Nhà thơ Đoàn Phú Tứ: Đường đời bao nỗi

Sinh thời, ông sống nghèo khổ, thiếu thốn với người vợ hiền và đàn con nheo nhóc, mấy chục năm thuê nhà tại phố Châu Long, Hà Nội. Rồi đến lúc chủ nhà cần tiền phải bán đi, gia đình ông trôi dạt về cuối thành phố, tận bãi cát An Dương, bên sông Hồng, hồi 1984.

Lại vẫn một ngôi nhà nhỏ, xây bằng gạch xỉ, lợp giấy dầu, nơi bùn lầy nước đọng quanh năm. Ông sống trong hoàn cảnh đó cho đến lúc mất. Nhưng những câu chuyện về ông luôn phảng phất đâu đó, ám ảnh, khuất lấp sau cái bóng lầm lũi và bên những chén rượu của một thời huy hoàng và không kém phần cay đắng…

Người cô đơn vào trận

Trước khi đi theo cách mạng hoạt động kháng chiến, năm 1945, nhà thơ Đoàn Phú Tứ, nổi lên như một ngôi sao sáng trên văn đàn thi ca, với bài thơ Màu thời gian. Đồng thời Đoàn Phú Tứ còn là một trong những người mở đầu cho nền sân khấu nước nhà, qua gần 20 vở kịch nói, được ông viết từ khi còn trẻ, trong vòng 10 năm. Đặc biệt vào năm 1937, khi mới 27 tuổi, Đoàn Phú Tứ đã gây tiếng vang lớn qua hai vở kịch Ngã baThằng cuội ngồi gốc cây đa, và đạt tới ngôi vị hàng đầu của đội ngũ kịch tác gia cùng với Thế Lữ, Vũ Đình Long lúc đó. Ông còn cùng với bạn bè lập ra ban kịch Tinh Hoa và còn cho ra đời tờ báo Tinh Hoa, với vai trò là chủ bút, tạo nên một không khí hào hứng sôi nổi cho những hoạt động sân khấu nước nhà vào đầu thập kỷ 40, thế kỷ trước.

Thêm nữa, hình ảnh Đoàn Phú Tứ thêm một lần lừng danh khi là một trong 6 cái tên nổi tiếng như Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh thành lập nhóm Xuân Thu nhã tập vào năm 1942, với những tôn chỉ mục đích về sáng tác văn học nghệ thuật đổi mới. Xuân Thu nhã tập tìm cách tháo gỡ những bế tắc, từ cái “Tôi” quanh quẩn của đội ngũ văn học trẻ lúc đó, hướng tới cái “Ta” gắn kết với cộng đồng và những số phận bên ngoài cần quan tâm.

Bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, in trên báo Ngày nay, số tết 1940, được coi là tiêu biểu cho sự đổi mới về cả hình thức lẫn nội dung, mà Xuân thu nhã tập theo đuổi. Ngay sau đó, bài thơ được nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc và ca khúc được phổ cập nhanh chóng trong giới trí thức học sinh, sinh viên. Thậm chí, ba mươi năm sau, bài thơ vẫn được nhạc sĩ Phạm Duy phổ và nổi tiếng qua các giọng hát Thanh Thúy, Khánh Hà, Ý Lan, Thái Hiền…

Đoàn Phú Tứ, ở tuổi 35, gánh hành trang của mình theo kháng chiến và trở thành đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của chính quyền cách mạng (1946). Ông tham gia với nhiều cương vị: giảng viên Trường Nghệ thuật Liên khu IV, Liên khu V, viết kịch và làm báo ở Thanh Hóa. Năm 1948, Đoàn Phú Tứ được cử về Đại Từ, Thái Nguyên làm Tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam và tham gia Thường vụ Đoàn Sân khấu Việt Nam. Thời gian này, Đoàn Phú Tứ chuyên tâm sáng tác, giảng dạy và đi thực tế lấy vốn sống để viết kịch. Một năm sau, ông cho xuất bản tập kịch Trở về, với nhiều đề tài phong phú phản ánh gương những người chiến sĩ và đồng bào quyết một lòng hy sinh và cống hiến cho cuộc cách mạng trường kỳ gian khổ của dân tộc ta.

