Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha: “Họ đã ra đi, khép lại từng cánh cửa và vĩnh viễn mang theo chìa khóa…”

Từ tháng 5 năm ngoái đến trước tháng 5 năm nay, âm nhạc Việt Nam liên tiếp chứng kiến sự ra đi của nhiều nhạc sĩ tên tuổi. Họ có thể là những tác giả gạo cội, đã ở vào thời tuổi cao sức yếu như giáo sư, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Trần Văn Khê đến những người còn khá trẻ, còn dạt dào sức sống và ước mơ như Trần Lập.

Họ có thể là những tác giả lớn của nền âm nhạc cách mạng như Phan Huỳnh Điểu hoặc những người mà mỗi một tác phẩm giống như một cuộc tình trú ngụ trong cái góc nhỏ sâu kín nhất của trái tim chúng ta như Nguyễn Ánh 9. Mỗi chúng ta, bằng một "cái tai âm nhạc" của riêng mình chắc chắn đều có những cảm xúc riêng, những da diết buồn, da diết nhớ theo một cách riêng trước những sự ra đi ấy.

Và đấy cũng là chủ đề của cuộc đối thoại giữa phóng viên Chuyên đề ANTG GT - CT với nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha, trong một ngày Hà Nội trở gió - ngày mà khi nói về những nhạc sĩ đã ra đi, về những di sản lớn lao mà họ để lại, chúng tôi đều thấy trái tim mình nhói buốt...

Mỗi người một nét, mỗi người một ngai

- Nhà báo Phan Đăng: Thưa ông Nguyễn Thụy Kha, cảm xúc chung của ông trước những sự ra đi vừa kể như thế nào ạ?

- Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha: Trước hết tôi muốn nói rằng, có những sự ra đi đã được báo chí, dư luận đề cập nhiều, nhưng cũng có những sự ra đi không nhiều người chú ý, chẳng hạn như sự ra đi trong lặng lẽ của nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích. Chắc bạn vẫn nhớ, Hàn Ngọc Bích đã đóng đinh tên tuổi mình vào âm nhạc thiếu nhi Việt Nam với bài hát Đưa cơm cho mẹ đi cày...

- Có! Tôi có nghe bài này trong chương trình "Giai điệu tự hào" trên VTV. Tôi còn nhớ, hai mẹ con ca sĩ Mỹ Linh đã hát bài này cực kỳ cảm động.

- Cũng may là "Giai điệu tự hào" của VTV còn kịp nhắc đến bài hát này, đến nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích trước khi ông nằm xuống.

- Và chúng ta vẫn sẽ nhớ tới ông mỗi khi chúng ta dạy cho con cháu mình những câu mà rất nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam đã hát: "Mặt trời soi rực rỡ/ Gió đùa tóc em bay/ Giỏ cơm trên tay/ Em đi đưa cơm cho mẹ em đi cày...".

- Đúng thế!

- Vậy với một nhạc sĩ nổi tiếng hơn, như Phan Huỳnh Điểu thì sao ạ? Những ấn tượng mà tác giả của "Những ánh sao đêm" để lại trong ông là gì?

- Nếu trong văn học có một Tô Hoài là người chạy marathon cán đích, nghĩa là người viết hay đến tận cuối cùng, tận khi nhắm mắt, thì trong âm nhạc, Phan Huỳnh Điểu cũng là một người chạy marathon như thế. Có thể nói ông là một cái tên tiêu biểu cho dòng nhạc trữ tình cách mạng. Ngay cả khi ông viết hành khúc như Hành khúc ngày và đêm, Cuộc đời vẫn đẹp sao... thì ở đó vẫn toát lên chất trữ tình, chứ không lên gân chút nào.

- Tất cả những sáng tác của ông đều rất rõ chất trữ tình, mượt mà, không lên gân ấy?

- À không, ông từng viết bài Ra tiền tuyến vào năm 1965, khi thấy giặc Mỹ tràn vào quê hương Đà Nẵng mình, và trong lòng ông sôi sục một sự căm thù to lớn. Riêng bài ấy, chỉ riêng bài ấy thôi không toát lên chất trữ tình. Chúng ta phải nói thêm, sự lớn lao của Phan Huỳnh Điểu còn được thể hiện ở chỗ những tác phẩm của ông đã đưa rất nhiều giọng hát lên đỉnh cao, chẳng hạn như Lê Dung với Anh ở đầu sông, em cuối sông (thơ Hoài Vũ), Ngọc Tân với Thuyền và biển (thơ Xuân Quỳnh). Tôi nghĩ rằng Phan Huỳnh Điểu đã đi trọn vẹn con đường âm nhạc cách mạng, và cuối cùng cũng ra đi rất thanh thản khi di chúc cho gia đình thả tro cốt của mình xuống dòng sông Hàn quê hương.

