Nhà văn Trần Đức Tiến: Nghề văn không sang trọng hơn bất cứ nghề nào trên đời

Nghề viết, cho dù như nhà văn Trần Đức Tiến đánh giá, không có quyền sang trọng hơn bất cứ nghề chân chính nào trên đời, thì vẫn luôn là một trong những nghề cực nhọc nhất. Nó tạo ra khoái cảm nhưng đồng thời cũng hành hạ người ta đến cạn kiệt, đến dằn vặt mất ăn mất ngủ.

Sinh ra và lớn lên ở Hà Nam , nhưng phần lớn thời gian của cuộc đời mình, Trần Đức Tiến sống và viết ở Vũng Tàu. Mảnh đất có biển, có nắng và gió ấy đã trở thành nơi ra đời cho rất nhiều tác phẩm văn học của ông. Ngày hôm nay, ông đã là một công dân của thành phố biển này, với kỷ lục “nhà văn đoạt nhiều giải thưởng văn học nhất thành phố” do Vietkings trao tặng. Dù cho tên ông đã đính vào không ít danh hiệu, nhưng chưa bao giờ ông đặt nặng vị trí của người cầm bút hơn bất cứ một ngành nghề nào khác trong xã hội. Tôi nhớ có một nhân vật trong truyện ngắn của Trần Đức Tiến đã nói: “Văn chương được làm ra bởi những kẻ ý thức về mình quá trầm trọng thì bao giờ cũng kém phẩm chất”.

Làm một cuộc thống kê, sơ sơ Trần Đức Tiến đã ẵm khoảng hai chục giải thưởng văn chương trong gần 40 năm cầm bút đã qua của mình, đấy là không kể đến cái giải nhất cuộc thi viết truyện châm biếm của báo Thanh Niên. Và giải của địa phương thì cũng không tính nốt. Lỏng và tuột là tên tập truyện được giải thưởng Hội Nhà văn năm 2011 của Trần Đức Tiến. Nghe cái tên sách, có người bảo, sao ông lại chọn cái tên nghe “chướng” thế nào, không nghiêm túc thế nào đó.

Trần Đức Tiến bảo, ông ghét nhất là những người không chịu đọc sách, cứ nhìn cái tên sách mà phán ba lăng nhăng. “Chả có cái gì là không nghiêm túc ở đây. Con người ta sống đến một lúc nào đó thì thấy cái đời sống xung quanh mình, mọi kết nối với mình dường như cứ “lỏng lẻo” và “tuột” ra khỏi mình. Đó là một trải nghiệm của tôi về cái đoạn đời mà tôi đang đi qua, và tôi mang nó vào trong trang viết của tôi”. Một trải nghiệm rất đáng kể của một người đã sống, đã viết khá nhiều, đã từng trải, lăn lộn với cuộc đời và nếm trải đủ mùi vị của thăng trầm, sướng khổ.

Trần Đức Tiến sinh năm 1953, nghĩa là năm nay ông đã ở tuổi 60 rồi, cái tuổi mà như ông tâm sự, luôn thấy thiếu thời giờ và tiếc thời giờ vô cùng. “Năm ngoái tôi bị một cơn thiếu máu lên não. Trong giờ phút hiểm nghèo ấy, ý nghĩ đầu tiên đến rất nhanh, rằng mình còn quá nhiều việc phải làm”.

Rồi Trần Đức Tiến qua khỏi, tuy nhiên đã có một sự thay đổi lớn trong cảm nhận của ông về thời gian, về cuộc đời. ông bắt đầu nhập vào đội hình những người cao tuổi chăm chỉ tập thể dục mỗi sáng, không phải vì sợ chết, mà là còn nhiều ý tưởng phải hoàn thành. Và để hoàn thành thì phải có sức khỏe. “Sức khỏe - tiền bạc là những thứ nhà văn cần phải có, để yên tâm ngồi vào bàn viết, và viết ra được những cái mình tâm đắc”.

Dường như trong ông đã có sự ám ảnh về cuộc đua thời gian. Những sinh hoạt khác trong đời sống cũng là sự chắt lọc kỹ càng hơn. “Tôi không có thời giờ dành cho những việc vô bổ nữa. Người mà tôi không cần tốn thời gian với họ, tôi không gặp. Nhưng nếu đã là người hay, tôi sẵn sàng bỏ cả ngày cho họ. Tiêu xài thời gian phải đích đáng, vì “vốn liếng” của mình không còn nhiều. Chẳng hạn có bạn văn trẻ tôi yêu quý như T.N.T, tôi có thể thư thái ngồi với hắn cả buổi mà không cần nói năng gì, trong lúc hắn ngồi nhìn thạch sùng trên tường nhà. Đấy vẫn là cuộc trò chuyện bổ ích hơn việc gặp những kẻ tầm phào, nhạt nhẽo”.