Nhưng rồi bất ngờ có một chuyện đã xảy ra với Đoàn Phú Tứ tại Việt Bắc, năm 1950. Ấy là khi ông nhận được giấy mời dự đám cưới của một cán bộ thuộc Cục Quân nhu, mà người chủ hôn lúc đó không ai khác chính là Trần Dụ Châu, Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu. Đoàn Phú Tứ không thể không đi, nhưng trong thâm tâm lại đè nặng những nỗi niềm suy tư ẩn giấu. Bởi lẽ, nhiều điều khuất tất, gian lận và tham nhũng của Trần Dụ Châu, bấy lâu đã thể hiện.

Hắn là một hình ảnh tệ hại của những chiến sĩ ngoài mặt trận, bởi lẽ đến cái màn, cái áo mền trấn thủ của chiến sĩ mà hắn cũng còn bớt xén vật liệu và số lượng để đút tiền vào túi. Nhưng không hề có ai dám lên tiếng tố cáo, đấu tranh. Vậy mà đến đám cưới của thuộc hạ, hắn lại xa xỉ đến bất ngờ. Lợn gà đem giết mổ chất đầy bờ sông Nông Giang. Nhiều bà con nông dân còn nghĩ đến mức, nếu có múc nước sông lên lúc đó nấu canh cũng ngọt, cũng ngon. Cùng với đó, trên bàn tiệc nào là sơn hào, hải vị, rượu tây, thuốc lá ngoại, đều được chuyển từ Hà Nội lên.

Tiệc cưới được bày linh đình dưới ánh sáng của hàng trăm ngọn nến, cùng với ban nhạc sống diễn ra tại một ngôi đình lớn ở Phú Bình, Thái Nguyên. Mọi sự ồn ào, khuếch trương, lãng phí làm cho tâm trạng Đoàn Phú Tứ mỗi lúc thêm một nặng nề, khắc khoải. Không ngờ lúc đó, Trần Dụ Châu oai phong tỏ rõ quyền uy, lên tiếng yêu cầu Đoàn Phú Tứ sáng tác bài thơ ca ngợi đám cưới, để làm vui lòng cô dâu, chú rể và mọi người. Đoàn Phú Tứ như chết lặng, một lúc sau bất ngờ đứng dậy, nói mình sẽ đọc một câu thơ mới chợt nghĩ ra. Mọi người im lặng. Đoàn Phú Tứ nghẹn lòng và đọc to từng chữ một: “Bữa tiệc chúng ta sắp chén đẫy hôm nay/ được dọn bằng xương máu của chiến sĩ”.

Trần Dụ Châu quát lên, cho rằng nhà thơ láo xược, và tên cận vệ xông tới tát Đoàn Phú Tứ. Nhà thơ ngay lập tức bỏ tiệc cưới ra về. Đêm hôm đó, Đoàn Phú Tứ viết một bức thư gửi lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, với chức danh đại biểu Quốc hội cùng những lời tố cáo đanh thép, cộng thêm những dẫn chứng và dư luận xấu về Trần Dụ Châu. Với tính cách mạnh mẽ thẳng thắn, nhà thơ đã dũng cảm tố cáo tệ nạn tham nhũng đang diễn ra ngay trong hàng ngũ cán bộ cách mạng, làm tiền đề cho một vụ án hình sự đầu tiên trong chính phủ ta ngay tại chiến khu Việt Bắc.

Với tội danh tham nhũng chất đầy, qua những điều tra cụ thể và những chứng cứ không thể chối cãi, Đại tá Trần Dụ Châu đã bị lãnh án tử hình, cùng đồng bọn phải nhận các án tù thỏa đáng. Nhà thơ Đoàn Phú Tứ nổi danh là một chiến sĩ dũng cảm trên mặt trận chống tham nhũng. Nhưng thật trớ trêu thay, với những tâm trạng ngày càng nặng nề làm lung lay trái tim thi sĩ đa cảm. Có thể vì sự mệt mỏi hay cả nghĩ về câu chuyện mình đã làm nên bản án tử hình có một không hai vừa qua? Hoặc rất có thể sau những đoạn đường đầy hoan lộ thi ca và sân khấu, nhà thơ muốn có sự vận động chuyển hướng mà không thấy nổi một con đường mới mở ra trước mắt. Phải chăng vì thế mà ông đã bỏ lại sau lưng cái tên Đoàn Phú Tứ lừng lẫy một thời và chấm dứt sáng tác từ đó.