- Tôi nhớ là chỉ ít ngày sau  sự ra đi của Phan Huỳnh Điểu, có sự ra đi của một nhạc sĩ họ Phan khác, đó là Phan Nhân, tác giả của "Hà Nội, niềm tin và hy vọng"...

- Nếu có những nhạc sĩ miền Bắc vào Nam thì Phan Nhân lại là một người từ Nam ra Bắc. Thật thú vị khi nhạc sĩ người An Giang này đã sống ở Hà Nội và để lại cho Hà Nội một tuyệt phẩm như anh vừa nói.

- Tôi nghe kể trong cái đêm đau thương mà hào hùng của Hà Nội năm 1972, nhạc sĩ Phan Nhân đã lên nóc Đài Tiếng nói Việt Nam, trực tiếp xem Hà Nội đánh B52 Mỹ rồi viết một mạch tuyệt phẩm ấy. Viết rất nhanh. Có thể nói, những tác phẩm đi ra từ máu lửa của cuộc chiến như thế bây giờ nghe lại vẫn không tránh khỏi cảm giác rùng mình. Còn thời điểm đó thì sao ạ? Tôi tò mò muốn biết thời điểm đó thế hệ của ông đã đón nhận những giai điệu chiến đấu - những giai điệu về một Hà Nội anh hùng trong tâm thế nào?

- À, lúc đó tôi và các đồng đội đang ở Trường Sơn. Thời điểm đó Trường Sơn im tiếng súng, vì đối phương dồn mọi điểm nóng vào bầu trời Hà Nội. Và giữa rừng Trường Sơn, nghe qua Đài tiếng nói  Việt Nam câu: "Sáng soi bóng đêm Trường Sơn/ Lắng trong nước sông Cửu Long/ Nhẹ nâng bước chân hành quân..." thì chúng tôi đã ôm nhau khóc vì cảm động. Lúc ấy nói chính xác là tự hào và cảm động. 

- Chiến tranh là điều không ai mong muốn, nhưng từ trong lòng cuộc chiến rất nhiều bài hát đã trở nên bất hủ. Còn bây giờ, công việc của các nhạc sĩ trẻ có phần khó khăn hơn, vì bây giờ thật khó tìm một dòng cảm hứng lớn - một dòng cảm hứng chung mà cả dân tộc đổ dồn vào đó như trong thời chiến. Nghĩ như thế, liệu có đúng không thưa ông? 

- Tôi nghĩ là không đúng. Chẳng hạn như chúng ta nghe những bài hát của The Beatles, chúng ta vẫn thấy âm hưởng của chiến tranh đấy chứ. Ở đó, vẫn đầy những u hoài, chán nản về cuộc chiến tranh thế giới đã diễn ra trước thời đại của họ hàng chục năm. Theo tôi, mỗi một thế hệ cần chiêm nghiệm và sáng tác về cuộc chiến theo cách của mình. Mà đôi khi chính cái khoảng cách đủ dài, đủ lớn của thời gian lại khiến người ta có những chiêm nghiệm chính xác hơn.

- Vấn đề là những nhạc sĩ bây giờ có đủ tài năng và sự hiểu biết để chiêm nghiệm sâu sắc hay không?

- Đúng!

- Nhưng cũng không thể phủ nhận cuộc sống mới với rất nhiều những mối quan tâm mới, những ảnh hưởng mới từ bên ngoài khiến những thế hệ nhạc sĩ trẻ nói riêng và người trẻ nói chung bị cuốn theo. Và dù không muốn vẫn phải thừa nhận rằng với một bộ phận sáng tác trẻ nào đó, buộc họ phải nghĩ, phải viết về những điều cũ là một đòi hỏi khó khăn?

- Đúng là bây giờ những người sáng tác mới dễ bị cuốn sang một dòng chảy mới, trong khi dòng chảy cũ có vàng mà không biết, hoặc biết nhưng không khai thác được. Chỗ này thì tôi đồng ý với bạn rằng cuộc sống mới có nhiều thay đổi, trong đó có những thay đổi tốt, có những thay đổi chưa tốt. Nhưng khi bàn về một điều rất cụ thể, một điều tạo cảm hứng sáng tác rất lớn như tình yêu chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy cách yêu của bây giờ và thời trước cũng rất khác nhau.

- Ông có thể ví dụ?

