Đại tá Mạc Đức Trọng, Phó Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam:

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Là một trong 2 sĩ quan đầu tiên đặt chân tới Nam Sudan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) vào năm 2014, cũng là vị chỉ huy trưởng đầu tiên đưa đơn vị công binh sang làm nhiệm vụ tại Abyei năm 2022, Đại tá Mạc Đức Trọng là người từng trải ở châu Phi. Những trải nghiệm đáng nhớ và đáng quý vẫn đang song hành cùng ông trong công việc tại Cục GGHB Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2025), phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng có cuộc trò chuyện với Đại tá Mạc Đức Trọng về hành trình đến với châu Phi của những người lính đội mũ nồi xanh…

8-1.jpg -0
Ðại tá Mạc Đức Trọng.

Luôn trong tâm thế cho cuộc đi phía trước

- PV: Ông là người có duyên với những "lần đầu tiên" đầy dấu ấn. Trong cuốn sách "Hành trình vì hòa bình", cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, từng lí giải về sự lựa chọn đầu tiên cho vị trí sĩ quan cá nhân mang tên Mạc Đức Trọng. Theo lời tướng Vịnh thì ông tiếp cận mảng này từ rất sớm...

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Năm 2007, tôi và 2 đồng chí nữa được điều động về Viện Quan hệ quốc tế, Bộ Quốc phòng. Lí do hết sức bất ngờ, là để chuẩn bị đi làm nhiệm vụ GGHB LHQ. Lúc đó tôi chưa hiểu nhiều về hoạt động này, nhưng đã là mệnh lệnh của cấp trên thì tôi chấp hành. 3 anh em gấp rút chuẩn bị quân tư trang, sẵn sàng tư thế lên đường. Nhưng, sau đó, đợi mãi vẫn không đi được. Sau này tôi biết được rằng chúng tôi chưa đi được là vì ta chưa nắm được cụ thể về hoạt động đặc thù này. Chưa lên đường, nhưng tôi lại được cấp trên giao nhiệm vụ tập trung nghiên cứu về hoạt động GGHB LHQ. Từ đó, tôi bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống: hoạt động GGHB là gì, cơ cấu chỉ huy thế nào, sang phái bộ thì làm gì...

Năm 2013 tôi nhận được quyết định sang phái bộ UNMISS, Nam Sudan làm quan sát viên quân sự. Nhưng rồi... lại hoãn vì Nam Sudan thời điểm đó đang nội chiến rất căng thẳng. Năm 2014, tôi và Trung tá Trần Nam Ngạn chính thức lên đường. Nói thật, 7 năm chờ đợi là khoảng thời gian thử thách ý chí, sự kiên định của chúng tôi. 7 năm tôi luôn trong tâm thế cho cuộc đi phía trước, đi đâu tôi cũng sẽ đi, dù đó là nơi hoàn toàn xa lạ và khó khăn.

- PV: Dù máu lửa, nhiệt huyết và có sự chuẩn bị tinh thần từ trước, nhưng khi đặt chân đến Nam Sudan, ông có thấy ngỡ ngàng không?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Những túp lều đắp đất, mái lá xác xơ, đường đất bụi mù mịt, người dân đầu trần, chân đất đi lại dưới nắng rát, Nam Sudan bất ổn và nghèo đói đã hiện ra như thế, điều mà khi ở Việt Nam tôi không bao giờ tưởng tượng hết. Những gương mặt đầy sát khí, họng súng xám ngắt ngoài đường là cảnh hết sức xa lạ ở Việt Nam, nhưng lại bình thường ở đất nước Đông Phi này.

Vì là 2 sĩ quan đầu tiên của Việt Nam nên tôi và Trung tá Ngạn được bố trí ở thủ đô làm quan sát viên quân sự. Nhưng, lúc ấy, cả tôi và Ngạn đều nghĩ, nếu cứ ở thủ đô thì không nắm bắt được nhiều, phải đi xa hơn nữa để có điều kiện hiểu hơn về đất nước Nam Sudan và hoạt động GGHB. Thế là chúng tôi xung phong về các địa bàn vùng sâu vùng xa. Tôi về Malakal, còn Ngạn xuống địa bàn Bor.

