Nhà văn Lê Lựu: Khó khăn lắm!

Tôi không có nhiều dịp tiếp xúc với nhà văn Lê Lựu, nhưng vẫn giữ lại được những ấn tượng rất sâu đậm về anh. Tôi từng biết anh - ở khoảng cách không gần nhưng đủ để hiểu không ít điều về anh - khi anh đang trong giai đoạn sáng tạo sung sức nhất. Lúc ấy, anh ở đâu là giọng sôi nổi ở đó, chuyện dù phức tạp và nghiêm trọng đến đâu qua cách diễn giải của anh cũng trở thành bình thường, thậm chí hài hước...

Giờ đây, khi anh tuổi đã về chiều, tôi lại càng có điều kiện để hiểu anh hơn qua những giao lưu đồng hương cũng như công việc và đặc biệt là mối thâm giao của những người lính cũ có chung những nhu cầu tình cảm. Nhà văn Lê Lựu hôm nay trở nên đa cảm hơn trước rất nhiều, anh dễ xúc động và rơi nước mắt khi nói về những phận người và những cảnh đời...

Cách đây hơn 10 năm, cùng nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà báo Trịnh Việt Đông, chúng tôi đã thực hiện một cuộc trò chuyện cuối tháng với nhà văn Lê Lựu tại ngôi nhà mà quân đội cấp cho anh trên phố Lý Nam Đế. Tôi nhớ, hôm đó, khi chúng tôi ngồi ở phòng khách với ông chủ thì bà chủ cứ lụi hụi làm gì đó mãi trong bếp... Những điều mà anh nói với chúng tôi hôm đó rất gan ruột mà bây giờ, anh bảo, nếu chúng tôi đưa ra những câu hỏi cũ thì anh vẫn trả lời nguyên như cũ, dù đã bao nhiêu bèo trôi nước chảy rồi.

Lần này, tôi đến gặp anh, sáng thứ Sáu ngày 20/5/2011 tại trụ sở của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân mà anh làm Giám đốc ở tít tận một con ngõ trên đường Tam Trinh. Anh ở đó một mình - bên cạnh chỉ toàn những nhân viên thuộc quyền, cũng ít thôi, chỉ dăm ba người - từ không chỉ một năm nay. Trông anh thần sắc tốt hơn trước...

Hồng Thanh Quang: Hết mưa lại nắng rồi anh nhỉ? Thấy anh khỏe ra là tôi rất mừng...

Nhà văn Lê Lựu (giọng vẫn còn phập phù và đôi chỗ hơi khó nghe): Người thì khỏe ra nhưng chân thì vẫn yếu, đi lại khó khăn...

- Tình hình sức khỏe thế nhưng nghe nói anh vẫn không chịu nghỉ mà vẫn triển khai các công việc, và đặc biệt là việc vận động quyên góp để dựng tượng nhà thơ Phạm Tiến Duật ở Phú Thọ. Thế công việc đó tiến triển ra sao rồi hả anh?

- Bây giờ thì được 167 nghìn...

- Triệu chứ anh!

- Đúng, đúng, 167 triệu đồng. Thân Đức Nam (TGĐ Cienco 5 - HTQ) góp 100 triệu, chú Ước (vì là người anh trong nghề và cũng là đồng hương thân thiết, nên nhà văn Lê Lựu hay gọi đồng chí Trung tướng TBT của chúng tôi, nhà văn Hữu Ước như thế) góp 50 triệu đồng...

- Và những người còn lại thì góp 17 triệu...

- Thì thế. Thí dụ như Bia Sài Gòn góp 2 triệu...

- Tôi nhớ, sinh thời, nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng uống bia Sài Gòn nhiều lắm...

- Thời trẻ, chúng ta ai chẳng uống bia Sài Gòn...

- Anh biết không, sau khi anh Phạm Tiến Duật mất, không ít người mà tôi biết đích xác là đã không mấy tử tế với "thi sĩ của Trường Sơn" lúc nhà thơ còn sống lại là những người xông ra khoe nhiều nhất những tình cảm tốt đẹp này nọ mà dường như họ đã dành cho anh. Tôi thấy chuyện đó cứ bất nhẫn thế nào ấy nên tôi chủ động tránh họ ra. Nhưng gặp anh, tôi lại rất cảm động vì nói thật, anh cũng đang ở trong tình cảnh "ốc không mang nổi mình ốc" nhưng lại tốn quá nhiều tâm huyết và công sức cho việc dựng tượng anh Duật...