- Ví dụ nhà thơ Thanh Tùng từng có một tình yêu tuyệt đẹp, thuần cảm xúc và lý tưởng, chứ không bị vướng một chút nhục dục nào. Thời đó, khi người yêu của Thanh Tùng đi công tác ở Tiên Lãng, thì chiều thứ bảy, Thanh Tùng chạy từ thành phố Hải Phòng xuống huyện Tiên Lãng, khoảng năm chục cây số để tìm gặp. Nhưng tới đây lại nghe nói người yêu sang Vĩnh Bảo, ông ấy lại chạy tiếp sang Vĩnh Bảo, mất 20 cây số nữa. Đến Vĩnh Bảo lại nghe tin người yêu đã về Hải Phòng tìm mình, thế là ông ấy lại tiếp tục chạy từ Vĩnh Bảo về Hải Phòng. Vì tình yêu lớn như thế nên ông ấy viết bài thơ Thời hoa đỏ với những câu ai cũng nhớ: "Anh mải mê về một thời mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ...".

- Nhưng bây giờ ngay cả khi tình yêu có nhuốm màu nhục dục thì nó cũng có gì sai trái đâu nhỉ? 

- Thực ra tình yêu phải là sự giao hoà đỉnh cao của cả cảm xúc và nhục dục. Nhưng lớp trẻ bây giờ hình như lại nhấn quá nhiều tới cái thứ hai, thậm chí có nhiều bạn trẻ tôi biết trong quan niệm của họ tình yêu đơn giản chỉ là những giấc ngủ. Và như thế dễ đánh mất nhiều cái thiêng liêng trong tâm hồn mình.

- Giờ thì chúng ta lại quay trở về với âm nhạc, thưa ông, có những sự ra đi của những nhạc sĩ nào mà tôi chưa kịp nhắc đến không ạ?

- An Thuyên! Đấy cũng là một sự ra đi đầy tiếc nuối, bởi An Thuyên đã khép lại một kiểu sáng tác của mình, rất đẹp, rất thuần khiết, nhưng là một kiểu sáng tác cũ và đang trăn trở tìm một lối đi mới -  và đó là cái mới vẫn trong dòng chảy có vàng như tôi đề cập ở trên, nhưng đúng lúc An Thuyên trăn trở nhất thì lại ra đi. Và cũng trong quãng thời gian ấy còn một sự ra đi của một người có tầm vóc lớn lao nhưng chúng ta không mấy chú ý nữa, đó là Nguyễn Thiên Đạo.

- Nguyễn Thiên Đạo?

- Nhiều người yêu nhạc Việt Nam không biết tới ông, nhưng có thể nói ông là người đặc công Việt Nam đột nhập vào toà lâu đài của âm nhạc giao hưởng thế giới. Ông là người chứng minh cho thế giới biết rằng người Việt Nam biết viết giao hưởng. Ông đã dạy và bổ túc cho rất nhiều người như Giáng Son, Vũ Nhật Tân... Và ông mất vào đúng ngày 20-11-2015, khiến những học trò ruột của ông cực kỳ thương tiếc.

- Còn với trường hợp của nhạc sĩ Thanh Tùng, tác giả của "Một mình"  thì sao ạ? Ông là người viết điếu văn cho Thanh Tùng thì phải?

 - Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, khi chúng ta vừa mở cửa thì một làn sóng nhạc hải ngoại ùa về. Những nhạc sĩ Việt Nam lúc đó đứng trước câu hỏi: Phải làm thế nào để sáng tác của mình tìm được chỗ đứng bên cạnh dòng âm nhạc này? Kết quả là ngoài Bắc có những người như Trần Tiến, Phó Đức Phương, Dương Thụ, và trong kia có Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Thanh Tùng... viết hàng loạt tác phẩm độc đáo, tạo ra chỗ đứng riêng. Trong số ấy, Thanh Tùng là một cái tên xuất sắc. Ông ấy viết những bài rất hay như Lối cũ ta về, và sau này khi viết Một mình như bạn vừa nhắc đến thì phải gọi là tuyệt phẩm.

- Tuyệt phẩm?

- Nếu những bài trước đó, Thanh Tùng thường vào thẳng cảm xúc thì riêng bài này lại có một đoạn mở đầu gọi là "miễu": "Gió nhớ gì ngẩn ngơ ngoài hiên/ Mưa nhớ gì thì thầm ngoài hiên...", rồi sau đó mới đi vào cảm xúc. Lối "miễu" ấy  là một đặc trưng của ca trù, chầu văn. Ngoài ra bài này có câu "tan ca bố có đón đưa" nói quá đúng, quá trúng về cuộc sống thời chiến tranh.

- Bây giờ có lẽ phải nhắc tới Trần Lập, ông nhỉ?