Ở Malakal lúc đó xảy ra vụ đụng độ giữa 2 tộc người, tình hình căng thẳng kéo dài 3 ngày liền. Vừa ngơi tiếng súng, LHQ cử quan sát viên quân sự đi nắm tình hình. Tôi và một đồng nghiệp quốc tế lấy xe ôtô đi ngay. Trước mắt tôi là cảnh tượng tiêu điều, làng mạc bị đốt, súng ống đầy đường và không hề thấy bóng dáng người dân...

8-2.jpg -0
Đại tá Mạc Đức Trọng trò chuyện cùng phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng.

- PV: Tình hình căng thẳng và nguy hiểm, ông có giữ vững tâm thế như lúc đầu?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Cả nhiệm kỳ của tôi ở Nam Sudan là chuỗi ngày bất ổn. Cho đến tận ngày cuối cùng khi tôi rời phái bộ để về nước vào cuối tháng 6/2015, nơi đây vẫn chưa yên tiếng súng. Mỗi khi ra ngoài làm nhiệm vụ là một lần đi đầy rủi ro, vì các lực lượng đối lập rất hung hãn, manh động. Nhưng, với một người thích khám phá, có chút "liều" như tôi thì đó không phải là trở ngại. Ngược lại, tôi tận dụng mọi cơ hội để đi. Đang ở Malakal, tôi được điều xuống tận Melut, cách đó 1,5 giờ bay trực thăng, sau đó tiếp tục bay thêm 1,5 giờ nữa để đến Bunj.

Không biết bao nhiêu lần tôi đi qua trạm kiểm soát của các nhóm vũ trang, với kinh nghiệm là phải hết sức kiềm chế, nhẹ nhàng đối thoại. Nhưng, có lần tôi đã mềm mỏng đàm phán mà vẫn bị giữ lại. "Bí" quá, tôi chỉ còn nước "tung chiêu" đặc biệt. Tôi nói rằng tôi là bộ đội Việt Nam sang đây. Thật bất ngờ là khi nghe tới hai chữ "Việt Nam", họ dịu hẳn. Họ nói họ biết Việt Nam là đất nước nhỏ bé nhưng đã chiến thắng đế quốc Mỹ. Và, thế là họ cho tôi đi (cười...).

- PV: Ông và Trung tá Ngạn cùng sang phái bộ, nhưng mỗi người một nơi độc lập tác chiến. Trong suốt một năm làm nhiệm vụ, các ông có gặp nhau lần nào không?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Chúng tôi gặp nhau duy nhất một lần, trong tình huống cấp cứu đặc biệt khi tôi làm nhiệm vụ trên sông Nile. Gom lại, tôi có khoảng 30 ngày làm nhiệm vụ áp tải hàng cứu trợ nhân đạo của LHQ vận chuyển dọc sông Nile. Một ngày lênh đênh trên sông cảm giác dài lắm. Đêm đến, trời tối đen như mực, đám côn trùng đậu kín ngọn đèn duy nhất trên xà lan, thành ra ánh sáng đã ít lại càng ít. Tôi mắc võng ngủ, không phải loại võng thông thường, mà là loại có khóa kéo kín người, thêm lớp màn che mặt để chống muỗi. Những lúc ấy, cảm giác nhớ nhà dội lên, nhưng chẳng có sóng mà liên lạc. Tôi đã quen với việc nhiều tuần liền không thể gọi về cho gia đình.

Lần đó, tôi theo hàng cứu trợ xuất phát từ Malakal ngược lên Bor. Đột nhiên, cano vào dòng nước xoáy, lật nhào. Phút chốc đã không thấy bóng dáng cậu lái cano đâu nữa, tôi hốt hoảng tìm kiếm. Khoảng vài phút sau, cậu ta nổi lên cách chỗ tôi 200m. Phải vất vả lắm tôi mới đưa được cậu ấy lên xà lan trong tình trạng bị thương do va đập. Tôi nhấc bộ đàm thông báo khẩn đến Bor. Không ngờ, người nhấc bộ đàm lại chính là Ngạn. Ngạn thông báo với tôi rằng trực thăng không thể đến được, vì giữa mênh mông sông nước không có chỗ hạ cánh. Tôi đành tự xoay xở băng bó cho cậu ấy nhờ vào túi cứu thương mang theo.