- Nếu bọn mình, những người lính cùng thời với nhau, những bạn văn thơ cùng cảnh với nhau, không lo chuyện này thì ai lo? (Tự dưng, giọng anh nghẹn lại và nước mắt trào ra...).

- Tôi hiểu...Tôi nghĩ rằng anh Duật cũng sẽ mát lòng nơi chín suối khi biết rằng trên dương thế còn không ít người thương nhớ anh một cách thực lòng như thế... Bây giờ, nếu nhớ lại, anh hình dung về nhà thơ Phạm Tiến Duật như thế nào?

- Đó là một con người cực kỳ thông minh. Và chân thành. Anh Duật tử tế và thương người lắm, không muốn làm buồn ai cả nên lắm lúc hào phóng hứa, hứa rồi thì không phải việc gì cũng làm được nên cũng hay bị mang tiếng... Nhưng muốn nói gì thì  nói cũng phải công nhận rằng, đó là một con người sống rất thật, rất chân thành...

- Tôi cũng nghĩ như anh. Nhà thơ Phạm Tiến Duật là người rất chân thành, thậm chí có thể nói rằng, anh sẵn sàng chân thành sai chứ không chịu giả dối đúng. Đó là phẩm hạnh của một thi sĩ đích thực...

- Thơ Duật cũng rất hay, một giọng điệu mới trong thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nếu không có thơ Duật thì chúng ta chắc chắn sẽ thiếu đi một sự hình dung đúng về chiến tranh chống giặc ngoại xâm trong thế kỷ XX.--PageBreak--

- Tôi nghĩ, chúng ta không thể hình dung đúng và đủ về những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm nếu không nhớ những câu thơ hay nhất của Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy và nhiều nhà văn, nhà thơ khác nữa... Cũng như nếu không nhớ những tiểu thuyết hay nhất của Lê Lựu... Tôi nhớ cách đây hơn 10 năm, anh có nói là sự nghiệp văn học của anh đã kết thúc trước đó cả một thập niên. Thế nhưng, từ đó tới giờ, anh vẫn cho ra mắt độc giả không chỉ một tác phẩm. Vì sao?

- Thực chất là mình cứ cố được tí nào thì hay tí đó, chứ còn không có cái gì có thể vượt qua hết được. Nhưng cũng đừng trách tôi vì tôi không thể nào không viết. Tôi đã từng nói với Hồng Thanh Quang rồi, tôi rất thích quy luật của cái việc chọi trâu hay quy luật của cá mòi. Quy luật chọi trâu tức là con trâu thắng hay con trâu thua thì đều thịt hết. Trâu thắng thì được cúng thần và chia cho mọi người ăn cái phần thịt thắng lợi cho nó vinh dự, chứ còn trâu thua thì bán ra chợ thôi.

- Nhưng mà chất lượng thịt như nhau?

- Đúng vậy. Mỗi lần vinh quang, mình thì cũng chả vinh quang gì nhưng mà đại loại là có may một lần, chứ may nhiều quá thì không nên. Tôi nghĩ sau khi viết được một vài cái như Thời xa vắng thì tất cả những cái sau cố gắng làm cho nó khác mình đi. Sau này, toàn bộ cái tinh lực nhất của mình thì đã dốc ra hết rồi. Nếu có sự tìm tòi nào đó thì may ra có được một cái gì đó, và cái ấy hết sức hi hữu.

- Tức là trong anh đã có một niềm hy vọng nào đấy?

- Đã có thời mình hy vọng. May ra... Nhưng cái may ra hiện nay hiếm lắm, bởi vì cái may ra chưa hé lộ thì bạn đọc đã đậy lại. Vậy làm sao mà may được nữa.

- Chả lẽ anh đã từng sợ bạn đọc đến mức độ như vậy ư?