- Trước khi nhắc tới Trần Lập, xin đừng quên nhắc tới Lương Minh, một nhạc sĩ trẻ ra đi ngay trong tháng giêng năm 2016. Lương Minh là một nhạc sĩ trẻ học hành tử tế và là một tài năng âm nhạc. Bản giao hưởng tốt nghiệp của Lương Minh đã được giải thưởng các tác giả trẻ châu Á năm 1994. Anh tham gia ban nhạc “Hoa sữa” nổi tiếng. Về làm ở VTV, anh đã góp công rất lớn phát hiện và giới thiệu các tác giả trẻ, trong đó có Trần Lập, Hồ Hoài Anh, Lưu Thiên Hương, Nguyễn Đức Cường, Đỗ Bảo...

Còn với trường hợp Trần Lập ta thấy Trần Lập được ông trời mách bảo cái bí mật nối kết với đám đông. Ban nhạc của Trần Lập chọn tên gọi vốn là một bài hát nổi tiếng của Pink Floyd, bản The wall - bức tường được vang lên tại chỗ bức tường Berlin sụp đổ, tôi nghĩ bản thân cái tên ấy, sự lựa chọn ấy là sự mách bảo quan trọng. Sau đó thì cách anh ấy sáng tác, biểu diễn, thu hút giới trẻ về phía mình - tất cả đều giống một sự mách bảo kỳ diệu. Tôi đã từng nghĩ nếu để sân nhạc Trần Tiến cạnh sân nhạc Trần Lập, sân nhạc Trần Lập sẽ hút khán giả, hút giới trẻ hơn. Và đấy là một yếu tố trời cho, không phải ban nhạc nào, nhạc sĩ - ca sĩ nào cũng may mắn có được.

- Nhưng trời lại lấy Trần Lập đi sớm quá?

- Tôi không muốn nhìn như thế. Tôi muốn tin rằng trời đã cho Trần Lập bước vào bất tử. Giống trường hợp của John Lennon ở bên Anh ấy, anh ấy cũng ra đi quá đột ngột, nhưng dường như việc  ra đi ở trên đỉnh cao tài năng và sự nghiệp lại là cách để anh ấy bước vào bất tử. Trời đưa anh ấy vào bất tử.

- Gần đây nhất là sự ra đi của Nguyễn Ánh 9. Tôi tin rằng nhiều khán giả phải rất lâu nữa mới có thể nguôi đi nỗi tiếc nhớ Nguyễn Ánh 9 mỗi khi chạm mắt vào một chiếc đàn piano nào đó...

- Nghệ thuật Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi nhiều nền nghệ thuật, nhưng nghệ thuật Pháp ảnh hưởng lâu nhất. Và trong âm nhạc của Nguyễn Ánh 9 chúng ta thấy nét dìu dặt rất rõ của nghệ thuật Pháp. Một tính Pháp đặc trưng, không lẫn đi đâu được. Tôi cũng đồng ý với anh rằng ở ông có một cái duyên, một định mệnh lớn với cây đàn pinano trong các phòng trà.

- Và âm nhạc phòng trà với những bản nhạc tình  như "Cô đơn", "Bơ vơ", "Ai đưa em về" của Nguyễn Ánh 9 đã tạo ra một giá trị độc đáo, không dễ gì lặp lại.

- Rồi sẽ có lúc chúng ta phải nói kỹ về âm nhạc phòng trà. Ở đây, tôi chỉ nói ngắn gọn rằng tất cả những ca sĩ nổi tiếng của thế giới và Việt Nam mà tôi biết, hầu hết đều từ phòng trà bước ra. 

Hai tượng đài bất hủ

- Chúng ta đã nói đến sự ra đi của rất nhiều nhạc sĩ, nhưng nói chuyện với ông - một người nghiên cứu khá kỹ Văn Cao và Phạm Duy, tôi cảm thấy có gì đó thiếu thốn nếu không nhắc lại hai nhạc sĩ đại tài này. Ông có nhớ là hồi Văn Cao, Phạm Duy trút hơi thở cuối cùng rời cõi tạm, suy nghĩ của ông lúc đó như thế nào không?

- Với Văn Cao, trước khi nói tới lần cuối cùng, tôi muốn kể về lần đầu tiên. Năm 1978, khi tôi ra học chuyên tu âm nhạc ở Hà Nội thì phải nói là rất thèm gặp Văn Cao nhưng không dám. Hồi đó tôi 31 tuổi, chỉ dám ra ngồi quán rượu của Hoàng Cầm trên phố Lý Quốc Sư, nhìn các bậc trưởng thượng ấy từ xa.

