Nhà thơ Tạm Minh Châu: Có một miền ký ức mãi miên man

Nhắc đến Tạ Minh Châu, là nhắc đến một người đàn ông vẹn tròn với nhiều chức phận. “Minh Châu”- có nghĩa là viên ngọc sáng, xoay hướng nào cũng thấy lấp lánh đủ màu. Nhà thơ, nhà văn, dịch giả, tiến sỹ văn hóa, Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan và Lào…

Thế nhưng, tôi không thích nhớ về Minh Châu như thế. Tôi chỉ muốn nhớ về anh đúng với ấn tượng đầu tiên, đó là một người đàn ông hào hoa. Mái tóc xoăn gợn sóng, chiếc chemise màu kem không vệt nhàu, mùi nước hoa mang phong vị gỗ trầm và thảo mộc. Ngồi nói chuyện với anh, tôi có cảm giác mình đang vô thức bị dẫn dụ vào một rừng phong đang mùa thay lá, cứ từng tầng, từng lớp tính cách đợi chờ được khám phá…

Café Aloha, trưa đầu tuần, đúng giờ nghỉ của dân công sở, tiếng nói cười ồn ã, khói thuốc bay mông lung và hỗn độn. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh một  Minh Châu điềm tĩnh ngồi nơi góc hơi khuất của quán café. Ánh mắt thả lơ đễnh, hai tay nhịp nhịp xuống bàn, ung dung và thong thả. Không hiểu do ánh sáng đèn, hay vì thứ không gian hư ảo khói thuốc, mà tôi thấy quanh anh,  dường như hắt ra một thứ ánh sáng bàng bạc nào đó. Thứ ánh sáng đủ để anh nổi bật lên, không bị lẫn lộn trong đám đông huyên náo. Anh ngồi đó, khá chừng mực và xa cách…

Thế nên tôi bất ngờ khi đột nhiên sau vài câu chào hỏi xã giao, Tạ Minh Châu bất chợt trầm ngâm rồi chép miệng với tôi: “Em ạ, anh tự nhiên thấy thèm món cơm nắm bằng mo cau mà trước bà nội vẫn nắm cho anh ăn quá. Bà anh mất lâu rồi. Cũng chả ai nắm cơm cho anh ăn nữa”. Rồi anh cười hồn hậu. Sự nghiêm cẩn mặc định về một vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền, một con người thuộc về thế giới ngoại giao phút chốc được xóa tan đi. Thì đây, ngồi trước mặt tôi, chỉ đơn thuần là một người đàn ông gần nửa đời người lăn lộn với những chuyến bay dài, đã bắt đầu mỏi bước phiêu du, hoài niệm về một miền xa vắng.

Minh Châu nói: “Anh là một người hoài cổ. Đôi lúc anh tưởng rằng mình cứ như một con thuyền lững lờ trôi về một miền ký ức bồng bềnh xa lắm. Anh đã đặt chân tới hàng trăm đất nước khác nhau, tiếp xúc với đủ nền văn hóa Tây Tàu hiện đại. Cũng không ít lần được nghỉ trong những khách sạn sang trọng bậc nhất,  dùng bữa cùng nhiều vị nguyên thủ quốc tế với những mỹ vị cầu kỳ, tinh tế. Nhưng lúc nào anh cũng thèm quay quắt được quay trở về rúc đầu vào ổ rơm say sưa ngủ như thời thơ bé, hít căng phổi cái mùi khói đốt rạ mỗi khi chiều về, thèm nhâm nhi cái vị ngòn ngọt, chát chát của quả cọ kho - thứ quả mà chỉ ngon nhất khi mọc trên triền đồi Phú Thọ quê anh…”.

Tạ Minh Châu say sưa kể về gia đình có truyền thống làm nghề giáo của anh, từ thời cụ nội, ông nội đến cha và cô ruột anh đều là nhà giáo. Người ta vẫn hay trêu riêng gia đình anh đã đủ mở một ngôi trường. Anh nhớ hồi còn bé, anh vẫn thường được cha cho “bám đuôi” đến lớp. Mỗi khi cha lên lớp giảng bài, thì Minh Châu ngồi lì ở thư viện, hau háu “nuốt” hết không biết bao nhiêu cuốn sách. Cứ thế, cái nòi văn chương ăn sâu vào máu của Minh Châu từ tấm bé. Anh bắt đầu lén viết trên trang vở xé vội những mẩu truyện ngắn nho nhỏ, viết, rồi tự mình đọc, rồi giấu đi.