- Thường là thế. Vì bạn đọc nhiều loại lắm, nhiều cấp độ khác nhau lắm. Nhất là những bạn đọc có một chút quyền hành nào đó mà người ta đã không thích thì tất cả những người dưới là phải không thích cả. Cho nên, tuy trân trọng nhưng tôi rất sợ bạn đọc.

- Lê Lựu cũng là một người nhút nhát?

- Vốn là hèn! (Cười). Thực ra, người ta bảo tôi giống thằng Sài trong Thời xa vắng là bởi vì tôi hèn. Mình rất hèn so với các nhà văn khác. Mình nghĩ: cái nghiệp viết văn của mình, giống như hồi ở quê mình hay đi hôi cá. Người ta tát xong là mình nhào xuống.

Khi đi hôi thì cứ chực chờ để người ta hở ra cái thì mình chộp lấy chứ không có một cái tư thế đàng hoàng của một người chủ ao cá. Mình đi hôi thì cũng đàng hoàng, chứ không chầu chực rình rập lúc nào người ta sơ hở thì ùa lại như người khác. Lúc họ ném một hòn bùn là vội vàng chạy tóe lên. Giống như đàn vịt ùa xuống  bị ném bùn lại ùa lên. Đấy là tôi nghĩ một số người trong đám nhà văn mình cũng như thế đấy. Cái tư cách nhà văn như thế thì khó nhỉ...

- Anh biết không, nhà văn đích thực cần viết ra những gì họ có nghĩa vụ phải viết, chứ không phải những gì được viết. Nhà văn đích thực chấp nhận bị lạc thời chứ không lạc lối... Tiếc thay, không ít người chỉ khi ở cuối con đường thì mới ngộ ra điều này. Và mọi sự đã trở nên muộn màng...

- Thực ra, tới thời điểm này, mình đã trông thấy cái chết rồi. Thôi kệ mình sống được lúc nào hay lúc ấy, nhưng mà mình cũng không việc gì phải bi quan, không việc gì mà phải sợ sệt cả. Chỉ có điều mình cảm thấy bất lực với tác phẩm. Ngày xưa, tất cả các tác phẩm không bao giờ tôi viết quá 3 tháng, như Mở rừng, Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội.

Thế mà bây giờ ngồi vào bàn, tôi không thể thức trắng được 3 tháng như trước nữa. Yếu tố sức khoẻ vô cùng quan trọng đối với một anh viết văn xuôi. Vì thực ra viết văn xuôi là làm công việc của con trâu đi cày. Mỗi dòng chữ như một xá cày, mỗi trang giấy như một thửa ruộng, mà cả cuốn tiểu thuyết như một cánh đồng chữ mênh mông không biết chỗ nào là chân trời cả, không biết chỗ nào mà dừng cả.

Thực ra, viết văn xuôi là "lấy công bù tài, lấy ngoài bù trong", tức là lấy sự cần cù để bù thông minh thôi... Nhưng mà cái sự cần cù phải cần đến sức khoẻ thì mất đi rồi. Đấy là chưa kể bệnh tật. Còn chết lúc nào thì có quan trọng gì đâu. Còn cái trí tuệ của mình, cái sáng tạo của mình, cái tìm tòi của mình có còn cái gì nữa đâu?

- Anh nói: Con trâu thắng, con trâu thua đều đem thịt, đúng không? Nhà văn cũng vậy, như anh có tác phẩm thành công ngay từ đầu đời được xem là một trận thắng, cuối đời có thể có một trận thắng, anh quan niệm anh đã thắng chưa?

- Ờ, thắng thì cũng chả gọi là thắng, thế nhưng mình như người đã chết rồi. Tự mình giết mình chứ có ai thịt mình đâu. Mình tự giết mình trong cái trí lực, cái sức khoẻ của mình thành ra nó tồi tàn đi. Thêm nữa, cái không khí mà bạn đọc hết sức ủng hộ, chứ đừng lườm nguýt. Những khi mình có một cái tìm tòi thì đừng nguýt, đừng cấu, đừng véo thì may ra mình lại tìm được một cái gì chăng.

