Nhà thơ Vũ Duy Thông: Chối từ nỗi cô đơn

Tôi muốn viết về một khoảnh khắc khác trong con người bề ngoài tưởng như chỉn chu nghiêm ngắn của nhà thơ Vũ Duy Thông. Con người mà nhìn vào một bản lý lịch với rất nhiều những chức danh khác nhau khiến tôi băn khoăn tự hỏi, không biết nên gọi ông là ai. Nhưng những băn khoăn của tôi đã được hóa giải trong cuộc trò chuyện với ông, khi tôi lạc bước vào thế giới thơ Vũ Duy Thông.

Có lẽ đó mới là con người ông một cách trọn vẹn nhất. Một con người mà tưởng như những bộn bề của cuộc sống, tưởng như những bon chen danh lợi chốn quan trường, đã không chạm được vào thế giới đó. Và trong nỗi cô đơn bị bủa vây, Vũ Duy Thông đã có lần thốt lên rằng, tôi muốn chối từ nỗi cô đơn, bởi hơn ai hết nhà thơ khát khao sự sẻ chia. Đó cũng là một cách, Vũ Duy Thông thú nhận nỗi cô đơn tuyệt đối của  mình.

Thế mới biết, trong sâu thẳm tâm hồn con người, không có ranh giới giữa một vị quan chức hay một thường dân. Hay nói cách khác, thơ ca đã xóa nhòa cái ranh giới đó trong chính con người ông. Vũ Duy Thông vẫn luôn tâm niệm, đến một lúc nào đó người ta sẽ nhớ một nhà thơ hơn là một nhà chính trị.

Đó cũng là cách Vũ Duy Thông đến và ở lại trong thế giới mênh mông của cõi người. Tôi và rất nhiều thế hệ lớn lên từng đọc thơ Vũ Duy Thông từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, những bài thơ trong sáng, ngộ nghĩnh của ông được đưa vào sách giáo khoa, những “Bè xuôi Sông La”, "Bé là phi công", và chúng tôi đã lớn lên cùng những bài thơ ấy.

  Dù không trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến vĩ đại của đất nước, Vũ Duy Thông lại cầm bút, chiến đấu trên một mặt trận khác, phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam, lăn lộn trên mảnh đất miền Trung những năm khói lửa. "Bè xuôi Sông La" chính là ký ức về những ngày ông gắn bó với mảnh đất Hà Tĩnh kiên cường.

Những bài thơ đầu tiên của ông được đăng trên Báo Văn nghệ và cùng với Thanh Tùng của "Trên đỉnh núi", Nguyễn Khắc Phục của "Khúc hát năm cửa sông", Thi Hoàng của "Tháng năm mùa xuân, tháng năm đất nước" đã được nhà thơ Trinh Đường, trưởng Ban thơ của Báo Văn nghệ đưa lên làm dấu mốc cho một cuộc đổi mới nhằm nâng cao chất lượng của thơ ca hồi đó.

Thành công từ những bài thơ đầu tiên đã khích lệ cảm hứng sáng tạo trong ông. Những câu thơ được nuôi dưỡng từ trong không khí của một gia đình giàu truyền thống về Nho học, cất chưng từ miền quê nghèo ám ảnh, từ những trải nghiệm buồn vui trong cuộc đời. Vũ Duy Thông nói, và cứ thế thơ ca đến trong đời ông cũng như một lẽ tự nhiên.

Trong núi bộn bề những công việc của mình, Vũ Duy Thông dành cho thơ một khoảng riêng. Đó không phải là những lịch trình được xếp đặt sẵn, hay những kế hoạch, những đơn đặt hàng, mà là sự buông trôi tự nhiên của những cảm xúc, những chiêm nghiệm, những suy tưởng về nỗi đời, nỗi người trong cái nhìn nhân văn, nhân bản.

Đây là khoảng thời gian đặc biệt trong năm ông dành cả tâm huyết của mình cho thơ. Cái khoảnh khắc giao mùa giữa năm cũ và năm mới, giữa sự linh diệu của đất trời, khiến tâm hồn thi sĩ đa cảm bị dồn nén của ông bung tỏa những cảm xúc. Vũ Duy Thông đã bước sang bóng xế của cuộc đời, ở tuổi 64, những vinh quang, hay phiền muộn, những va đập của cuộc đời có lẽ không còn chạm tới ông được nữa.

