Nhà thơ Phạm Huy Thông (1916-1988): "Tiếng địch sông Ô" còn vang mãi

Ở Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông, có nhiều con người được hội tụ trong một con người. Có thể nhắc đến ông với tư cách là một nhà thơ, nhà sử học, nhà bác học, nhà yêu nước và hoạt động xã hội. Ở lĩnh vực nào, Phạm Huy Thông cũng có những đóng góp quan trọng, với vai trò của một người luôn luôn đi những bước tìm tòi khai mở trong buổi đầu.

Rời đất nước, đi du học ở Pháp ngay từ những năm còn rất trẻ và nhanh chóng đạt được nhiều bằng cấp cao (tiến sĩ Luật, thạc sĩ Sử học) nhưng người trí thức trẻ Phạm Huy Thông vẫn nặng lòng gắn bó với quê hương xứ sở. Khi đất nước cần, ông sẵn sàng từ bỏ mọi giàu sang, danh vọng, chức tước... đầy hứa hẹn nơi xứ người để trở về Tổ quốc làm những công việc thầm lặng của một nhà khoa học.

Phạm Huy Thông sinh ngày 22/11/1916, quê gốc ở làng Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Quê hương ông là vùng đất nổi tiếng với nhiều truyền thuyết dân gian và những chiếu chèo sân đình rộn rã một thời. Chẳng biết từ bao giờ, những lời ca ngợi quê hương Đào Xá đã in vào tâm thức và trở thành niềm tự hào của mỗi người con đi xa:

Đào Xá tên gọi là làng
Làng em nhất xã chia làm ba thôn
Làng em đã nức tiếng đồn
Cả làng làm quạt bán buôn đủ nghề
Nhiều người đi học, đi thi
Người thì đỗ trạng, người thì vinh hoa...

Truyền thống quê hương, truyền thống gia đình đã sớm tạo ra cho Phạm Huy Thông một cái nền căn bản và vững chắc. Năm 17 tuổi ông đỗ tú tài, 20 tuổi đỗ cử nhân luật. Từ năm 1937 đến năm 1945 ông du học ở Pháp. Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ Luật khoa, ông làm tiếp luận án thạc sĩ Sử học và học thêm một số ngoại ngữ như Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, v.v...

Bên cạnh sự nghiệp khoa học ngày càng mở rộng, Phạm Huy Thông còn tham gia hoạt động chính trị theo yêu cầu của đất nước thời kỳ đó. Từ năm 1940 đến 1945, ông tham gia tổ chức ái hữu của Việt kiều tại Pháp. Năm 1946, Hồ Chủ tịch cùng phái đoàn chính phủ ta sang Pháp dự hội nghị Phôngtennơblô Phạm Huy Thông được chọn làm thư ký riêng  cho Bác và thư ký chung cho Hội nghị.

Việc tiếp xúc với Hồ Chủ tịch đã nâng sự hiểu biết và nhận thức của nhà khoa học Phạm Huy Thông lên một tầm cao mới. Sau khi Bác về nước, ông vẫn được tiếp tục giao trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ khác, rồi sau đó ít lâu mới trở về Tổ quốc.

Ba mươi tuổi, Phạm Huy Thông đã được nhận học hàm Giáo sư. Hơn 40 năm hoạt động, Giáo sư Phạm Huy Thông đã giữ nhiều trọng trách như: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam); Viện trưởng Viện Khảo cổ học; Quyền Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Chủ tịch Hội Du lịch Hà Nội, đại biểu Quốc hội khoá II, khoá III. Không chỉ tham gia hoạt động và có uy tín trong nhiều lĩnh vực thuộc khoa học xã hội ở Việt Nam , Giáo sư Phạm Huy Thông còn là người được bạn bè quốc tế quý trọng. Ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Cộng hoà dân chủ Đức, là sáng lập viên của tổ chức quốc tế về Giáo dục và là uỷ viên Hội đồng hoà bình thế giới trong nhiều năm.

Khi tiếp xúc với Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông, người ta dễ bị cuốn hút bởi trí tuệ uyên bác và vẻ lịch lãm của một trí thức. Có lẽ những yếu tố đó đã giúp ông gánh vác được nhiều nhiệm vụ khoa học, hoàn thành được nhiều trọng trách trong một cuộc đời không phải là dài.

Năng lực khoa học của ông còn được bộc lộ ở nhiều nơi, từ những công trình nghiên cứu có tầm cỡ quốc gia đến những bài viết in trên sách báo và tạp chí, hầu hết đều được giới khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao. Để ghi nhận những đóng góp xứng đáng của Phạm Huy Thông, Nhà nước ta đã trao tặng ông Huân chương Độc lập hạng nhất và nhiều Huân chương cao quý khác.