Thế nhưng mình chưa nghĩ ra được cái gì thì đằng đông đằng tây, đằng ngược đằng xuôi cứ lườm nguýt... Tất nhiên hiện giờ cái không khí bạn đọc ủng hộ là vô cùng tốt so với trước đây rồi, gấp trăm lần rồi, thế nhưng nó vẫn chưa thật thoải mái đối với những người sáng tác, những người tìm tòi...--PageBreak--

- Đọc lại tất cả những khát vọng của nhà văn Lê Lựu thì có thấy rằng rất cả những sự tịnh tiến về mặt tư tưởng, tinh thần nó diễn ra một cách lâu dài, từ "Người về đồng cói" cho đến "Chuyện làng Cuội" là một sự vượt lên chính bản thân anh rất nhiều về mặt tư tưởng, bằng kinh nghiệm sống, bằng những cái về tư tưởng mà sau này Phạm Tiến Duật mới có, chứ không phải là bằng trái tim của một anh nông dân ở Khoái Châu ngay từ đầu. Những kinh nghiệm trong quân ngũ, trong cuộc sống anh phải tích luỹ như thế nào mà cho đến giai đoạn cuối đời, anh có rất nhiều những suy nghĩ rất chua cay về cái kiếp nhân sinh của chúng ta?

- Trước hết là tôi sống và viết bằng trái tim của một anh nông dân Khoái Châu. Tôi có rất nhiều cái xấu nhưng ít ra là trái tim tôi, trái tim của một anh nông dân nhà quê ấy nó không thay đổi. Nó không chạy theo cái nọ cái kia, không sang chỗ này chỗ nọ,  thấy người khác hơn mình thì hoắng lên. Không bao giờ.

Nhưng như thế thì tôi tin vào mình hơn, tin vào dân tộc mình và cũng nhìn rõ dân tộc mình cái gì được, cái gì mất, cái gì hay, cái gì dở là mình biết. Chứ còn cái mà đau đời ấy thực ra là rất phức tạp. Có lẽ tôi là con người tham quá, nhiều ước muốn quá, nhiều tham vọng quá cho nên thấy những cái bất bằng giữa đường giữa chợ, hoặc đối với bà con mình, đối với dân mình hoặc đối với bản thân mình nó chưa thoả mãn nên sinh ra bi kịch, sinh ra nỗi lòng.

Nếu như nó thoả mãn thì thôi. Tôi được cái nhà này thì thoả mãn, đẹp quá, tốt hơn nhiều người khác, lên được cái cấp này cũng quá tốt so với người khác, thế nhưng mình vẫn cứ luôn luôn muốn mình được thì người khác cũng được, bà con mình cũng được. Mình luôn luôn nghĩ rằng làm sao cuộc đời bớt đi  bất công, bớt đi dối trá, bớt đi sự lừa lọc, bớt đi sự lưu manh, sự phản bội lẫn nhau thì mình cũng bớt đau hơn.

Có thể là chính mình, có thể là người khác nhưng một xã hội mong muốn như thế là không tưởng rồi nhưng mình muốn rằng bớt những cái sự vô lý. Mình viết cái sự đau đớn không phải là mình hằn học cái gì đâu, mà mình viết về những sự vô lý, đáng nhẽ thế này tại sao nó lại thế khác, lẽ ra thế này tại sao nó lại thế kia cũng là vì muốn bớt đi cái sự đau đời.

Được thế cũng là nhờ đi nhiều, sống nhiều. Người ta gọi đó là sự từng trải. Mình chưa từng trải gì lắm nhưng mình lăn lộn nhiều, đi nhiều, bụi bặm, rồi tất cả mọi thứ nó quấn lấy mình.  Cho nên mình cứ luôn luôn có cái mong muốn nó khác đi, thế nên mới sinh ra cái ý nghĩ như vậy...

Nhân đây, tôi nói đôi điều về lớp trẻ. Có nhiều người hỏi tôi về lớp trẻ hiện nay thì tôi nói lớp trẻ bây giờ tài năng vô cùng, ngoại ngữ có, học hành đến nơi đến chốn, giao tiếp rộng, đời sống tự do, rồi quan hệ giao lưu vô cùng thoải mái, thế nhưng chưa hiện lên thì đã tàn lụi rồi. Vì sao vậy?