Sau này, người tôi được tiếp xúc đầu tiên trong nhóm của các ông là ông Đặng Đình Hưng. Năm 1982, tôi được giải thưởng thơ Báo Văn nghệ với bài Những cơn mưa đồng hành, và một hôm Đặng Đình Hưng bảo tôi là Văn Cao muốn gặp tôi. Chỉ nghe đến thế thôi tôi thấy sống lưng mình chạy lạnh buốt. Và tôi nhớ mãi lần đầu gặp Văn Cao do Đặng Đình Hưng tổ chức, đấy là một quán rượu có tên Tiên Điền trên đường Nguyễn Du. Quán tối mờ, bình dân, chỉ bán rượu với mấy bìa đậu. Phải nói, màu hoàng hôn trong cái quán đó sẫm tối như bức tranh Những người ăn khoai của Van Gogh. Khi tôi vào, Văn Cao đứng lên, ôm chầm lấy tôi và nói: "Tao ôm những giọt mưa đồng hành của tao", khiến tôi phát khóc. Bây giờ kể lại tôi cũng muốn khóc luôn.

Trời ơi, tại sao một người lớn lao, tầm cỡ như tác giả Quốc ca lại ứng xử với một kẻ hậu sinh gần gũi, thân thiện như thế? Đấy là cử chỉ, là bản lĩnh lớn mà tôi khắc cốt ghi xương cả đời. Buổi rượu hôm ấy, khi đã ngà ngà say, Văn Cao đã đọc mấy câu thơ bất hủ: "Con thuyền đi qua để lại sóng/ Con tàu đi qua để lại tiếng/ Đoàn người đi qua để lại bóng/ Tôi không đi qua tôi, để lại gì...". Kể từ đó tôi trở thành bạn vong niên của cụ, cùng cụ rong ruổi, lãng du trên mọi nẻo đường đất nước.

- Điều thấm thía nhất ông rút ra từ những cuộc lãng du ấy là gì ạ?

- Văn Cao vô cùng gần gũi mà lại vô cùng cách xa chúng ta. Trong đầu óc Văn Cao luôn có những tư duy, ý tưởng khác chúng ta, vượt chúng ta, và sau này chúng ta phải học hỏi rất nhiều. Ví dụ trong một  chuyến đi vào Quy Nhơn, chúng tôi tiếp cận với một văn minh mới - văn minh Chàm, và khi Văn Cao viết: "Từ trời xanh rơi vài giọt tháp Chàm..." thì tất cả chúng tôi thực sự thán phục, bái phục ông.

- Còn những ngày cuối của Văn Cao?

- Thực ra từ năm 1988, Văn Cao đã bị tràn dịch màng phổi, rất nguy kịch rồi. Nhưng sau đó chữa khỏi, và tiếp tục những năm tháng rất đẹp. Đến năm 1995 thì Văn Cao nhập viện vì ung thư phổi, tôi nhớ mãi lần đó, khi Nguyễn Thiên Đạo - người từng chỉ huy Quốc ca Việt Nam ở Pháp về nước, và chúng tôi vào viện thăm ông. Hôm đó ông còn bảo: "Ở nhà còn chai John đen. Đợi tuần sau tao về uống". Vài hôm sau, sáng ngày 10 - 7 thì con trai Văn Cao gọi điện cho tôi bảo: "Anh ơi, bố em đi rồi". Lúc ấy tôi thấy mình như rơi tự do. Tôi chạy ngay đến bệnh viện thì ông đã được đưa vào nhà lạnh rồi.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha trò chuyện cùng phóng viên Chuyên đề ANTG GT - CT. Ảnh: Phạm Nghĩa.
Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha trò chuyện cùng phóng viên Chuyên đề ANTG GT - CT. Ảnh: Phạm Nghĩa.

- Bây giờ nhìn lại, ông thấy thích nhất bài nào của Văn Cao?

- Mùa xuân đầu tiên! Khi đất nước thống nhất, Văn Cao hoà vào niềm vui của dân tộc, và viết: "Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người". Thực ra có nhiều người viết về khúc khải hoàn ca ấy, nhưng nếu nhìn ở góc độ tư tưởng, tôi thấy tư tưởng của Văn Cao là cao nhất. Tuy nhiên, năm 1976, Văn Cao viết xong bài hát ấy rồi cất vào tủ. Đến năm 1985, khi tỉnh Nghĩa Bình mời Văn Cao, Nguyễn Trọng Tạo và tôi về sáng tác thì chúng tôi bàn nhau in một bản giới thiệu các sáng tác của mình để chào hỏi địa phương. Chúng tôi đề nghị Văn Cao in Quốc ca, nhưng ông bảo: "Mình đã khởi ra cái nhịp cho người lính bước vào cuộc chiến, giờ mình muốn in một bài khép lại cuộc chiến ấy", và ông đưa ra bài Mùa xuân đầu tiên. Nhưng phải đến năm 1988, Nhà xuất bản Trẻ mời tôi làm biên tập cho một tuyển tập nhạc của Văn Cao, thì tôi mới đưa bài này vào tuyển tập. Đấy là lần đầu tiên Mùa xuân đầu tiên được in bằng giấy trắng mực đen. Ba năm sau, hội Việt kiều Pháp đặt tôi làm phim về Văn Cao, tôi mời ông Quốc Đông hát vài lời, minh hoạ cho đoạn phim Văn Cao về quê, và mọi chuyện dừng lại ở đó.