Giải thưởng dịch thuật và hai lần được kết nạp Hội Nhà văn

Với tấm bằng học Đại học Luật tuy còn dở dang, nhưng vì tiếng tăm văn chương và trình độ tiếng Pháp rất giỏi, nhà thơ Đoàn Phú Tứ vẫn tìm được những công việc thật hợp với mình. Ông đã đi dạy học nhiều nơi trong thành phố và nổi tiếng là một người đẹp trai có duyên ăn nói. Nhưng thời buổi mỗi ngày một khó khăn, năm 1952  ông lấy vợ và sinh đôi ngay hai con trai đầu tiên, nên nhà thơ gần như “múa tay trong bị” vậy. Cái nghèo ập đến, nhất là khi Đoàn Phú Tứ bị mất việc, cả nhà bí bách kiếm ăn lần hồi từng bữa. Cũng may, bà Khiêm vợ ông, còn là công nhân nhà nước, lại chịu khó buôn bán, đan len thêm. Thế là miếng cơm manh áo, ông đành trông cậy vào người vợ tần tảo, chịu thương chịu khó, với nhiều mặc cảm tê tái. 

Rồi một lần tình cờ ông được mời dạy học ở Trường Albert Sarraut, với môn Văn bằng tiếng Pháp và có một hợp đồng dịch đặt sẵn trên bàn. Thế là từ đó, với bút danh Tuấn Đô, ông dịch liên tục một số tác phẩm văn học và kịch tác gia nước ngoài, như Môlie, Sếchxpia, Ipxen, Đơ Muyxê… Chính vì tài năng dịch thuật, mà ông được mời là thành viên đầu tiên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957.

Sau này thôi dạy học vì trường của người Pháp không còn nữa, ông toàn tâm toàn ý cho công việc dịch thuật suốt 20 năm trời. Với tài năng văn chương Việt bẩm sinh, nhà thơ Đoàn Phú Tứ có những bản dịch thật sự xuất sắc, vang danh một thời như: Đỏ và Đen của Stăngđan (NXBVH-1971) và Păngtagruyen của Rabơle (NXBVH-1981). Hàng chục cuốn sách dịch được đến tay độc giả, cái tên Tuấn Đô nổi lên như một thương hiệu của Nhà Xuất bản Văn Học. Nhiều bạn đọc chờ đón sách dịch của ông, nhiều nhà văn cũng tìm đến những bản dịch của ông để tích lũy ngôn ngữ, bởi lẽ văn của ông không những chính xác mà còn đẹp về văn phong và đa dạng về tu từ. Sự đóng góp của ông đối văn học nước nhà quả là đáng kể. Chính vì lẽ đó, năm 1983, ông đã được Hội Nhà văn Việt Nam tặng Giải thưởng Văn học dịch.

Nhưng có chuyện vui sau đó hai năm, khi Hội Nhà văn tổ chức kết nạp ông, với danh nghĩa hội viên dự bị (năm 1985 vẫn còn thủ tục này), không biết rằng chính Đoàn Phú Tứ đã là hội viên sáng lập Hội từ năm 1957.  Nhà thơ cũng chẳng hề có ý kiến gì, hay có thể ông cũng quên, vì đã 75 tuổi. Vậy mà, tới hai năm sau đó, Hội mới công nhận ông là hội viên chính thức (1987). Thủ tục kết nạp được chưa được bao lâu, thì năm 1989, nhà thơ Đoàn Phú Tứ, kiêm dịch giả Tuấn Đô ra đi. Khi đến viếng và đưa tiễn ông tại gia ở bãi An Dương, mọi người mới phát hiện ra điều này. Ai cũng thấy chuyện ông “bị” kết nạp lại mà ngậm ngùi bao nỗi.

Mãi đến năm 1992, Hội Nhà văn làm cuốn Kỷ yếu các nhà văn Việt Nam hiện đại, mới ghi ông vào danh sách hội viên sáng lập Hội từ năm 1957. Vậy quả là Màu thời gian vẫn đẹp qua bao lận đận, bởi trong tâm hồn Đoàn Phú Tứ, cho dù: “Duyên trăm năm đứt đoạn/ Tình một thuở còn hương/ Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát” (Màu thời gian)

Vương Tâm

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.