Phải 4 ngày sau chúng tôi mới đến được Bor. Ngạn mang ôtô ra đón tận bến sông. Cậu lái cano được đưa đi điều trị, còn tôi tới thăm nơi làm việc của Ngạn. Có sẵn gói phở khô và thịt bò, cậu ấy nấu cho tôi ăn. Sau nhiều ngày trên sông, đó là bát phở bò ngon tuyệt mà đến giờ tôi vẫn nhớ. Trước khi tạm biệt, tôi xin Ngạn một đôi đũa, vì đôi đũa của tôi đã bị rơi mất. Người dân Nam Sudan không ăn đũa, nên một đôi đũa ở châu Phi cũng quý vô cùng.

8-3.jpg -0
Sĩ quan Mạc Đức Trọng cùng đồng nghiệp quốc tế ở Nam Sudan.

- PV: Có lúc nào trên đường làm nhiệm vụ, ông đối mặt với tình huống nguy hiểm và nghĩ đến điều xấu nhất không?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Đó là lần tôi đi tuần tra bằng đường hàng không từ Bunj ngược về Melut, cách thủ đô Juba hơn một nghìn cây số. Nhóm bay có 5 người gồm lái chính, lái phụ, người phục vụ và 2 sĩ quan LHQ là tôi và đồng nghiệp người Rwanda. Khi chuẩn bị bay về thì trực thăng gặp sự cố, bất chợt chao đảo khiến chúng tôi ngã lăn xuống sàn.

Máy bay chao khủng khiếp, tôi cố sức lao người về phía đuôi máy bay. Phi công hét lên là máy bay sẽ hạ cánh khẩn cấp. Lúc ấy, trong tích tắc, tôi thoáng nghĩ đến điều xấu nhất, và hình ảnh con trai tôi lướt qua trong tâm trí. Tôi nhắm mắt lại, phó mặc tất cả... Tất cả diễn ra nhoáng nhoàng. Rồi, tôi có cảm giác máy bay rơi bịch xuống đất, tiếng cánh quạt quay "tạch tạch" vài vòng rồi tắt lịm.

Mở mắt ra, tôi thấy máy bay ở dưới đất rồi. Tim tôi sau những giây bị bóp nghẹt thì như muốn vỡ ra. Ô,Ì tôi vẫn ổn! Cả nhóm bay vẫn ổn! Bò ra khỏi máy bay, tôi mới thấy rằng có một sự may mắn đến kì diệu khi máy bay hạ xuống đúng đường mòn giữa khu rừng bạc phếch, cây cối lúp xúp. Ý chí sinh tồn trỗi dậy, tôi quan sát xung quanh và việc đầu tiên tôi nghĩ đến là xác định xem mình đang ở đâu. Cả nhóm giở bản đồ ra, dựa vào sơ đồ bay, tốc độ bay thì đoán vị trí máy bay rơi là ở Ranamdit. Tôi giật mình, bởi đây chính là nơi 2 ngày trước diễn ra vụ đụng độ. 1 vị tướng và 7 sĩ quan cao cấp quân chính phủ bị tấn công và thiệt mạng tại đây. Tôi thoáng rùng mình, nhưng phải lấy lại bình tĩnh ngay và suy tính xem làm thế nào để tồn tại được trong rừng.

Trong khi tổ bay 3 người tìm cách phát tín hiệu khẩn cấp thì tôi đi tìm nước và nắm tình hình xung quanh. Dưới nắng gắt gần 50 độ C, tôi đi dọc đường mòn. Không có vũ khí mang theo, tôi chột dạ nếu gặp phiến quân thì phải tìm cách đối phó. 15 phút sau, có một chiếc ôtô đi ngược chiều. Mừng quá, tôi đứng giữa đường chặn xe lại và nhận ra đó là xe chở 2 nhân viên của tổ chức cứu trợ nhân đạo LHQ. Nhìn thấy tôi trong trang phục LHQ nên họ tin tưởng, dừng lại. Tôi trình bày sự việc, gửi họ thông tin cá nhân, tên địa danh và tọa độ, nhờ họ báo tin khẩn cấp cho các tổ chức quốc tế hoặc LHQ để xin trợ giúp. Tôi không quên xin họ nửa can nước để cầm cự trong lúc chờ đợi cứu hộ.

Thấy tôi xách can nước về và thông báo tình hình, cả nhóm bay mừng lắm. Trời về chiều, khi mặt trời sắp tắt thì một chiếc trực thăng bay đến, lượn vòng rồi hạ cánh. Nhân viên cứu hộ mang phụ tùng xuống để sửa máy bay, còn tôi và anh bạn Rwanda được đưa về sở chỉ huy. Đồng nghiệp ai cũng bắt tay chúc mừng chúng tôi đã thoát nạn trở về.