Mãi đến năm 1993, khi Văn Cao 70 tuổi thì trong một chương trình âm nhạc được tổ chức tại sân khấu nhà văn hoá thanh niên Hà Nội, lần đầu tiên bài đó được hát bởi ca sĩ Minh Hoa. Và vài năm sau, đến khi Văn Cao qua đời, thì bài hát này mới đến với công chúng.

Thế đấy, Văn Cao nổi tiếng từ 16 tuổi với Buồn tàn thu, 18 tuổi với Thiên thai nhưng phải sau khi mất đi thì Mùa xuân đầu tiên của ông mới được đông đảo công chúng biết đến.

- Còn với Phạm Duy, bài nào của Phạm Duy ông thích nhất?

- Tình ca, chắc chắn rồi. Chỉ với những câu như: "Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời", Phạm Duy đã vượt lên những người viết cả ngàn bài khác. 

Tôi nhớ là năm 1994, chúng tôi nhận tài trợ của Cocacola, và họ yêu cầu làm một cái gì đó về âm nhạc. Khi đó Dương Thụ, Hồng Đăng và tôi nghĩ ra một chương trình hợp tuyển về âm nhạc Việt Nam, trong đó đưa một số tác phẩm của các nhạc sĩ miền Nam, trong số ấy có bài Về miền Trung của Phạm Duy. Lúc ấy nhạc sĩ Trần Hoàn là Bộ trưởng Bộ Văn hoá đồng ý luôn. Nhưng ở trên chưa đồng ý, vì thế phải gác lại. Tin ấy đến tai Phạm Duy, ông viết thư về cho Hội Nhạc sĩ, và cho cá nhân tôi, chia sẻ nhiều. Sau đó ông cử vợ mình là ca sĩ Thái Hằng về nước, và rất may thời điểm ấy bà Thái Hằng kịp gặp lại Văn Cao, Hoàng Cầm, hai người bạn thân của Phạm Duy. Năm 1998 bà Thái Hằng mất, đầu năm 2000, Phạm Duy chính thức xin về, và tôi cùng con trai của nhà thơ Hoàng Cầm đã lên sân bay Nội Bài đón ông ấy.

- Có bao giờ ông nghe kể về quan hệ giữa Văn Cao với Phạm Duy, hoặc nghe hai ông nhận xét về nhau không ?

- Văn Cao từng bảo với tôi: "Nhạc Phạm Duy phổ biến hơn mình", còn Phạm Duy thì bảo: "Nhạc Văn Cao là trời cho, còn tôi thì tình cho". Trong chuyến về Hà Nội năm 2000 như tôi kể trên, về buổi sáng thì ngay buổi chiều Phạm Duy đến mộ Văn Cao thắp hương cho bạn.

- Như vậy là họ tái ngộ trong cảnh mỗi người đang thuộc về một cõi khác nhau? 

- Khi họ thuộc cùng một cõi, trước năm 1945 ấy, thì thoạt tiên Phạm Duy là thành viên của gánh hát Đức Huy, và khi gánh hát về Hải Phòng thì Phạm Duy gặp Văn Cao, lập tức hát Buồn tàn thu của Văn Cao, rồi thân với nhau từ ấy. Sau năm 1946, khi  Văn Cao cùng với Trần Huy Liệu lên Lào Cai để tạo ra một phòng tuyến tình báo ngăn chặn Tàu Tưởng, thì ông đã mở một quán rượu trên đó, và lại kéo Phạm Duy lên. Chính thời điểm này, Phạm Duy viết Bên cầu biên giới. Rồi họ cùng trở về, Văn Cao viết Trường ca sông Lô, Phạm Duy viết Tiếng hát bên bờ sông Lô.

- Văn Cao mất năm 1995, Phạm Duy mất năm 2013, nghĩa là sau 18 năm thì họ lại hội ngộ ở cõi bên kia...

- Phạm Duy mất năm 2013, khi tôi cũng chỉ vừa rời Sài Gòn chưa đến một tuần. Lần cuối cùng gặp, hai anh em vui vẻ, nói nhiều về quãng thời gian 7 năm sau cùng Phạm Duy về Việt Nam sinh sống. Cùng ngồi với chúng tôi hôm ấy  có một người luôn viết nhật ký Phạm Duy, và ông ấy nhận xét: "Nhạc ông Phạm Duy đại diện cho Việt Nam". Tôi bảo: "Ông nhầm rồi. Phải nói Phạm Duy là một trong những người đại diện cho âm nhạc Việt Nam mới đúng".