Những ngày tháng thơ ấu của anh gắn liền với sự thiếu vắng người cha. Thời ấy, làm nghề giáo đâu được phân công về công tác cố định tại một nơi như bây giờ. Cha anh bị phân đến những huyện hẻo lánh, xa xôi khác nhau để giảng dạy. Một  tay mẹ chèo chống nuôi bốn anh em anh ăn học thành người. Hình ảnh mẹ trong anh là dáng đi đổ về trước, dáng đi của người luôn phải lo toan, người nhỏ xíu nhưng lại có sức mạnh phi thường. Mẹ dậy sớm gánh rau đi bán từ 3,4 giờ sáng. Cứ giờ chợ chiều bốn anh em lại nheo nhóc kéo nhau ra cửa ngóng xem mẹ có bán được mớ rau con cá nào không. Có những ngày nhà anh chỉ còn độc có nắm gạo con. Đến bữa, cả nhà chỉ được có bát cơm lưng lửng, nhão nhoét. Khi lũ con ngấu nghiến ăn thì mẹ anh lảng đi, đứng dậy vớ tạm củ sắn luộc nguội ngắt, sót từ sáng, trệu trạo nhai. Mẹ anh luôn có lý do để bỏ bữa, lúc thì ngán cơm, lúc thì nói nhạt miệng không muốn ăn. Anh hồi đó thấy lạ quá chừng, nhưng vì đói nên đứa nào cũng đánh một mạch hết phần của mình. Mãi sau này, lớn lên, anh mới hiểu. Có lần Minh Châu lén giấu sách vào bụng, vừa canh nồi cơm sôi vừa đọc. Nồi cơm cháy khét lẹt khi nào không biết, anh hốt hoảng tìm mọi cách “chữa cháy”  nhưng không được. Bữa đó, nhai những miếng cháy đen, khô nghét. Anh toát mồ hôi lén nhìn mẹ, mẹ anh vẫn cười: “Cháy hôm nay giòn và ngọt…”. Anh thở phào, nhưng mắt cay cay. Mẹ của anh, độ lượng đến nỗi không nỡ thốt ra một lời làm đau anh!

Cái chum đựng gạo trở thành một nỗi ám ảnh của Minh Châu. Đi học xa, mỗi lần được nghỉ về nhà, việc đầu tiên của anh là lẻn xuống bếp, thò tay khoắng xuống cái chum sành, xem còn gạo hay hết. Ngạn ngữ có câu chỉ cần nhìn vào bếp là biết một gia đình có yên ấm, hạnh phúc hay không. Chính vì thế, chỉ cần thấy chum gạo đầy hay vơi, là anh biết ngay mọi người ở nhà sống no đủ hay thiếu thốn. Biết, cũng không giúp đỡ được gì, chỉ biết xót xa, mà nhủ lòng cố gắng thêm…

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly Saynhasone tiếp nhà thơ Tạ Minh Châu (bên phải) hồi còn là Đại sứ Việt Nam tại Lào.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly Saynhasone tiếp nhà thơ Tạ Minh Châu (bên phải) hồi còn là Đại sứ Việt Nam tại Lào.

Châu nói: “Anh già rồi, mà càng về già người ta càng có xu hướng sống với quá khứ. Có những chiều lá buông lơ thơ và nắng gần nhạt màu, anh ngồi thơ thẩn nghĩ miên man về những ngày tháng đã qua. Anh chợt nghĩ cuộc đời anh như một cuốn phim, tua đi tua lại có những chớp hình vô cùng đắt giá”. Có lẽ hạnh phúc nhất đối với anh là quãng thời gian anh học tập và sống ở Ba Lan. Năm 1967, do có thành tích học tập tốt, Tạ Minh Châu được cử đi học tại Trường Đại học Tổng hợp Warsawa (Ba Lan). Trong những ngày tháng học tập ở đây, anh đã mê đắm con người cũng như đất nước Ba Lan. Anh say sưa làm thơ để thỏa nỗi nhớ nhà, anh tiếp cận đến văn học xứ Ba Lan và bắt đầu dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học nước này. Minh Châu bắt đầu xuất hiện ở vài tờ báo dành cho các tác giả nước ngoài. Ngoài niềm đam mê tự nhốt mình và làm thơ như “nhập đồng”, anh còn có sở thích vào mỗi chiều hoàng hôn tản bộ ở công viên trung tâm Warsawa. Công viên rộng thênh thang, với những tán cây xanh um khiến anh trở nên thư thái.  Cứ mỗi chiều thu chủ nhật, dưới tượng đài Chopin, người ta mời những người chơi nhạc của Chopin  điêu luyện nhất chiêu đãi dân tình những bản nhạc đường phố tuyệt đỉnh. Anh mê Chopin điên cuồng. Anh tự tìm thấy bản thể trong âm nhạc. Một bản thể đa cảm và cô đơn…