Nhưng đó cũng là lúc, tâm hồn thi sĩ của ông quẫy đạp trước sự nghiệt ngã của thời gian. Thơ Vũ Duy Thông ám ảnh bởi những cảm thức về thời gian, sự vô cùng của vũ trụ, và sự bé nhỏ, mong manh hữu hạn của đời người: Đếm thời gian cát lọt kẽ tay/ Tê tê buồn buồn hy vọng tuyệt vọng/ Thèm sống nhất là phút giã từ cuộc sống/ Phút thấy trời xanh từ đáy giếng/ Phút gặp mình trước cuộc phân ly/ Không cách gì tránh được ra đi/ Xin em đừng khóc/ Chiều nay vẫn còn một người đơn độc/ Đợi nghe làn mây tháng giêng đang muốn nói gì/ hay Tuổi này xin chớ có buồn/ Một đời chớp bể mưa nguồn mấy mươi/ Em xem gió giật sóng dồi/ Mấy cây củi mục rong chơi tưng bừng/ Tuổi này xin chớ lưng lưng/ Xin đau nhè nhẹ xin mừng hơi hơi/ Trái tim đập đến rã rời/ Mang sao được cả một trời nhớ thương/ Tuổi này ngùi ngẫm cuối đường/ Xót chiều nắng lụi, thương sương đầu cành/ Cũng liều bám lấy mong manh/ Kiếp sau đâu chắc chúng mình còn nhau/ Tuổi này thức với đêm sâu/ Nhớ cùng núi thẳm bể sâu nghìn trùng/… Đó là nỗi buồn, sự bất lực của một con người khát khao yêu cuộc sống, muốn níu giữ thời gian, muốn bứt phá khỏi cái quy luật nghiệt ngã của sự sống: Tóc đã bạc, giọng đã trầm/ Chúng ta như bị cây nhổ gần bật rễ/ Hôm nay về lại gốc đa/ đầy ắp không gian lộc biếc líu lo/ Nắng tãi mùa xuân thơ dại/ Cây vẫn từ ngày ấy/ Chỉ ta bóng ngã chiều tà.

Tôi có cảm giác Vũ Duy Thông đang độc hành trên con đường của mình, lặng lẽ nhưng kiên trì. Ông không sợ mình lạc lõng, ông không sợ mình sẽ bị bỏ quên nơi góc trời. Hành trình đó, càng đi càng thấy vắng, càng đi càng hoang vu. Nhưng ông đã dũng cảm bước, với một niềm tin, không có gì là cũ, không có cái mới nào mà không thoát thai từ những cái cũ, chỉ sợ mình không đủ bản lĩnh trong sự biến động để được là mình.

Và với Thơ, Vũ Duy Thông luôn được là mình. Bởi với ông, thơ thật giản dị, trong cái thời buổi những giá trị của thơ ca đang bị đảo lộn, ai cũng có thể làm thơ và ai cũng có thể in những tập thơ cho riêng mình, thì với Vũ Duy Thông, thơ vẫn là một cõi thiêng, mà nếu "không có một tình yêu đau đáu bên lòng, không có một kỹ năng thơ, một tài thơ ẩn náu trong máu, bất chợt gặp một giây phút thăng hoa sẽ không viết được những câu thơ giản dị, hiện đại, tài hoa mà đau buồn đến vậy" (Trịnh Thanh Sơn).

Chúng ta đã cố ngăn quá khứ bằng cả triền đê của sự lãng quên/…Ồn ào và vắng lặng/ Thật đau khổ phải khóc một mình/ Cũng thật hạnh phúc khi còn được khóc. Vũ Duy Thông tâm sự: "Tôi không làm thơ cho số đông, nên không sợ có ít người đọc thơ mình. Có những bài thơ đã làm hàng ngàn người khóc, người cười, nhưng rồi người ta sẽ quên ngay sau đó, bởi anh đại diện cho số đông. Còn với tôi, thơ chỉ cất lên từ trong nỗi cô đơn của chính mình".

 Dù trong hành trình đó, Vũ Duy Thông biết, ông phải chấp nhận đơn độc, và cả những hệ lụy nghiệt ngã của nó. Bạn bè đấy, tri âm đấy, người tình đấy, nhưng tâm hồn ông vẫn là một khối cô đơn tuyệt đối, những nỗi niềm không thể sẻ chia, những buồn vui không có người trút bỏ, Vũ Duy Thông trút cả vào thơ.