Vì nó thiếu cái sự khốn khổ khốn nạn. Không bắt anh ta phải khốn khổ khốn nạn nhưng ít nhất anh ta phải kham khổ trong cái sự khốn khổ khốn nạn của những người mà bây giờ cái số người ấy không phải là không có. Nếu anh không dầm mình vào cuộc sống, nếu anh không sống tốt với mọi người thì nó cũng bớt đi cái sự sâu sắc, nó cũng nhiều lên cái sự phù phiếm.

- Có cảm giác như anh, hay thế hệ anh, vẫn bị cái ý nghĩ là mặc nhiên xã hội mọi thứ là đều phải tốt đẹp, và nếu nó không tốt đẹp theo ý của mình thì mình cảm thấy bất mãn. Thực chất, xã hội tiền đề không bao giờ tốt cả mà tốt hay không là phải cùng nhau xây dựng, phải giành giật, phải đấu tranh, trong khi đó như anh thấy những người tốt bụng như chúng ta lại quá mềm yếu. Đến một lúc nào đó, khi các con anh dần lớn lên và bắt đầu gia nhập vào xã hội, anh có bao giờ có cảm giác có lỗi với lớp trẻ là đã không tạo ra được một cái nền móng vững chắc cho cái sự tốt đẹp đấy phát triển?

- Có, tôi có lỗi với lớp trẻ. Thế nhưng trước nó tất cả đều tuân theo mệnh lệnh, nghĩa là chế độ nếu gọi là chế độ trại lính cũng được, vì nó rất cần một trại lính để toàn dân một lòng đánh giặc đã. Thế nhưng cái sai lầm nhất là đánh giặc xong rồi mà quá chậm thay đổi.

Đáng nhẽ ra, một chế độ với thói quen của lính, tất cả là mệnh lệnh, không mệnh lệnh thì anh chết, bây giờ cần 10 tấn gạo mà không mệnh lệnh không bắt nó phải đem ra thì lính chết đói, nhưng sau chiến tranh anh phải thay đổi, cái xã hội của tất cả mọi người cùng xây dựng, cùng bình đẳng như nhau, cùng thương yêu nhau và cùng có trí tuệ như nhau, chứ không phải là một ông chỉ huy trên này hét một tiếng, tức thì tất cả ở dưới phải nghe theo.

Thế nhưng bây giờ có một ông chỉ huy nhưng có hàng trăm loại kỹ sư, bao nhiêu ngành để xây dựng, cái xã hội nó phức tạp vô cùng, và quy luật của nó không giống nhau, quy luật của cạnh tranh. Một đằng là cần một tiếng hô, một đằng là cần bàn bạc, cần xem xét một cách khoa học các quy luật khác nhau, mà cái anh chiến tranh ở một đất nước như chúng ta chống giặc ngoại xâm thì chúng ta chống phá được là chúng ta thắng lợi, giặc càn ta phá được càn, xây bốt ta phá được bốt, đi ôtô ta phá đường không cho giặc đi... là thắng lợi.

Thế nhưng bây giờ chuyển sang thời bình, tất cả cho công cuộc xây dựng đất nước, mà anh cứ đem cái quy luật ấy, anh cứ mong muốn cho đúng như cái ý định của mình, đúng như mệnh lệnh trại lính ấy thì lại không phải. Không ai đem tới cho sự thay đổi nếu chúng ta không tự tìm thấy. Dứt bỏ một thói quen bao giờ cũng khó. Cái thói quen thất bại thì dứt bỏ dễ, nhưng thói quen thắng lợi thì khó dứt bỏ để bước sang một thói quen tốt đẹp khác...--PageBreak--

- Đọc sách của anh, mà thông thường các nhân vật là hình bóng của chính nhà văn, cuộc đời của Giang Minh Sài sao nó cơ cực thế, truân chuyên thế, nhưng mặt khác muốn nói gì thì nói, phải công nhận nhà văn Lê Lựu là một trong không nhiều nhà văn rất được Quân đội chăm bẵm, tạo điều kiện hết mức mà chính thể Nhà nước có, để viết văn. Liệu anh giải thích như thế nào về sự cay đắng trong nỗi niềm nhân vật và giữa những phúc lộc của chế độ mà anh đã từng được hưởng, có sự mâu thuẫn gì chăng?           

