Bà Xuân năm nay đã 73 tuổi, nhưng số phận đã sinh ra bà giống như một sự đày ải giữa chốn trần ai.
1. Khu phố Ông Ích Khiêm bây giờ được xây dựng lại rất khang trang. Lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng hiện đại, sang trọng, ngôi nhà mới vừa xây thô dở dang của bà Xuân trông thật bé nhỏ, tội nghiệp. Những bức tường loang lổ chưa trát xi măng, căn nhà trống hoác, không cửa giả, không đồ đạc, lạc lõng, trơ trọi giữa góc phố sang trọng.
Cách đây 4 tháng, ngôi nhà 18m2 mà bà và nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi sống hai năm hạnh phúc bên nhau đã sập sệ, phải căng bạt và nilon để chống chọi qua những ngày bão gió. Nhiều lúc bà đang ngồi bế cháu bỗng nghe một tiếng rầm, khu bếp đổ tan hoang.
Còn cái mái nhà, lúc nào cũng rập rình như sắp sập xuống. Căn nhà nhỏ cũng đã từng phải oằn mình lên chống chọi với cuộc đời nặng trĩu của bà. Bà Xuân và cả đại gia đình gồm 7 con người tá túc trong đó bất lực nhìn những mảng tường cũ kỹ rơi rụng dần và ngôi nhà ngày càng bé nhỏ, chơ vơ giữa phố xá hiện đại. Bà Xuân kể, ngày 29 tháng 4 vừa rồi là ngày giỗ nhà văn Nguyễn Thi.
Bà thấy ông về, ngồi buồn rũ ở một góc nhà. Bà đã thầm cầu nguyện. Vậy mà lời nguyện cầu của bà thật linh. Mấy hôm sau, có một công ty tư nhân đến hỏi thăm về gia đình vợ nhà văn Nguyễn Thi và ngỏ ý muốn xây dựng cho gia đình bà một căn nhà tình nghĩa. Bà Xuân chộn rộn, cả đời mình lo ăn còn chưa đủ chứ nói gì đến mơ ước có một cái nhà tử tế hơn để sống.
Và ngôi nhà cũ, từng mang bóng dáng hạnh phúc hai năm làm vợ của bà đã đập đi để xây lại. Bà Xuân đã đứng tần ngần hàng tiếng đồng hồ ở đó. Dẫu sao nó cũng đầy ắp những kỷ niệm về người chồng rất mực yêu thương, về một quãng đời ngắn ngủi nhưng hạnh phúc trong cuộc đời nhiều nước mắt của bà. Vậy nhưng, 4 tháng rồi, ngôi nhà cũng mới chỉ xong được phần thô, bên bảo trợ họ cũng cố hết sức rồi, họ đã cho gia đình bà một khoản tiền gấp 3 lần những căn nhà tình nghĩa khác, nên gia đình bà Xuân bây giờ phải tự xoay xở tiếp.
Nhưng xoay vào đâu? Xoay vào đâu khi gánh nặng mưu sinh đang đè trĩu lên gia đình bà. "Có lẽ phải lấy nilon, vải bạt làm cửa che ở tạm thôi con ạ. Mà buồn nhất là bàn thờ ông Nguyễn Thi, từ hôm xây dựng phải cất dỡ trên nóc nhà. Chắc mai bà phải hạ xuống thôi, chứ đợi đến bao giờ. Không để ông ấy lạnh".
Bà Xuân đưa bàn tay gầy guộc, chai sần lau vội những giọt nước mắt ứa ra trên hai khóe mắt nhăn nheo. Cả nhà bà lại về tá túc tạm trong căn nhà cấp bốn ở gần đó, nơi trong ký ức của bà là những ngày khủng khiếp của cực nhọc và vất vả. (Ngày xưa nơi đây từng là hố xí công cộng, khi về hưu bà Xuân xin đơn vị chái tạm ra để ở). Cũng một cuộc đời, nghe sao mà cay đắng.