- Có nghĩa, một nhạc sĩ dù vĩ đại đến mấy thì cũng chỉ đại diện cho một cánh cửa âm nhạc nào đó. Tất nhiên mỗi cánh cửa có độ to - nhỏ khác nhau, và khi mỗi cánh cửa khép lại, chúng ta lại chờ những cánh cửa mới mở ra?

- Đúng rồi. Những người như Văn Cao, Phạm Duy, rồi gần đây là Phan Huỳnh Điểu, Phan Nhân, Hàn Ngọc Bích, Nguyễn Ánh 9 đã ra đi, đã khép lại một cánh cửa và mang theo chiếc chìa khoá của mình. Nhưng người đi sau không nên nghĩ đến chuyện đánh một chiếc chìa khoá đồng dạng để cố mở lại cánh cửa cũ, mà phải nghĩ tới chuyện cố tạo ra những cánh cửa mới của mình.

- Còn với những cánh cửa âm nhạc đã khép lại, những chiếc chìa khoá được mãi mãi mang đi, ông có thể nói gì về họ?

- Tôi nghĩ, với sự cống hiến của họ, âm nhạc Việt Nam dù chưa ra được thế giới thì cũng đã có cái để thế giới nhìn vào.

- Xin cảm ơn ông!

Phan Đăng (thực hiện)

Các tin khác

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Là một trong 2 sĩ quan đầu tiên đặt chân tới Nam Sudan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) vào năm 2014, cũng là vị chỉ huy trưởng đầu tiên đưa đơn vị công binh sang làm nhiệm vụ tại Abyei năm 2022, Đại tá Mạc Đức Trọng là người từng trải ở châu Phi. Những trải nghiệm đáng nhớ và đáng quý vẫn đang song hành cùng ông trong công việc tại Cục GGHB Việt Nam.

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

Ở tuổi 87, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền vẫn đến cơ quan làm việc mỗi ngày. Chầm chậm từng bước nơi bậc cầu thang, phòng làm việc của ông trên tầng 2 của khu nhà kiến trúc Pháp thuộc Cục Di sản, trên phố Ngô Quyền, Hà Nội. Căn phòng nhỏ, một nửa là những giá để tài liệu cao ngất, một nửa dành cho ông. Trên bàn, quyển sách ông đang đọc dở, trang bản thảo ông đang chấp bút, nét chữ vẫn nghiêm ngắn, rắn rỏi.

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche, nhà vật lý lượng tử người Pháp, từng đồng đoạt Giải Nobel năm 2012. Với ông, khoa học không phải là những phương trình khô khan, mà là một hành trình của đam mê gắn liền với những bất ngờ nối tiếp, của phong cách sống, lòng yêu nước, đạo đức và trách nhiệm.

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Bình thản giữa búa rìu dư luận, dấn thân vào phê bình công khai, Tiến sĩ Hà Thanh Vân là cây bút cá tính mạnh, đôi khi ngược dòng. Nhưng, phía sau là một người phụ nữ nồng nhiệt, yếu mềm, với niềm tin mãnh liệt vào giá trị lõi của nghệ thuật. Trong thời đại số vội vã, chị xem văn chương như kháng thể mong manh mà bền bỉ, chống lại sự lãng quên và nông nổi; đồng thời, đối thoại với ANTG Giữa tháng - Cuối tháng về những vết thương tinh thần của một đời sống văn hóa đang chật vật để không bị cuốn trôi.

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Trong định hướng phát triển thể thao thành tích cao vươn ra đấu trường thế giới, Việt Nam đã có nhiều đơn vị, bộ môn phát triển bài bản từ lâu. Một trong số đó là Boxing, môn võ có hơn 2 thập niên hình thành, phát triển và đào tạo không ít VĐV, HLV xuất sắc, với những điểm sáng nổi bật.

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn sáng tác cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của anh phản ánh những vấn đền nóng bỏng của đời sống đương đại được bạn đọc đón nhận. Gần đây, anh cho ra mắt các tác phẩm về đề tài lịch sử hiện đại và chiến tranh cách mạng. Anh cũng là một nhà báo quan tâm đến lĩnh vực văn học, điện ảnh.

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

Lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là quá trình hiếm có, là hình mẫu trong quan hệ quốc tế về hàn gắn và xây dựng quan hệ sau chiến tranh. Tròn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2025), phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng đã có cuộc trò chuyện cùng ông Phạm Quang Vinh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ (11/2014 - 6/2018).