 Ai cũng có một miền quê trong ký ức, một miền quê của nỗi nhớ nhức nhối trong tâm hồn người con xa quê. Vẫn là hoàng hôn, cuống rạ, hay cánh cò bay mỏi trong chiều, và tiếng sáo chơi vơi, nhưng sao trong thơ Vũ Duy Thông, nó thân thương đến lạ.

Một miền quê vừa lạ vừa quen, và ta có thể bắt gặp đâu đó trong nỗi nhớ của những người con xa quê, dẫu đã nhuốm màu cuộc sống thị thành, nhưng vẫn thấy nhớ, thấy thương đến quay quắt một góc quê hồn hậu muốn níu giữ lại cho riêng mình. Cánh vạc đồng ướt sương/ Khói lam mất ngủ/ Đầm sen úa nâu năm ngoái/ chúng mình về đi em/ về với mùa đông tải ngoài thềm/ mùa đông lào xào cuống rạ/ Gió mùa thu bay lá/  cành gạo tháng ba thắp lửa qua đêm/ về với sáo diều chơi vơi/ vầng trăng không ai còn nhớ/ Hạt mầm tách vỏ đồng màu/ bếp rơm cơm sôi kể lể/ Bóng ai cầu ao như dáng mẹ/  Ngày xưa mờ ảo tìm ta/  Hay những ký ức rưng rưng: Tháng ba/ cái đói hiện ra/ Trắng răng vàng mắt/ tháng mười/ chân nẻ toác/ máu thấm dõng cày/ đời đời rau lang/ làng tôi/ chết không biết đi đâu/ hồn lặn vào cây cỏ/ Đêm đêm nghe gió cây đa/ Đường đê trắng xóa…

Viết về Vũ Duy Thông, không thể không viết về những bài thơ tình của ông. Ông yêu nhiều, những cuộc tình đi qua đời ông đều để lại những câu thơ run rẩy. Dù cuộc tình có thật hay chỉ là hư ảo, thì vẫn thấy trong thơ Vũ Duy Thông những niềm yêu tha thiết, yêu mà không chạm được tới giới hạn vô cùng của tình yêu, nên mãi mãi tình yêu vẫn là một khát vọng. Có những bài thơ tình của Vũ Duy Thông đã đạt đến đỉnh cao của cảm xúc, nói như nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, "cũ nhưng hay": Anh nhớ em như con đò nhớ bến/ Như cồn hoang nhớ nắng nở hoa vàng/ Con chim trong lồng nhớ khu rừng vắng/ kẻ xa nhà nhớ khói bếp chiều vương/ Nỗi nhớ nhuộm anh như hoàng hôn nhuộm biển/ Khoảng không nhau trống rỗng của ngày dài/ Nỗi nhớ bửa anh thành hai nửa/ Nửa sao hôm và nửa sao mai/ Nỗi nhớ ánh sao vượt qua đêm thẳm/ Nỗi nhớ sợi mưa nối đất với trời/ Cho anh tin là em có thật/ Sao bao nhiêu hư ảo cuộc đời/… Tình yêu cứu rỗi cho tâm hồn thi sĩ bồng bột, đắm say của Vũ Duy Thông, như một thứ men trong đời sống, khi giải thoát ông khỏi nỗi cô đơn, khi lại nhấn chìm ông trong tận cùng của nỗi buồn…

Vũ Duy Thông nói, quỹ thời gian của ông không còn nhiều, và khi càng đi về phía bên kia cuộc đời, ông mới càng thấm thía nỗi cô đơn của một kiếp người, trước những biến thiên của thời cuộc, trước những quy luật của đời sống, rồi cũng rơi vào cõi hư vô: Như thường lệ sẽ rơi vào quên lãng/ Những hư vinh sơn thiếp một thời/ Cả vui buồn, khát khao và tuyệt vọng/ Cũng lá vàng trên mặt sông trôi/ Như thường lệ chú dế vàng tinh nghịch/ Vẫn chén cỏ tươi và gáy gọi mặt trời.

Âu đó cũng là  quy luật bình thường của đời sống. Nhưng với những bản du ca Vũ Duy Thông đang viết, tôi tin sẽ không rơi vào quên lãng...

Hà Nguyễn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.