- Tôi nghĩ là chả có mâu thuẫn gì cả, phải nói thế. Tôi không có Cách mạng, không có Quân đội thì tôi chỉ là thằng chuyên mò cua bắt ốc, không thể nào học lên cấp 2 được. Cấp 2 ngày trước là bắt đầu từ lớp 5, mà lớp 5 cả huyện tôi ngày xưa mới chỉ có vài người ra Hà Nội học, có nhiều người được học đâu. Còn đến thời kỳ giải phóng thì 6 huyện mới có 1 trường cấp 2 ở ngay quê tôi.

Vậy nếu không có giải phóng, thì tôi không học được hết cấp 2. Thế còn sau này nếu không có Quân đội, không có chế độ mở trại viết, dạy dỗ với học sinh trình độ văn hóa chung hết lớp 7, sau này bộ đội ra dạy thêm cho Toán, Lý, Hoá thôi chứ thực ra mới hết lớp 7, tài năng lại không có, đâu được như Trần Đăng Khoa, đâu được như Tô Hoài.

Và ở quê không có điều kiện tiếp xúc, không có điều kiện quan hệ và học hành như thế thì viết cái gì được. Bác Tô Hoài ít nhất còn được ra ngoài phố học lớp này lớp khác, đi tàu ngược xuôi, chứ tôi năm 1955 ra Hà Nội, đi xích lô từ Tía ra Hà Nội đến Cửa Nam rồi còn chưa thấy vào Hà Nội, chưa thấy cái cổng nó đâu, vì 5 cửa ô, có cửa thì phải có cổng, thế chưa thấy cái cổng đâu, tôi hỏi đến Hà Nội chưa...

Trông thấy những cái sứ cách điện ở cột điện thì bảo, đấy là những cái máy nghe điện thoại đấy. Cho nên tôi phải nói ơn Cách mạng, ơn Quân đội, ơn Đảng, ơn Chính phủ, ơn Nhà nước, cả gia đình tôi đều là người Cách mạng đấy. Tại sao tôi tham gia cách mạng được, là bởi vì có ông anh, ông chú tham gia Cách mạng thì mình mới có điều kiện đi học.

Thế nhưng tôi lại ơn Cách mạng giống như con ơn bố mẹ. Cái thằng con được bố mẹ nuôi cho ăn học rồi, thế mà bây giờ, thí dụ có gió nó vào, con nó cài cửa, bố mẹ không cho cài, thế thì bảo nó phản lại bố mẹ à, hoặc là bố mẹ bảo nó đắp chiếu vào, nó bảo nóng lắm nhưng bố mẹ cứ bắt nó đắp, thế là chống lại bố mẹ à.

Nói vui thôi chứ trong thực tế là: nếu cứ để ăn ngủ vui vẻ thì mình quá hạnh phúc rồi, quá đầy đủ rồi. Thế nhưng con người ta luôn luôn có khát vọng, khát vọng với chính mình và khát vọng với đồng nghiệp, với nhân dân mình, quê hương mình, bà con mình, làng xóm mình.

Đời sống đòi đầy đủ cho những người ấy cũng là một khát vọng, thế thì làm sao lại đi nói với bố mẹ là con thì được rồi, nhưng em con, hay người hàng xóm thì không được. Thế mà bảo là chống bố mẹ à? Không hề. Nó không hề có sự mâu thuẫn mà vẫn là ơn bố mẹ, nhưng đối với cái gì mà nó chưa công bằng, chưa đúng đắn, mình vẫn có quyền nói ra chứ.

Tôi phản đối những người cứ ngậm miệng ăn tiền, chả nói gì, nhưng đến lúc có cơ hội là ùa lên, mà chính những người ấy lại đi tiên phong đấy. Lúc nào cũng tiên phong, đến lúc chửi bậy cũng là tiên phong, đến lúc nịnh bợ cũng tiên phong, chỉ có mỗi lúc đánh giặc thì trốn thôi.

