Nhà báo, nhà văn Hồ Anh Dũng: Viết là sẻ chia, trút bỏ...

Ngôi nhà của ông nằm trên một con phố nhỏ yên tĩnh, nép đằng sau một con đường trung tâm của nhộn nhịp, ồn ào. Ông đón khách, và việc đầu tiên là giới thiệu với khách “thư phòng” của mình. Nơi đó có chiếc bàn làm việc giản dị, hàng ngày chỉ ông và sách bầu bạn, chuyện trò là chính. Từ lúc về hưu năm 2007 đến nay, căn phòng chỉ toàn sách này đã chứng kiến sự ra đời, ít nhất đến thời điểm hiện tại là 3 cuốn sách của riêng ông, trong đó có 2 cuốn tiểu thuyết.

Và câu chuyện hôm nay ông nói, cũng ít nhắc về cái phần đời làm báo rất đáng tự hào mà ông đã trải qua. Người viết cũng không nhìn thấy ông trong vai một vị lãnh đạo báo chí, nguyên Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam đã nghỉ hưu. Mà nhìn thấy ông, trong hình ảnh một nhà văn với nhiều nỗi niềm thời cuộc đau đáu đang chờ được trút lên trang giấy...

Nhà báo Hồ Anh Dũng sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Ông là cháu đích tôn cụ Hồ Tùng Mậu - một người đồng chí thân thiết của Bác Hồ. Ông cũng có hai người em trai gánh vác những vị trí quan trọng của đất nước, là đồng chí Hồ Đức Việt, nguyên Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng khóa X và đồng chí Hồ Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Ông Hồ Anh Dũng kể, dòng họ Hồ có 4 đời liệt sĩ, từ nhỏ anh em ông chỉ sống với các bà là chủ yếu. Việc họ hàng cũng phần lớn là những người phụ nữ trong dòng họ quyết định, bởi những người đàn ông đã đi làm cách mạng vắng nhà, hoặc không trở về nữa. Kế tục truyền thống gia đình, ông Hồ Anh Dũng say sưa tham gia các hoạt động công tác đoàn thể từ ngày còn rất trẻ. Ông từng trải qua các vị trí  Bí thư Trung ương Đoàn, Phó trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam .

Mặc dù phần lớn thời gian trong cuộc đời mình, ông Hồ Anh Dũng tham gia hoạt động chính trị, báo chí, truyền thông, nhưng ông vẫn luôn nuôi giữ một ngọn lửa đam mê văn chương từ thuở thiếu thời. Ít ai biết rằng, nhà báo Hồ Anh Dũng đã từng tốt nghiệp ngành ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxôp (Nga).

Nhà báo, nhà văn Hồ Anh Dũng: Viết là sẻ chia, trút bỏ... ảnh 1

Ban đầu ông đã lựa chọn để trở thành một nhà khoa học, và thời thanh niên, ông đã viết một cuốn tiểu thuyết. Nhưng vì còn ít nhiều bẽn lẽn trước làng văn, ông đã đốt bản thảo đi. Rồi cuộc đời cuốn ông theo những công việc khác. Vẫn cống hiến cho công việc bằng trái tim nhiệt huyết, sôi nổi, nhưng Hồ Anh Dũng luôn để dành một góc không nhỏ cho tình yêu văn chương.

Và, khi đã hoàn thành xong công việc xã hội, nghỉ hưu, ông bắt đầu đối diện với trang giấy, và viết. Nhiều nhà văn ở tuổi của ông đã buông bút, không viết nữa hoặc không viết được nữa, thì với ông, cuộc hò hẹn với văn chương mới chỉ là bắt đầu. Những trang sách đầu tiên ông viết về làng Quyền - một làng của xứ Nghệ, mang bóng dáng làng Quỳnh nơi ông sinh ra. Những số phận con người, những câu chuyện cuộc sống, những biến cố thời cuộc, với bao buồn vui, mất mát...

Một cuốn tiểu thuyết dày dặn và đậm đà tình người, ngỡ như người cầm bút Hồ Anh Dũng đã mang toàn bộ sự hăm hở buổi đầu cộng với những trải nghiệm của gần nửa thế kỷ kinh qua nhiều công việc của mình vào từng trang viết. Xúc cảm tươi mới từ một trái tim từng trải khiến cho văn của ông có một vẻ đẹp riêng, vừa ấm nóng, vừa sâu sắc.