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Đại tá, GS.TS Trình Quang Phú là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động chính trị - xã hội; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, tác giả của nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Trầm cảm ở tuổi vị thành niên đang là một vấn đề nóng của xã hội hiện nay. Tỷ lệ trẻ trầm cảm ngày càng gia tăng do những áp lực của thi cử, của xã hội và sự mất kết nối với trẻ.

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi đã nhiều lần nghe đoạn băng ghi âm sự kiện lịch sử diễn ra tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào buổi trưa ngày 30/4/1975. Lần nào cũng dâng trào niềm hân hoan non sông liền một dải… Và tôi chợt chiêm nghiệm, trong thời khắc trọng đại đánh dấu đất nước hoàn toàn thống nhất, có 3 người giữ vai trò chủ chốt tại Đài phát thanh Sài Gòn, thì một người miền Bắc là Giáo sư Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, quê Hà Nội), một người miền Trung là Trung tá Bùi Tùng (đại diện quân Giải phóng, quê Đà Nẵng) và một người miền Nam là Đại tướng Dương Văn Minh (Tổng thống chính quyền Sài Gòn; quê Mỹ Tho, Tiền Giang, nay là tỉnh Đồng Tháp). Phải chăng, đó là sự sắp đặt thú vị của dòng chảy lịch sử luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Việt Nam?

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Nhà báo Hồ Quang Lợi là một trong những cây bút bình luận, chính luận và quốc tế sắc sảo của báo chí Việt Nam, đồng thời là một nhà lãnh đạo uy tín trong lĩnh vực báo chí, truyền thông. Ông luôn nhấn mạnh vai trò của đạo đức và nhân văn trong nghề báo, ông cho rằng “phẩm giá con người là điều quý giá nhất”. Ông tin tưởng rằng báo chí phải phục vụ con người và xã hội, đặc biệt trong thời đại công nghệ số hiện nay.

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc nói, chị không sống bằng những hào quang của sân khấu hay điện ảnh. Giờ đây, một buổi sớm mai thức dậy, được ngắm ánh bình minh, với chị, đó là hạnh phúc. Sự nâng niu, trân quý từng thời khắc của cuộc sống ấy khiến người đàn bà tài hoa, mỹ nhân của màn ảnh Việt một thời vẫn không ngừng sáng tạo để viết tiếp bản trường ca cuộc đời, về những ánh hào quang chưa bao giờ tàn trên mặt đất...

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Đã ngoài 80 tuổi nhưng ông Chuck Searcy - Chủ tịch Tổ chức Cựu chiến binh vì hòa bình của Mỹ tại Việt Nam (VFP 160), vẫn dành trọn tâm huyết để hàn gắn những vết thương do chính thế hệ ông từng gây ra trên đất nước mà ông gọi là “ngôi nhà thứ hai”, nơi ông được tha thứ, được chào đón như bạn bè.

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Chúng tôi gặp Đại tá Nguyễn Minh Khương - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an ngay sau khi anh cùng đoàn công tác từ Myanmar trở về. 7 ngày thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn quốc tế đã lùi lại phía sau, nhưng những giây phút nghẹt thở, căng thẳng và nỗi buồn ám ảnh khi chứng kiến những mất mát, đau thương của người dân Myanmar vẫn vẹn nguyên trong tâm trí anh và đồng đội...

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Ngày 19/5/1975, Việt Nam và Mexico thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong 50 năm qua, hai nước đã có mối quan hệ bền chặt và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhân dịp này, phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng của Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với ngài Alejandro Negrín - Đại sứ Mexico tại Việt Nam với chủ đề những thành tựu hợp tác trong suốt nửa thế kỷ qua, hướng tới những cơ hội thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Chúng tôi gặp Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken trong một chiều đầu xuân. Nhà ngoại giao Na Uy gây ấn tượng với phong cách thân thiện, cởi mở. Trong câu chuyện của mình, Đại sứ Hilde Solbakken chia sẻ những vấn đề chung mà cả hai quốc gia cùng quan tâm cũng như cảm nhận của cá nhân Đại sứ về con người và đất nước Việt Nam. Trong đó, bà đặc biệt ấn tượng với sự mạnh mẽ cũng như đức tính chăm chỉ của người phụ nữ Việt Nam.

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú (TS.TTƯT) Đinh Văn Lượng là một trong những chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật lồng ngực trong lĩnh vực bệnh phổi và lao. Năm 2024, ông và Bệnh viện Phổi Trung ương thực hiện thành công 3 ca ghép phổi. Đây là một kỳ tích của ngành y tế Việt Nam nói chung và Bệnh viện Phổi Trung ương nói riêng. Từ những kết quả này, TS Lượng tin rằng, Việt Nam đã ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới.

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói, là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản; xây dựng thành công nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.