Bà Xuân tiếp tôi trên chiếc chiếu trải giữa nhà vừa là giường ngủ vừa là nơi tiếp khách. Căn nhà nhỏ ẩm mốc mùi của những lố dây giày mà mấy mẹ con bà vẫn làm thêm hằng ngày để lo cuộc mưu sinh. Lặng lẽ ra vào, lặng lẽ làm việc, và lặng lẽ sống nốt những tháng ngày còn lại của cuộc đời, bà Xuân vẫn chưa đi hết những kiếp nạn của một đời người. Giờ đây, ở vào cái tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng gánh nặng cơm áo vẫn chưa hết đè trĩu lên đời bà.
Những giọt nước mắt ứa ra từ đôi mắt đã khô cạn bởi thời gian. Tôi cứ ngậm ngùi cho một kiếp người như bà Xuân, với bao nhiêu hệ lụy trần gian. Mang bi kịch của một người đàn bà thời hậu chiến sang thời bình, bà còn phải gánh chịu cả những bi kịch thời mở cửa khi cậu con trai duy nhất của bà và nhà văn Nguyễn Thi vướng vào vòng lao lý.
Gần 20 năm rồi, bà Xuân mòn mỏi trong những cơn vật vã của con trai mình. Từng đồng lương hưu của bà Xuân gom góp dành dụm không đủ chi phí cho cậu con trai. Có ngày nào bà không khóc thương và oán giận nó. Nhưng người mẹ nào mà chẳng thương con, bà oán giận nhưng bà không thể bỏ được.
Dù con trai bà đã có gia đình riêng từ lâu và mấy năm nay tự nguyện lên trung tâm cai nghiện để làm lại cuộc đời. Thì gánh nặng cơm áo của gia đình anh lại dồn lên đôi vai gầy guộc của bà Xuân. Bà tất tả ngược xuôi, gồng gánh những hệ lụy của đời mình.
2. Nhưng ngồi nói chuyện với bà Xuân, trong chuỗi ký ức tối tăm đau khổ về cuộc đời một người con gái mới 21 tuổi đã góa chồng của bà, vẫn thấy một phần ánh sáng. Đó là quãng đời sống hạnh phúc và tình yêu của bà dành cho người chồng, nhà văn liệt sĩ Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thi.
Dù cuộc hôn nhân đó bắt đầu từ những giọt nước mắt, khi cô gái 19 tuổi làng nón Thanh Oai, phải đau đớn vĩnh biệt tình yêu đầu đời và chấp nhận làm vợ một người đàn ông đã từng có gia đình. Bà đã khóc cạn cả nước mắt trong đêm tân hôn đó. Nhưng tâm hồn người con gái mong manh và dễ mềm lòng trước câu nói đầy thương cảm của nhà văn Nguyễn Thi: "Đời anh khổ quá rồi em ạ". Và cuộc sống với nhà văn Nguyễn Thi đã mang đến cho bà hạnh phúc, cái hạnh phúc ngắn ngủi hiếm hoi của một kiếp người như bà.
Bà Xuân kể: "Ngày đó nhà văn Nguyễn Thi lúc nào cũng thích đèo bà đi khoe với bạn bè". Ngày đó, cô gái quê 19 tuổi, mộc mạc như củ khoai, củ sắn nơi làng quê, tóc dài chạm gót chân. Mỗi lần nhà văn Nguyễn Thi chở vợ đi, tóc dài của bà quấn vào bánh xe, ông đã ngồi tỉ mẩn gỡ từng sợi tóc và gói vào một cái phong bao, để khi nào nhớ vợ, nhớ con, ông lại mở ra để ngắm.
Bà Xuân còn nhớ ngày nhà văn Nguyễn Thi xung phong vào chiến trường B, ông đã lọ mọ đi khắp nơi để tìm mua tặng bà một chiếc đồng hồ Liên Xô, đêm đó ông thức trắng đêm, đến gần sáng lay bà dậy, đeo vào tay bà và nói: "Em hãy giữ chiếc đồng hồ này để đợi anh về, ở nhà nhớ công tác tốt em nhé".
Nhà văn Nguyễn Thi trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh đó đã viết nên những tác phẩm bất hủ về người lính. Và trong nhiều cuộc hội thảo về nhà văn chiến sĩ ấy, Hội Văn học Nghệ thuật TP HCM đang hoàn tất hồ sơ truy tặng ông danh hiệu cao quý, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, để ghi nhận những đóng góp to lớn của một nhà văn vừa cầm súng, vừa cầm bút chiến đấu.