Ngoài việc dành thời gian cho bạn hay, còn lại Trần Đức Tiến đều ưu tiên cho việc đọc và viết. Ông là người chịu đọc và chịu viết. Những ý tưởng văn chương chưa khi nào thôi nảy nở trong đầu ông. Vừa thấy ông ra sách cho thiếu nhi, đã lại thấy ông xuất bản tập truyện ngắn. Trần Đức Tiến bảo: “Mỗi ngày không chịu ngồi vào bàn đối diện với trang giấy trắng thì đừng tính chuyện trở thành nhà văn. Nhiều hôm, tôi ngồi suốt từ sáng đến trưa mà chỉ viết được một mẩu nhỏ. Ngay cả lúc mình tràn ngập ý tưởng trong đầu thì việc gọi nó ra trang giấy cũng không hề dễ dàng”.

Nghề viết, cho dù như Trần Đức Tiến đánh giá, không có quyền sang trọng hơn bất cứ nghề chân chính nào trên đời, thì vẫn luôn là một trong những nghề cực nhọc nhất. Nó tạo ra khoái cảm nhưng đồng thời cũng hành hạ người ta đến cạn kiệt, đến dằn vặt mất ăn mất ngủ. Hỏi, viết nhiều khi là việc khó như vậy, hẳn là lúc hoàn thành một tác phẩm nào đó, ông phải sống trong cảm giác “trên mây” lâu lắm? Trần Đức Tiến thẳng thắn: “Tôi không dám nhận mình là người tỉnh táo nhất, nhưng có lẽ cũng thuộc vào số những người tỉnh táo. Viết xong một cái thì cảm giác đầu tiên là sung sướng. Nhưng chỉ ở trên mây trong chốc lát là vội đáp xuống mặt đất ngay. Có rất nhiều tác phẩm một thời gian ngắn sau đọc lại, tôi đã thấy không ổn, tôi bỏ đi không thương tiếc và viết lại hoàn toàn. Tôi rất sợ những anh nhà văn viết được một cái hay hay thì cứ ở tít trên mây xanh, cả đời không chịu xuống đất nữa”.

Trần Đức Tiến có lẽ là một nhà văn đề cập đến “sex” thẳng thừng nhất trong các tác phẩm của mình. Văn ông hấp dẫn độc giả bởi nhiều yếu tố, nhưng không thể không nhắc đến yếu tố “sex”. Nhưng bạn đọc đừng vội nhầm, “sex” chưa khi nào là chủ đích của nhà văn nhằm lôi kéo độc giả. Những trang viết về đàn bà, về sex của ông luôn được sử dụng như một phương tiện để chuyển tải một tư tưởng thẩm mỹ nào đó về đời sống.

Truyện của Trần Đức Tiến thường mang đến cho bạn đọc một cảm giác nửa hư nửa thực, đôi khi nó chập chờn như một giấc mơ mà lúc tỉnh dậy chúng ta không thể nào nhớ lại cho rành rẽ được. Ông thừa nhận mình là nhà văn viết “không bịa”. Rằng ông chỉ có thể viết về những gì mình đã trải qua. Ngay cả tên một nhân vật, tên một quán cà phê ông cũng không muốn bịa, cứ phải là cái tên ấy, cái người ấy mới đúng, rồi chập chờn đi vào trang viết của mình. Nhưng nếu chỉ là nguyên xi chuyện thật thì e rằng văn chương của Trần Đức Tiến đã làm thay ít nhiều công việc của báo chí. Khả năng làm “nhòe mờ” ranh giới giữa hư và thực trong ngòi bút của Trần Đức Tiến đã khiến cho tác phẩm của ông mang lại cho bạn đọc một cảm nhận đặc biệt mà rất ít người viết có thể tạo ra, là “thực” một cách dữ dội, quyết liệt đấy, mà đồng thời cũng “ảo” một cách kỳ dị.

Từng có độc giả hỏi Trần Đức Tiến, với những trang viết về “sex” một cách bản năng trong tác phẩm của mình như thế, ông có dám mang sách về cho con ông đọc không, hoặc giả sử bà xã của ông đọc được thì sẽ thế nào? Trần Đức Tiến tỏ ra rất “dị ứng” với những câu hỏi như vậy. ông bày tỏ: “Nhà văn ngồi trước trang giấy là lúc anh ta phải nói chuyện với cuộc đời. Anh ta phải lặn xuống cái đáy sâu nhất trong con người mình. Phải trung thực tận cùng với mình. Rất nhiều nhà văn ở ta, vì lo sợ vài nỗi tầm phào, vớ vẩn nào đó mà không dám phơi bày ra những khuất lấp trong thẳm sâu con người mình. Sự nửa vời như vậy chỉ tạo ra những nhà văn dở và những trang viết dở mà thôi”.