Hòa bình ở châu Phi là những con đường, lớp học và nguồn nước mát

- PV: 7 năm sau khi đi sĩ quan cá nhân trở về, ông tiếp tục "đứng mũi chịu sào" ở vị trí chỉ huy trưởng Đơn vị Công binh số 1 sang Abyei - vùng tranh chấp giữa Sudan và Nam Sudan. Khó khăn phải đối mặt lần này có khác so với lần đầu không, thưa ông?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Đi cá nhân đã vất vả rồi, nhưng khi chỉ huy đơn vị thì khó khăn gấp nhiều lần. Thay vì chịu trách nhiệm cá nhân, tôi phải phụ trách gần 200 người cùng 2.500 tấn phương tiện, máy móc thiết bị được đưa từ Việt Nam sang. Để tập kết đủ cơ số này đến Abyei, từ xe lu, xe ủi, máy xúc, máy gạt,... đến xe chở quân và 140 xe máy là cả một vấn đề, vì quãng đường rất xa xôi. Hành trình bắt đầu từ Việt Nam đi đường biển đến cảng Mombasa, Kenya. Sau đó di chuyển bằng đường bộ xuyên qua Kenya, qua Uganda, rồi đi dọc lãnh thổ Nam Sudan thì đến được Abyei.

Hằng ngày, khi các nhóm cùng máy móc thiết bị tỏa đi làm nhiệm vụ, tôi ở trụ sở phải luôn theo sát và chỉ đạo kịp thời. Địa điểm làm việc có khi tận trong rừng, đi đến đâu phải định vị bằng GPS, nếu không sẽ lạc. Đây là lần đầu triển khai mô hình đơn vị nên không hề có kinh nghiệm truyền lại, chẳng có tài liệu nào chỉ dẫn. Ví dụ, làm đường đất đắp lên đất, nếu theo sách vở thì đất phải rắn, có sỏi, còn đất ở Abyei mềm nhão, gặp mưa là quánh lại, nhưng chúng tôi vẫn phải thi công. 303 km đường mà Đội công binh số 1 tạo nên ở Abyei là những con đường mang màu xanh hy vọng.

- PV: Giữa bộn bề công việc, sự từng trải và quyết đoán của người chỉ huy rất quan trọng?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Nhiều tình huống phức tạp xảy ra ở phái bộ không dễ đưa ra quyết định, không rõ ràng như đèn xanh thì đi, đèn đỏ dừng lại. Không ai giao nhiệm vụ cho chúng tôi phải đi dựng phòng học, khoan giếng, sửa thuyền, làm đường vào trường học, bệnh viện giúp người dân. Nhưng, chúng tôi không thể khoanh tay vô cảm trước các vấn đề nhân đạo cấp bách. Khi việc đó có lợi cho người dân Nam Sudan, mang lại uy tín cho LHQ, cho đất nước Việt Nam thì chúng tôi quyết làm.

8-4.jpg -0
Chỉ huy trưởng Đội công binh số 1 Mạc Đức Trọng trao đổi với ông Thị trưởng Abyei về việc làm đường vào trường học và nâng nền chống ngập cho học sinh.

- PV: Những quyết sách táo bạo, hết lòng ấy có để lại dấu ấn của bộ đội Việt Nam ở Abyei?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Trong vòng 1 năm, chúng tôi đã dựng được 11 lớp học cùng thư viện, bếp, công trình làm việc cho chính quyền địa phương. Đấy đều là những công trình 0 đồng, bởi vật liệu là do chúng tôi đi nhặt, tận dụng từ các khu nhà, đồ dùng cũ của LHQ. Khối óc và bàn tay khéo léo của anh em công binh, cộng với đồ nghề kĩ thuật đã làm nên những công trình để đời cho người dân. Ở phái bộ không kiếm đâu ra đinh, nên tôi giao cho mỗi anh em về nước nghỉ phép mang sang 200 gr đinh để "tác nghiệp" trong mọi hoàn cảnh.

Anh em kì công khoan và sửa giếng nước ngầm để hơn 2.000 học sinh ở Trường cấp 3 Abyei có nước uống. Chúng tôi mang hòa bình đến cho người dân bằng cách làm những con đường, khơi lên nguồn nước mát, dựng những công trình giúp người dân.