Năm 2000, ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về một số công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành khoa học xã hội, trong đó có công trình nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương dựng nước - một đề tài mà ông dành khá nhiều tâm huyết.--PageBreak--

Mặc dù là người thành đạt trên nhiều lĩnh vực, nhưng Phạm Huy Thông vẫn không nguôi nhớ đến sự nghiệp thơ - nơi ông đã nổi danh từ rất sớm và có được những thành quả đáng ghi nhận. Trong buổi gặp mặt các nhà thơ sáng tác từ trước Cách mạng, ông đã chân thành tâm sự:

"Làm thơ từ những năm 1932 - 1937, ở tuổi 15-20, tôi mơ màng và đắm đuối những tình cảm lãng mạn. Tôi sớm ngây vì tình, si mê vì tình, đau khổ vì tình, như những nhà thơ khác những năm ấy... Tôi không tiếc đã phải hy sinh, dù là hy sinh thơ để đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tôi tự hào đã có phần cống hiến khoa học vào sự hiểu biết về lịch sử của dân tộc, tiếng thơm của dân tộc. Nhưng tôi không nguôi nhớ thơ, luyến tiếc một sự nghiệp thơ dang dở".

Về căn bản, sự nghiệp thơ của Phạm Huy Thông tập trung chủ yếu trong khoảng sáu năm đầu của tuổi thanh niên. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã cho ra đời bốn tập thơ Yêu đương (1933), Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tần Ngọc (1937), ngoài ra còn in trên báo các tác phẩm khác như: Con voi già (viết về Phan Bội Châu), Hận chiến sỹ, Tần Hồng Châu, Lòng hối hận, Kinh Kha, Huyền Trân công chúa, Tây Thi...

Thời kỳ đó những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên... cũng chỉ mới in được một tập thơ thì việc xuất bản liên tiếp các tập thơ của Phạm Huy Thông cũng là một sự kiện đáng chú ý, chứng tỏ sức sáng tạo dồi dào của một ngòi bút tài năng.

Chỉ tiếc rằng ở lứa tuổi ngoài 20, nhà thơ Huy Thông đã rẽ sang con đường nghiên cứu khoa học. Từ đó trở đi, sự nghiệp của ông là của một nhà giáo dục, nhà khoa học là chủ yếu. Công việc của nhà khoa học về bản chất không có gì mâu thuẫn với sáng tác thơ ca, nhưng khi đã bước chân vào con đường khoa học, muốn thành công thì phải có sự tập trung cao độ. Nghệ thuật và khoa học đều đòi hỏi phải có sự dấn thân. Phải chăng đó cũng là một trong những lý do khiến nhà thơ Huy Thông ngừng sáng tác?

Nhưng những gì đã có, đã làm được trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, cũng đã khiến cho người đời nhớ đến ông với tư cách là một nhà thơ trong buổi đầu Thơ mới - thời kỳ đã tạo nên "một thời đại trong thi ca" tạo nên một dấu ấn quan trọng trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại.

Phạm Huy Thông được đánh giá là một trong những người mở đầu cho sự phát triển của thể loại kịch thơ ở nước ta. Tên tuổi của ông gắn liền với những vở kịch thơ như Anh Nga, Tần Hồng Châu, Kinh Kha... là những vở theo khuynh hướng lãng mạn, trốn tránh hiện thực để đi vào tình yêu và cái đẹp vĩnh cửu, lấy cảm hứng từ các truyền thuyết, các truyện lịch sử, dã sử của Trung Quốc. Đặc biệt hơn cả là bản anh hùng ca Tiếng địch sông Ô với tính cách mạnh mẽ của một nhân vật phi thường được thể hiện qua hình ảnh người anh hùng Hạng Tịch.

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét về đoạn trích này trong tác phẩm của Huy Thông bằng những lời ca ngợi thật là nồng nhiệt: "Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền hành và xinh trai ấy... Hơi văn mà đến thế thực đã đến bực phi thường. Anh hùng ca của Vichto Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái uỷ mị của những linh hồn đương chờ sa ngã, thơ Huy Thông ồ ạt đến như một luồng gió mạnh".

Hồn thơ Phạm Huy Thông, ngay từ buổi đầu của tuổi thanh niên, đã mang tính hoành tráng, bi hùng và dữ dội. Cảm hứng thơ thường bắt nguồn từ những nhân vật có số phận khác thường trong lịch sử. Đây cũng là một nét đáng chú ý trong phong cách sáng tác của thơ Huy Thông. Kịch thơ của Huy Thông là một đóng góp lớn đối với nền nghệ thuật nước nhà. Ông đã sáng tạo nên những câu thơ giàu nhạc điệu và hình ảnh, có sức truyền cảm khá mạnh mẽ.

Sẽ là một thiếu sót nếu như viết về Phạm Huy Thông mà không nói đến vai trò của một dịch giả, người đã chuyển ngữ rất thành công tập Truyện ký Nguyễn Ái Quốc từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Từ những năm 20, Nguyễn Ái Quốc đã là người Việt Nam đầu tiên làm báo, viết truyện theo phong cách hiện đại của phương Tây.

Bản dịch của Phạm Huy Thông đã phản ánh trung thành những ý tưởng sâu sắc và các hình thức thể hiện rất đa dạng trong văn xuôi của Nguyễn Ái Quốc. Dường như lịch sử đã dành sẵn cho ông công việc quan trọng đó. Và nó làm giàu có thêm cuộc đời vốn đã vô cùng phong phú của Giáo sư, Viện sĩ, Nhà thơ Phạm Huy Thông

Lưu Khánh Thơ

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.