Sau cuốn tiểu thuyết đầu tiên được bạn đọc đón nhận, nhà văn Hồ Anh Dũng tiếp tục cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết thứ hai Như là định mệnh. Một cuốn sách bề bộn nhân tình thế thái. Những trải nghiệm lớn trong sự nghiệp làm báo, làm chính trị của mình là chất liệu tươi ròng làm nên một tác phẩm văn học giàu lớp lang. Như là định mệnh nhấn vào những số phận con người qua nhiều biến cố thời cuộc, lịch sử. Họ đã chịu đựng những thử thách, sóng gió, chia lìa, bất hạnh như là định mệnh đã  đóng dấu lên cuộc đời mình.

Về cuốn tiểu thuyết thứ 2 này của Hồ Anh Dũng, nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: “Văn của ông chứa linh cảm, sự lãng mạn và lòng nhân ái. Dường như ông không nỡ làm đau một ai. Ông lùi ra xa và kể về họ, ít bình luận, để sự việc nói thay. Khác với các tiểu thuyết mô tả thế giới bên trong con người, phát hiện những chuyển động li ti khó nhận biết trong tâm hồn con người, Hồ Anh Dũng tập trung mô tả thế giới bên ngoài biến động, hùng tráng với máu lửa thời cuộc, với chiến tranh, hậu chiến và con người nhỏ bé bị nó cuốn đi...”.

Mới đây nhất, cuốn sách thứ 3 vừa “ra lò” của nhà văn Hồ Anh Dũng có tên gọi Chuyện làng Quỳnh. Cũng giản dị đúng như tên gọi của nó, cuốn sách kể cho ta về những kỷ niệm gắn với cuộc đời Hồ Anh Dũng. Từ chuyện dòng họ, gia đình, đến chuyện xóm giềng, chuyện văn nhân kim cổ có xuất xứ từ làng Quỳnh. Viết về làng, với ông, là một cuộc trở về từ trong sâu thẳm, để nhận biết nguồn cội, và để tự hào về mảnh đất xứ Nghệ nơi mình đã sinh ra, lớn lên.

Trên dải đất hình chữ S này, rất hiếm những ngôi làng như làng Quỳnh của ông. Ngôi làng nhỏ bé ấy là vùng địa linh nhân kiệt, đã sinh ra những người con tài hoa làm rạng danh đất nước, như Hồ Sĩ Dương, Hồ Phi Tích, Hồ Xuân Hương, Văn Đức Giai, Phạm Đình Toái, Hồ Tùng Mậu, Cù Chính Lan...

Những người viết, không hiểu sao, thường hay day dứt, hoài niệm, thương nhớ về nơi mình sinh ra, nơi cất giữ tuổi thơ của mình. Hồ Anh Dũng cũng vậy. Ông đã đi ra khỏi làng quê từ rất sớm. Và trong suốt cuộc đời hoạt động xã hội sôi nổi của mình, bàn chân ông đã đi qua hơn 40 nước trên thế giới.

Nhưng không đâu khiến ông thương nhớ bằng làng Quỳnh bé nhỏ. Bao suy ngẫm cuộc đời đều gắn với làng. Những cuốn sách đầu tiên lấy cảm hứng từ làng. Với nhà báo, nhà văn Hồ Anh Dũng, trở về nơi mình sinh ra chính là cuộc trở về với những gì khởi nguyên nhất trong cuộc đời con người, là sự trở về với bản thể, với thiên nhiên.

Tình yêu với mảnh đất nơi mình sinh ra là “cái lõi” trong mọi câu chuyện khác của cuộc đời. Không có “cái lõi” ấy, những yêu thương khác dường như ít nhiều là phù phiếm, là xa xỉ, trống rỗng. Con người ta, bàn chân có đi khắp tứ hải, thì rồi cuộc trở về với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đất đai, làng mạc, ruộng đồng nơi mình sinh ra vẫn là cuộc trở về đáng kể nhất. Đây còn là cuộc trở về với tình người nữa.

Thế kỷ XXI, theo ông, sẽ là thế kỷ của những cuộc trở về. Nhân loại sẽ quay trở về với những giá trị truyền thống, cổ điển mà vì mải mê trên con đường đến với cái mới đôi lúc người ta đã bỏ qua, quên lãng. Giống như không ít người hôm nay vội vã đi ra đô thị mà quên mất ngôi làng của mình. Nhưng rồi càng đủ đầy về vật chất, càng đi xa hơn, càng thấy ký ức về ngôi làng ám ảnh mình.

Nhân nói chuyện làng, hỏi ông chuyện làng quê của hôm nay và ngày ông còn nhỏ có điều khi khiến ông nghĩ ngợi chăng, ông chia sẻ ngay: “Ngày hôm nay làng đã được bê tông hóa nhiều rồi. Nhà cửa đã khang trang hơn, kiên cố hơn. Cuộc sống của người dân tốt hơn, đó là xu thế tất yếu của phát triển. Nhưng làng đang mất đi nhiều không gian xanh cần thiết. Và tình người ở làng, phải chăng cũng phai nhạt đi đôi phần...”.