Còn bà Xuân, cho đến bây giờ, vẫn tự hào khẳng định, dù bà chỉ học đến lớp một, dù cô gái làng nón ngày ấy không giàu có về tri thức, nhưng bà lại có một tấm chân tình của một người vợ thương chồng, và biết khích lệ và động viên ông.
21 tuổi, bà Xuân sống cuộc sống thấp thỏm của một người vợ hậu phương chờ chồng đi chiến trận. Tình cảm của bà và nhà văn Nguyễn Thi được nối dài qua những bức thư, một kỷ vật vô giá mà bà vẫn trân trọng, nâng niu cất giữ đến bây giờ.
Cuộc sống trong những ngày khốn khó nhất, khi một mình bươn bả nuôi con và người mẹ già năm năm trời ốm nằm liệt giường, bà Xuân vẫn cất cho riêng mình một góc ký ức. Tôi đọc lại những lá thư thời chiến của nhà văn Nguyễn Thi, đã ố màu vì thời gian, nhưng vẫn đầy lên những thương nhớ. Ông lúc nào cũng bắt đầu bằng những dòng chữ yêu thương: "Xuân yêu của anh". Và đau đáu một nỗi nhớ vợ con.
19 tuổi xa chồng, đằng đẵng 8 năm sau bà nhận được giấy báo tử của ông. Mà trong quãng thời gian ấy, nhiều lúc tim bà đã nhói đau vì những thấp thỏm đợi chờ... Nhà văn Nguyễn Thi hy sinh năm 1968 trong một trận đánh vào cửa ngõ Sài Gòn. Nhưng phải đến năm 1970 bà mới nhận được giấy báo tử. Mái tóc bà Xuân đã bạc trắng vì thương nhớ, xót xa.
Hai năm sau bà Xuân đi bước nữa với một người đàn ông tốt bụng, nhưng cũng chỉ vẻn vẹn được hai năm, khi cậu con trai mới 11 tháng tuổi, người chồng sau của bà đã chết bất đắc kỳ tử trong một chuyến đi công tác. 30 tuổi, bà Xuân lại một lần nữa mang vành tang trắng khóc cho cuộc hôn nhân ngắn ngủi như một định phận của đời mình.
Cuộc chiến đã lùi vào quá khứ, nhưng ký ức về chiến tranh vẫn hằn lên nỗi đau trong cuộc đời của bà Xuân. Điều bà đau đáu trong lòng là 40 năm qua, nhà văn Nguyễn Thi vẫn nằm lạnh lẽo ở một nơi nào đó, mà đến giờ sau bao nhiêu năm nỗ lực của gia đình và đồng đội vẫn chưa tìm được phần mộ của ông. Bà phải tìm bằng được, đó là tâm nguyện cuối cùng của đời bà, để nơi suối vàng, linh hồn ông được siêu thoát, để ngôi mộ gió trong nghĩa trang TP HCM không còn là mộ gió nữa. Và để tâm bà được bình an.
Tôi và có lẽ tất cả mọi người khi nói chuyện với bà Xuân đều không khỏi xót xa cho một phận người, quá tuổi 70 rồi, bà Xuân như ngọn đèn lay lắt trước gió, nhưng gánh nặng cuộc đời, cơm áo, nhà cửa, những lo toan cho con cháu vẫn chưa hết trĩu nặng và nước mắt bà có lẽ vẫn chưa thể ngừng rơi…
Tôi nhìn ra ngôi nhà đang xây dở ngoài kia, những cơn gió mùa thu hiu hắt dội vào trong tôi một nỗi buồn vô hạn về nỗi đau của một kiếp người. Không biết rồi mai đây, mẹ con bà sẽ xoay xở ra sao với gánh nặng mưu sinh còn quá nhọc nhằn. Rồi khi những cơn bão đến, hay gió mùa về, ngôi nhà dở dang kia làm sao đủ để che chở cho gia đình bé nhỏ của bà Xuân. Tôi chỉ biết cầu nguyện cho nỗi buồn hóa kiếp trong cuộc đời bà Xuân, để quãng đời còn lại của bà và con cháu mình, con cháu của một Nhà văn Anh hùng có những tháng ngày đỡ vất vả, cực nhọc…