thành pháp luật để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; đồng thời, quyết định các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và đối ngoại, trong đó có nhiều nhiệm vụ gấp rút, cấp bách; thông qua 9 luật và 31 nghị quyết.

Những lá phiếu giữa đống đổ nát Gaza

Những lá phiếu giữa đống đổ nát Gaza

Cuộc bầu cử đầu tiên của người Gaza sau hơn 2 thập kỷ, diễn ra tại thành phố Deir al-Balah hôm 26/4, đã chứng kiến thắng lợi nghiêng về những ứng viên được cho là có liên hệ với Chính quyền Palestine (PA). Nhưng, đằng sau kết quả ấy vẫn là những câu hỏi thực chất chưa có lời đáp về năng lực quản trị và vai trò của PA trong một cục diện mà họ hầu như bị gạt ra ngoài lề.

Eo biển Hormuz và “cơn địa chấn” năng lượng

Eo biển Hormuz và “cơn địa chấn” năng lượng

Những chuyến tàu dầu bắt đầu khựng lại ở eo biển Hormuz, khi cuộc xung đột Iran nổ ra đang khiến cả thế giới như nín thở. “Chúng ta đang đối mặt với mối đe dọa an ninh năng lượng lớn nhất trong lịch sử”, ông Fatih Birol, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), đã thốt lên như vậy và nó không phải là lời nói quá.

EU chính thức phê duyệt gói vay 90 tỷ euro cho Ukraine

EU chính thức phê duyệt gói vay 90 tỷ euro cho Ukraine

Liên minh châu Âu (EU) hôm 23/4 đã phê duyệt gói vay 90 tỷ euro để giúp Ukraine đáp ứng các nhu cầu kinh tế và quân sự trong 2 năm, theo tuyên bố của Síp, Chủ tịch luân phiên của EU. Đồng thời, phê duyệt một loạt biện pháp trừng phạt mới đối với Nga.

Châu Âu và cuộc chiến Trung Đông

Châu Âu và cuộc chiến Trung Đông

Châu Âu đang ở vị thế vô cùng khó xử trong cuộc xung đột Mỹ/Israel - Iran. Họ vừa không phải là bên ra quyết định có ảnh hưởng đến cuộc chiến, vừa không phải là bên trung gian hòa giải có ảnh hưởng đáng kể. Châu Âu chỉ là bên ngoài cuộc, bất lực trong việc can thiệp và là nạn nhân gánh chịu những tổn thất không ngừng lan rộng.

Nước Anh và những trăn trở kéo dài từ một cuộc “ly hôn”

Nước Anh và những trăn trở kéo dài từ một cuộc “ly hôn”

10 năm sau “cuộc ly hôn” thế kỷ, nước Anh vẫn chưa tìm thấy bình yên hậu Brexit. Giữa những hệ lụy kinh tế kéo dài và một nghịch lý là làn sóng mong muốn quay lại EU ngày càng dâng cao trong dư luận, Thủ tướng Keir Starmer đứng trước bài toán nan giải: làm sao để thực hiện lời hứa về một “nước Anh toàn cầu” mà không làm ngơ trước sự đảo chiều tư tưởng của công chúng.

Sự mệt mỏi bắt đầu len lỏi ở Điện Capitol

Sự mệt mỏi bắt đầu len lỏi ở Điện Capitol

Những dấu hiệu mệt mỏi, mất kiên nhẫn đang len lỏi trong hàng ngũ Đảng Cộng hòa trước diễn biến ngày càng khó kiểm soát của cuộc chiến với Iran. Giữa áp lực kinh tế, sức ép cử tri và toan tính chính trị, liệu tín hiệu từ các nghị sĩ có thể thúc đẩy Nhà Trắng tiến nhanh hơn đến thỏa thuận chấm dứt chiến sự?

Mỹ - Iran: Ngừng bắn và những kịch bản

Mỹ - Iran: Ngừng bắn và những kịch bản

Cùng với thỏa thuận ngừng bắn, cả Washington và Tehran đã đưa ra những tuyên bố chiến thắng trái ngược nhau. Kể từ ngày 28/2, ước tính Mỹ và Israel đã thực hiện hơn 13.000 cuộc tấn công vào các mục tiêu tại Iran, ban đầu chủ yếu nhắm vào các đơn vị quân sự, sau đó mở rộng thành 800 cuộc không kích nhằm vào các cơ sở hạ tầng công nghiệp quốc phòng trọng yếu, bao gồm đường sắt, đường bộ và cầu.

Israel - Lebanon: Sự yên tĩnh mong manh

Israel - Lebanon: Sự yên tĩnh mong manh

0 giờ ngày 17/4, lệnh ngừng bắn tạm thời 10 ngày giữa Israel và Lebanon có hiệu lực. Dù rất mong manh nhưng lệnh ngừng bắn được xem là một trong những nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt chiến tranh, mang lại hòa bình lâu dài cho khu vực Trung Đông.

“Cây cầu Islamabad” và triển vọng hòa bình cuộc xung đột Mỹ - Iran

“Cây cầu Islamabad” và triển vọng hòa bình cuộc xung đột Mỹ - Iran

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Iran gây ra hiệu ứng khốc liệt với kinh tế thế giới, việc Washington và Tehran cùng chấp nhận thỏa thuận ngừng bắn tạm thời hôm 8/4 là “khoảng thở” quý giá cho toàn cầu. Đứng sau sự kiện này không phải những cường quốc phương Tây hay các nước Vùng Vịnh giàu có, mà là Pakistan - quốc gia đã khéo léo sử dụng vị thế đặc thù để kết nối hai đối thủ.