Về câu chuyện nông thôn trong tác phẩm văn học, nhà văn Hồ Anh Dũng cho rằng, có rất nhiều vấn đề đang chờ ngòi bút nhà văn chạm tới. “Xưa, tôi làm quản lý truyền hình, khi nói đến Chương trình Nông thôn, tôi bao giờ cũng nhấn mạnh với đồng nghiệp, rằng mình phải nói những câu chuyện của nông dân, của nông nghiệp mới là nòng cốt. Chứ đừng đưa ra những báo cáo thành tích, hay chuyện giống lúa mới. Vấn đề phải là đời sống nông thôn, số phận người nông dân ấy. Nhìn sang văn chương hôm nay cũng vậy. Tôi không dám bàn về nghệ thuật viết, nhưng tôi có thể nói về việc viết gì trong tác phẩm đề tài nông thôn. Xin thưa, có bao nhiêu vấn đề của người nông dân, của nông nghiệp mà chưa được nhà văn khai phá. Các nhà văn của ta đang mải mê chuyện gì, tôi không biết”.

Tôi cứ nghĩ mãi về cái câu hỏi của ông, nhà báo, nhà văn Hồ Anh Dũng, các nhà văn của ta đang mải mê chuyện gì, mà bỏ rơi một đề tài lớn trong một xã hội có tới hơn 80% dân số làm nông nghiệp. Và ông, trong buổi khởi đầu cầm bút, rất khiêm nhường, không mơ trở thành một nhà văn lớn, không mơ tạo ra những trào lưu văn học, nhưng luôn nghiêm cẩn một ý thức, phải chạm đến những vấn đề nhức nhối của số đông nhân quần. Và ông chọn viết về nông thôn trước tiên....

Có thể ai đó trong chúng ta sẽ tự hỏi, một người “vinh quang đã đủ” như Hồ Anh Dũng, từng giữ những vị trí quan trọng không ít người mơ ước, sao lúc về hưu ông không chọn cách an nhàn, điền viên chăm cây, tưới hoa, đi du lịch, chơi đùa cùng con cháu mà lại “sa” vào cảnh viết văn khổ ải làm gì cho mệt? Nhà văn Hồ Anh Dũng chỉ cười hiền hậu. Ông xác nhận, việc viết đúng là đày ải thật.

Nghĩ ngợi đau đáu bao ngày, rồi ngồi vào bàn, đối diện trang giấy như đối diện cuộc đời. Và chữ nghĩa thì không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Viết, rồi xóa, rồi viết. Nhọc nhằn, lao tâm khổ tứ. Nhưng ngay trong sự nhọc nhằn ấy, nhà văn Hồ Anh Dũng cũng nhận ra rằng, việc viết chứa đầy những bí ẩn thú vị mà chỉ khi dấn thân vào ông mới khám phá được. Ban đầu, các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đã được nhà văn “vẽ đường” đi theo hướng này. Nhưng rồi càng viết càng thấy, nhân vật của mình bắt đầu “nổi loạn”.

Họ đòi đi một hướng mới, và họ dắt ngòi bút của mình theo từ lúc nào, không cưỡng lại được. Hóa ra, văn chương luôn có một đời sống khác, một sự thật khác, khác hẳn với sự thật báo chí mà bao năm làm công tác quản lý báo chí ông chiêm nghiệm được. Rằng, những kinh nghiệm, hay những nguyên tắc từ những công việc khác chúng có thể mang tới vốn sống, chất liệu cho việc viết, nhưng chúng không thể áp dụng vào hành động viết...

Viết, đối với nhà báo, nhà văn Hồ Anh Dũng càng không phải cách để được mọi người biết tới. Ông đã đủ trải nghiệm về cái gọi là vinh quang, hay sự nổi tiếng. Nói chính xác thì ông đã ở thời điểm không cần đến những hư vinh ấy nữa. Và việc viết, với ông chỉ còn rường cột một suy nghĩ, là được sống hết lòng với một niềm đam mê đeo bám suốt đời mà ông chưa có thời gian, cơ hội để thực hiện.

Viết cũng là để sẻ chia, trút bỏ những tâm tư, suy ngẫm của đời người trí thức đã thu lượm được, đã yêu thương và cả dằn vặt nữa. Và đặc biệt nhất, là khi viết, mình đã ở bên ngoài mọi giới hạn, mọi quy luật thông thường của đời sống. Mình được tự do nhất. Cảm giác bay bổng, hoàn toàn là chính mình giống như chất men say, khiến cho mỗi ngày đang sống chứa đựng một vẻ đẹp mới...

B.N.T.

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.