- PV: Phòng làm việc của ông ở Cục GGHB Việt Nam treo những tấm bản đồ các phái bộ ở châu Phi. Vùng đất nắng lửa ấy vẫn rất gần ông trong công việc hiện tại. Những ngày tháng lăn lộn ở phái bộ có giúp gì cho ông trong vai trò Phó Cục trưởng Cục GGHB Việt Nam?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Ngoài 2 lần đi làm nhiệm vụ cá nhân và đơn vị, rất nhiều lần tôi trở lại châu Phi để làm nhiệm vụ trinh sát, tiền trạm, mỗi lần cả tháng trời. Nếu không từng trải ở phái bộ, không tận mắt nhìn, đặt chân đến những vùng đất ấy, trải qua nhiều tình huống, đổ mồ hôi, công sức, thậm chí có lúc chịu rủi ro, thì tôi làm sao có thể tham mưu các vấn đề liên quan đến hoạt động GGHB của bộ đội Việt Nam ở phái bộ được.

- PV: Ông đánh giá thế nào về lộ trình tham gia nhiệm vụ GGHB LHQ của Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Cho đến thời điểm này, Việt Nam đang triển khai hoạt động GGHB LHQ đúng hướng và đúng lộ trình theo Đề án tổng thể đã được Bộ Chính trị thông qua, với quy mô, phạm vi tham gia dần được mở rộng. Bộ Quốc phòng đã triển khai sĩ quan cá nhân, đơn vị công binh và bệnh viện dã chiến. Bộ Công an đã có các sĩ quan cá nhân đi làm nhiệm vụ và đang đẩy mạnh huấn luyện Đơn vị Cảnh sát GGHB số 1, tiến tới sẵn sàng triển khai tại phái bộ theo yêu cầu của LHQ. Lực lượng đi trước chia sẻ kinh nghiệm, tham mưu, hỗ trợ cho lực lượng đi sau. Khi sang phái bộ thì quân đội, công an là một, phối hợp chặt chẽ, mang màu cờ sắc áo Việt Nam. Tôi từng trải nghiệm và nhận thấy rõ tình đồng chí, đồng hương gắn kết khi ở xa Tổ quốc. 

Tham gia GGHB LHQ là hoạt động nhân đạo rất có ý nghĩa, góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực của LHQ, luôn nói đi đôi với làm cùng tinh thần yêu chuộng hòa bình. Bằng việc tham gia tích cực, chủ động vào hoạt động này, Việt Nam đã và đang nâng cao uy tín, vị thế trên trường quốc tế.

- PV: Nhưng, vẫn có ý kiến cho rằng Việt Nam còn nhiều khó khăn, sao phải cử quân đi xa thế...

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Đất nước nào cũng có khó khăn, có nơi hạ tầng chưa hoàn thiện. Nhưng, nếu chỉ biết lo cho mình thì có ổn không? Nhìn lại cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ cả về vật chất và tinh thần của nhiều nước trên thế giới. Nhiều quốc gia nghèo khó vẫn quan tâm, ủng hộ Việt Nam về tinh thần, nâng cao tính chính nghĩa cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Với truyền thống thủy chung, son sắt, chúng ta không bao giờ được phép quên điều đó. Chúng tôi đặt chân tới châu Phi cũng với tâm thế ấy. 

Phải nói thật là, ngày đầu sang, người dân hờ hững, xa lánh chúng tôi lắm. Nhưng, bằng sự tận tâm, chúng tôi đã tạo được niềm tin cho bà con. Trước khi chúng tôi về nước, Trường cấp 3 Abyei có tổ chức buổi chia tay. Trường tự viết kịch bản, tập cho học sinh đóng kịch. Thật xúc động khi nội dung vở kịch nói về sự gắn bó, lòng biết ơn của người dân dành cho công binh Việt Nam.

- PV: Sau khi đi phái bộ về, có phải ông đã bỏ phố lên rừng?

+ Đại tá Mạc Đức Trọng: Những ngày tháng ở phái bộ đã làm tôi thay đổi. Về nước, tôi tiếp tục làm việc ở Cục GGHB Việt Nam, trụ sở tại xã Hòa Lạc, ngoại thành Hà Nội. Vậy là tôi bán luôn căn nhà ở trung tâm Thủ đô, về mua đất, làm nhà ở gần cơ quan, đưa cả gia đình lên đó. Nhờ thế mà tiết kiệm được thời gian đi lại, tránh được tắc đường và khói bụi.