Thế cho nên tôi ơn Đảng, ơn Nhà nước, ơn Quân đội bằng cách tôi không hề trốn tránh bất cứ nhiệm vụ gì khi còn trong chiến tranh, đi bất cứ nơi nào đơn vị yêu cầu, chưa hề có nơi ác liệt nào mà tôi không đến. Thế thì mình nghĩ là mình làm tất cả vì nghĩa vụ của một người công dân, chứ còn bây giờ làm một thằng nhà văn mà bản chất thằng nhà văn đã trót theo nghề này rồi không thể ngồi lỳ ra đấy mà ăn sẵn được.

Các cô, các anh phải ngồi nghĩ điều gì đi chứ. Nghĩ điều gì mà tôi nói không vừa tai thì lại bảo là tôi “hằn học”. Nếu về đàn bà mà tôi nói xấu là bởi vì tôi yêu họ quá, nhưng mà tôi không đạt tới cái đó thì mình mới tức tối mình nói họ không ra gì. Có người mình mong muốn thế này mà không thể được thì mình hằn học, tức tối chứ, phẫn nộ với sự không vươn tới khát vọng của mình.

- Nhưng lắm khi cái vất vả, khó khăn, thậm chí cả tai ương và sự đeo đẳng, những cái ấy nó lại xảy ra đôi khi có lỗi do chính cái sự quy định nằm ngay trong tính cách của chúng ta, trong cách ứng xử của chúng ta. Những tai họa, khó khăn mình gặp trong đời đôi khi được quy định bởi sự thiên phú trong tính cách của mình, anh có nghĩ thế không?

- Đúng đấy. Tức là tính cách của con người ta quy định hạnh phúc hay bi kịch của chính họ. Cái tính cách ấy nó định ra, vào người kia không việc gì, vào người này là tai họa, cho nên có người hay xúc động khi thấy một đứa nó lăn ra đường, thế là anh lao ra cứu, nhưng hoá ra là gặp đứa nó lừa... Cho nên rất nhiều tai họa là do tính cách con người...

- Thế với kinh nghiệm của anh đối với phụ nữ, người ta bảo rằng, sở dĩ anh nhìn nhận được (đúng hẳn hoi) rất nhiều nét tiêu cực của phụ nữ là bởi anh không gặp may lắm trong đời sống với những người phụ nữ, có đúng như vậy không?

- Tôi cũng đúng, mà người ta cũng đúng. Bởi vì những người phụ nữ mà mình đã yêu thì người ấy cũng khá. Thường thì mình không đạt được nguyện vọng của mình, cũng do mình không đứng đắn nó mới sinh ra thế, chứ người ta có vợ con rồi thì vui vẻ thôi.

- Thật ra những điểm yếu của phụ nữ phần lớn đều do đàn ông chúng ta tạo ra, buộc họ phải bộc lộ những điểm yếu ấy?

- Người này tạo ra để cho họ xấu xa với người kia, cũng là đám đàn ông với nhau. Nếu không có anh đàn ông nào tác động thì nó chung thuỷ với chồng con. Và nếu không có người đàn bà tác động thì mình cũng chung thuỷ với vợ con, chẳng qua là hai bên tác động lẫn nhau. (Cười).

- Hôm nay anh lại bác bỏ một lần nữa những lời buộc tội rằng Lê Lựu thù hằn với phụ nữ. Thực ra là anh rất yêu phụ nữ?

- Đúng rồi, rất yêu, rất kính trọng, rất quý mến và đầy những khát vọng được tới gần. Kính trọng là cũng có cả sợ đấy (Cười).

- Vài năm trước tôi tới đây, thấy trụ sở của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân rất nhộn nhịp và đông đúc...

- Lúc đó có tới 50 người làm việc...

- Sao bây giờ lại vắng vẻ thế này?

- Thì thế...

- Anh có công nhận rằng, xây dựng văn hóa cho doanh nhân là một sự nghiệp cực kỳ khó khăn không?

- Khó khăn lắm! (Cười)

H.T.Q.

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.