Một miền ký ức nữa Minh Châu thường xuyên tìm về, đó là quãng thời gian anh còn làm Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan. Có lẽ chẳng có vị Đại sứ nào lại “bình dân” như anh. Để thành lập nên Đội Văn nghệ cho đồng bào Việt xa xứ ở Ba Lan, đã có lúc đích thân vị Đại sứ phải dò hỏi đến những khu chợ xập xệ để tìm kiếm “nhân tài ẩn dật”, rồi  viết thư mời họ đến Đại sứ quán để… tập văn nghệ. Anh quý người tài và tôn sùng nghệ thuật. Minh Châu sẵn sàng hỗ trợ các nghệ sỹ vay tiền của Đại sứ quán để mua nhạc cụ hay thuê trang phục, chẳng chút đắn đo. Rồi có những buổi tập kéo dài đến tối, đích thân Đại sứ bảo nhân viên nấu cháo bồi dưỡng cho anh em. Cuối cùng, đêm diễn đầu tiên của Đội Văn nghệ thành công ngoài mong đợi, được kiều bào hưởng ứng, ủng hộ nhiệt tình, có thêm nguồn kinh phí dồi dào. Minh Châu kể, có một cô gái đến giờ anh vẫn còn nhớ, làm nghề buôn hoa quả ở khu chợ đầu mối  tại Warsawa. Gương mặt đã chớm già dặn, phong sương.

Đến ngày biểu diễn, cô ca sỹ không chuyên đẹp rực rỡ như một nữ hoàng. Mãi sau này, cô mới tâm sự với anh để sắm được hai bộ váy hàng hiệu, cô đã phải thức dậy từ 2 giờ sáng, đứng trong cái rét căm căm dười trời tuyết trắng xóa để bán được nhiều hàng hơn. Cô nhoẻn cười ngây thơ: “Em hát hai bài khác nhau, chẳng lẽ mặc độc có một chiếc váy. Thế thì khán giả sẽ thấy nhàm chán. Mà đã là nghệ sỹ thì phải làm khán giả vui. Em chẳng tiếc đâu, anh à”. Hình ảnh người phụ nữ mảnh mai, đứng co ro trong giá lạnh, dưới chân là thùng hàng khổng lồ đã ám ảnh Minh Châu. Sau này, anh có viết một bài thơ tặng cô gái ấy, có tên Về đi em: “Chiều buông chợ vắng teo người/ Đứng làm chi nữa thêm bơ vơ chiều/ Bán mua được những bao nhiêu/ Thiệt hơn bấm được mấy điều hỡi em (…)/ Về thôi kẻo lỡ chiều buông/ Hình như có kẻ ngược đường đợi em”. Bài thơ sau này được phổ nhạc và khá nổi tiếng trong cộng đồng kiều bào Việt ở Ba Lan. Anh cứ bâng khuâng mãi, không biết rằng cô gái có tâm hồn tuyệt đẹp ấy, mỗi lúc mệt nhoài với cuộc sống mưu sinh… khi thoáng nghe những câu hát, liệu có thấy ấm lòng hơn chút nào không?

Minh Châu là người khiêm nhường, anh nói rất ít về mình. Anh dành những lời có cánh, sự trìu mến thực tâm cho người thân, cho bạn hữu trong làng văn chương, cho Szymborska, nhà thơ thần tượng của anh. Bà là nhà thơ người Ba Lan đoạt giải Nobel được Minh Châu dịch sang tiếng Việt. Khi bị tôi “dồn ép” nói về bản thân, anh ngượng ngùng, rồi rất nhanh đọc một vài câu thơ tự họa: “Đó là tôi/ Một dòng sông chảy đến cạn mình/ Cây bàng trụi trơ cho sân trường sẫm đỏ/ Một khoảng trống hòa tan nghìn ngọn gió/ Chiếc sáo diều lặng chao bóng đêm” (Viết cho ngày sinh của mình - Tạ Minh Châu).

Trước khi tạm biệt, anh bắt tay tôi rất chặt: “Khi nào có dịp anh tặng em hai tập thơ của anh nghen!”. Tưởng rằng, anh nói xã giao cho vui. Vậy mà, hôm sau, khi đang mải miết loay hoay với đủ thứ tin bài, thấy chuông điện thoại reo. Là Tạ Minh Châu, giữa chiều nắng hè đổ lửa, anh đi xe gắn máy mang sách qua tận cổng cơ quan cho tôi. Tôi áy náy nhìn gương mặt anh ửng đỏ vì nắng nóng. Minh Châu cười hiền, thận trọng đặt vào tay tôi hai tập thơ mỏng, sạch tinh không một hạt bụi: “Anh hứa rồi, nên anh mang qua tặng em”. Thế rồi, trước sự ngỡ ngàng của tôi, anh phóng xe đi.

Vẫn cái dáng ấy. Phiêu diêu và thong thả. Tôi đồ rằng, trước những bon chen đến điên loạn của cuộc sống, anh vẫn ung dung sống trong một thế giới rất “Minh Châu”. Thế giới mà đầy ắp những ký ức vụn, những chuyện kể không bao giờ hết. Nơi chốn để con người thơ trong anh mặc sức thả hồn sáng tạo, chiêm nghiệm, hoài niệm. Một thế giới an yên…

Huyền Vũ

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.