Không xem nhẹ việc viết, mà nhìn nó như một công việc bình thường trong cuộc đời, nên Trần Đức Tiến rất cẩn thận trong việc “giáo dục” người thân trong gia đình về cái danh hiệu gọi là nhà văn. ông hài lòng khi: “Bà xã tôi không thần tượng chồng, và con cái tôi cũng thế. Họ quen nhìn tôi như một người bình thường trong nhà làm tôi thấy yên ổn và dễ chịu. Trong gia đình, tôi là người đàn ông không nề hà bất cứ việc gì. Khi cần, tôi có thể nấu cơm, rửa bát, giặt giũ quần áo. Thậm chí có lần vợ đẻ, tôi còn đứng cạnh an ủi bà ấy vượt cạn. Tôi làm tất cả chỉ để xóa đi ở mọi người cái cảm giác tôi là nhà văn, là một người… không bình thường. Viết văn chỉ là một công việc, không có gì cao siêu hay bí hiểm cả”.

Có một câu chuyện liên quan đến việc dạy con của nhà văn Trần Đức Tiến mà tôi được nghe kể lại. Số là con trai ông lúc còn là sinh viên cũng âm thầm sáng tác, mà thể loại cậu ấy chọn là truyện kinh dị. Một lần vô tình đọc được bản thảo của con, ông hơi ngỡ ngàng. Và khi vợ ông nói, cậu con muốn nhờ mẹ gửi bản thảo của cậu cho… tờ báo của bố (thời điểm đó Trần Đức Tiến vẫn còn là Chủ tịch Hội Văn nghệ kiêm Tổng Biên tập Tạp chí văn học nghệ thuật của tỉnh), thì ông dứt khoát bảo với vợ: báo ông sẽ không đăng truyện của con, cũng như không bao giờ đăng truyện của chính ông. Cậu chàng muốn “thử sức” ở báo nào thì tự đi mà gửi. Hai cha con ông vẫn chưa từng một lần ngồi nói với nhau về chuyện sáng tác văn học. Trần Đức Tiến bảo: “Tôi không muốn gieo vào đầu con tôi một hạt ảo tưởng nào về tài năng cả. Nếu nó muốn trở thành nhà văn, tự nó phải “chiến đấu” và tìm ra cách”.

Một thời gian sau, Trần Đức Tiến nhận được cuộc điện thoại của nhà văn Lưu Sơn Minh gọi từ Hà Nội. Lưu Sơn Minh bảo anh đang làm một tuyển tập truyện ngắn kinh dị, có nghe Nguyễn Hồng Lam nói là ở Vũng Tàu có một cậu trẻ nào đó đã từng viết truyện kinh dị, và nhờ ông Chủ tịch Hội Văn nghệ liên lạc với cậu này giúp để xin bản thảo. Nghe xong cú điện thoại của Lưu Sơn Minh, Trần Đức Tiến ớ người, chịu chết không nghĩ ra tác giả nào ở Vũng Tàu viết truyện kinh dị.

Mãi về sau, trong lúc ngồi một mình lẩn thẩn, ông mới sực nhớ: trời đất! Hóa ra chính ông có lần cao hứng kể chuyện thằng con cho Nguyễn Hồng Lam nghe. Rồi chắc Lam lại sang tai cho Lưu Sơn Minh… Và ông cứ ngồi cười tủm tỉm mãi về cái “sự dở hơi” của mình. Câu chuyện đó đã qua đi nhiều năm, cho đến giờ phút này Lưu Sơn Minh vẫn chưa tìm ra anh chàng viết truyện kinh dị nọ.

Đầu năm vừa rồi Trần Đức Tiến về thăm quê, người anh trai ông kể: Thằng con ông tâm sự với bác là nó vẫn viết văn đấy. ông bác bảo cháu: “Nếu mày máu văn chương thì ít nhất cũng phải viết được như bố mày, còn không thì làm việc khác. Xưa tao cũng tập tành viết văn, nhưng rồi sau thấy mình làm cơ khí giỏi hơn nên tao làm cơ khí. Hãy chọn cái việc mà mình thấy là mình giỏi nhất mà làm”.

Trần Đức Tiến chia sẻ, ông hoàn toàn hài lòng với cách dạy cháu của ông anh trai. Rất nhiều người đã bị văn chương làm cho “thân tàn ma dại” vì ảo tưởng, vì nghĩ mình tài năng, thần thánh. Viết văn là một nghề, và nghề ấy cực nhọc. Để thành danh với nó, phải hy sinh rất nhiều, phải có đủ bản lĩnh và tài năng. Cái đó không ai dạy được. Và ông không tin có sự trợ giúp nào hiệu quả cho việc ai đó trở thành một nhà văn. Họ phải tự mình, phải một mình. Trải nghiệm ấy Trần Đức Tiến có được là bởi ông đã đánh đổi cả một đời cầm bút nhọc nhằn. Và ông muốn chuyển thông điệp ấy cho con trai ông, bằng chính sự im lặng dửng dưng của mình như thế

B.N.T.

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.