Tôi làm nhà đơn giản lắm, đúng kiểu... công binh dựng công trình ở phái bộ. 3 căn phòng được dựng gần nhau, mỗi phòng 12 m2 bằng vật liệu nhẹ, giống như bungalow. Bạn bè đến chơi đều bảo như container ở phái bộ, chỉ khác là nhà của tôi ẩn mình trong một vườn cây xanh mát, bên cạnh con suối chảy róc rách đêm ngày. So với cuộc sống không điện, không nước, không hạ tầng của người dân châu Phi thì đó thực sự là thiên đường đáng mơ ước rồi.

- PV: Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị này.

Huyền Châm (thực hiện)

Các tin khác

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

Ở tuổi 87, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền vẫn đến cơ quan làm việc mỗi ngày. Chầm chậm từng bước nơi bậc cầu thang, phòng làm việc của ông trên tầng 2 của khu nhà kiến trúc Pháp thuộc Cục Di sản, trên phố Ngô Quyền, Hà Nội. Căn phòng nhỏ, một nửa là những giá để tài liệu cao ngất, một nửa dành cho ông. Trên bàn, quyển sách ông đang đọc dở, trang bản thảo ông đang chấp bút, nét chữ vẫn nghiêm ngắn, rắn rỏi.

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche, nhà vật lý lượng tử người Pháp, từng đồng đoạt Giải Nobel năm 2012. Với ông, khoa học không phải là những phương trình khô khan, mà là một hành trình của đam mê gắn liền với những bất ngờ nối tiếp, của phong cách sống, lòng yêu nước, đạo đức và trách nhiệm.

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Bình thản giữa búa rìu dư luận, dấn thân vào phê bình công khai, Tiến sĩ Hà Thanh Vân là cây bút cá tính mạnh, đôi khi ngược dòng. Nhưng, phía sau là một người phụ nữ nồng nhiệt, yếu mềm, với niềm tin mãnh liệt vào giá trị lõi của nghệ thuật. Trong thời đại số vội vã, chị xem văn chương như kháng thể mong manh mà bền bỉ, chống lại sự lãng quên và nông nổi; đồng thời, đối thoại với ANTG Giữa tháng - Cuối tháng về những vết thương tinh thần của một đời sống văn hóa đang chật vật để không bị cuốn trôi.

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Trong định hướng phát triển thể thao thành tích cao vươn ra đấu trường thế giới, Việt Nam đã có nhiều đơn vị, bộ môn phát triển bài bản từ lâu. Một trong số đó là Boxing, môn võ có hơn 2 thập niên hình thành, phát triển và đào tạo không ít VĐV, HLV xuất sắc, với những điểm sáng nổi bật.

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn sáng tác cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của anh phản ánh những vấn đền nóng bỏng của đời sống đương đại được bạn đọc đón nhận. Gần đây, anh cho ra mắt các tác phẩm về đề tài lịch sử hiện đại và chiến tranh cách mạng. Anh cũng là một nhà báo quan tâm đến lĩnh vực văn học, điện ảnh.

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

Lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là quá trình hiếm có, là hình mẫu trong quan hệ quốc tế về hàn gắn và xây dựng quan hệ sau chiến tranh. Tròn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2025), phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng đã có cuộc trò chuyện cùng ông Phạm Quang Vinh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ (11/2014 - 6/2018).

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Đại tá, GS.TS Trình Quang Phú là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động chính trị - xã hội; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, tác giả của nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Trầm cảm ở tuổi vị thành niên đang là một vấn đề nóng của xã hội hiện nay. Tỷ lệ trẻ trầm cảm ngày càng gia tăng do những áp lực của thi cử, của xã hội và sự mất kết nối với trẻ.

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi đã nhiều lần nghe đoạn băng ghi âm sự kiện lịch sử diễn ra tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào buổi trưa ngày 30/4/1975. Lần nào cũng dâng trào niềm hân hoan non sông liền một dải… Và tôi chợt chiêm nghiệm, trong thời khắc trọng đại đánh dấu đất nước hoàn toàn thống nhất, có 3 người giữ vai trò chủ chốt tại Đài phát thanh Sài Gòn, thì một người miền Bắc là Giáo sư Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, quê Hà Nội), một người miền Trung là Trung tá Bùi Tùng (đại diện quân Giải phóng, quê Đà Nẵng) và một người miền Nam là Đại tướng Dương Văn Minh (Tổng thống chính quyền Sài Gòn; quê Mỹ Tho, Tiền Giang, nay là tỉnh Đồng Tháp). Phải chăng, đó là sự sắp đặt thú vị của dòng chảy lịch sử luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Việt Nam?

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Nhà báo Hồ Quang Lợi là một trong những cây bút bình luận, chính luận và quốc tế sắc sảo của báo chí Việt Nam, đồng thời là một nhà lãnh đạo uy tín trong lĩnh vực báo chí, truyền thông. Ông luôn nhấn mạnh vai trò của đạo đức và nhân văn trong nghề báo, ông cho rằng “phẩm giá con người là điều quý giá nhất”. Ông tin tưởng rằng báo chí phải phục vụ con người và xã hội, đặc biệt trong thời đại công nghệ số hiện nay.

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc nói, chị không sống bằng những hào quang của sân khấu hay điện ảnh. Giờ đây, một buổi sớm mai thức dậy, được ngắm ánh bình minh, với chị, đó là hạnh phúc. Sự nâng niu, trân quý từng thời khắc của cuộc sống ấy khiến người đàn bà tài hoa, mỹ nhân của màn ảnh Việt một thời vẫn không ngừng sáng tạo để viết tiếp bản trường ca cuộc đời, về những ánh hào quang chưa bao giờ tàn trên mặt đất...

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Đã ngoài 80 tuổi nhưng ông Chuck Searcy - Chủ tịch Tổ chức Cựu chiến binh vì hòa bình của Mỹ tại Việt Nam (VFP 160), vẫn dành trọn tâm huyết để hàn gắn những vết thương do chính thế hệ ông từng gây ra trên đất nước mà ông gọi là “ngôi nhà thứ hai”, nơi ông được tha thứ, được chào đón như bạn bè.

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Chúng tôi gặp Đại tá Nguyễn Minh Khương - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an ngay sau khi anh cùng đoàn công tác từ Myanmar trở về. 7 ngày thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn quốc tế đã lùi lại phía sau, nhưng những giây phút nghẹt thở, căng thẳng và nỗi buồn ám ảnh khi chứng kiến những mất mát, đau thương của người dân Myanmar vẫn vẹn nguyên trong tâm trí anh và đồng đội...

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Ngày 19/5/1975, Việt Nam và Mexico thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong 50 năm qua, hai nước đã có mối quan hệ bền chặt và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhân dịp này, phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng của Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với ngài Alejandro Negrín - Đại sứ Mexico tại Việt Nam với chủ đề những thành tựu hợp tác trong suốt nửa thế kỷ qua, hướng tới những cơ hội thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Chúng tôi gặp Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken trong một chiều đầu xuân. Nhà ngoại giao Na Uy gây ấn tượng với phong cách thân thiện, cởi mở. Trong câu chuyện của mình, Đại sứ Hilde Solbakken chia sẻ những vấn đề chung mà cả hai quốc gia cùng quan tâm cũng như cảm nhận của cá nhân Đại sứ về con người và đất nước Việt Nam. Trong đó, bà đặc biệt ấn tượng với sự mạnh mẽ cũng như đức tính chăm chỉ của người phụ nữ Việt Nam.

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú (TS.TTƯT) Đinh Văn Lượng là một trong những chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật lồng ngực trong lĩnh vực bệnh phổi và lao. Năm 2024, ông và Bệnh viện Phổi Trung ương thực hiện thành công 3 ca ghép phổi. Đây là một kỳ tích của ngành y tế Việt Nam nói chung và Bệnh viện Phổi Trung ương nói riêng. Từ những kết quả này, TS Lượng tin rằng, Việt Nam đã ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới.

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói, là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản; xây dựng thành công nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.

Lanny Phetnion: Tiếng Việt đã thay đổi cuộc đời tôi

Lanny Phetnion: Tiếng Việt đã thay đổi cuộc đời tôi

Là người nước ngoài duy nhất đoạt giải trong cuộc thi "Tìm kiếm sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài" năm 2024 do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao phát động, Lanny Phetnion đã gắn bó với tiếng Việt hơn 10 năm. Hành trình đến với ngôn ngữ này bắt đầu khi Lanny Phetnion nhận được học bổng theo học Khoa Tiếng Việt, Đại học Quốc gia Lào. Cũng từ đây, tiếng Việt đã trở thành bệ đỡ giúp cô gái miền Bắc Lào gặt hái không ít thành công.