Nguyễn Quỳnh Trang: Viết bằng nỗi đau

Với mỗi người viết văn, những nỗi đau luôn ẩn chứa một sức mạnh khủng khiếp. Có những lúc chính nỗi đau ấy đã nâng họ lên và mang lại cho họ những mạch nguồn cảm xúc ngoài sức tưởng tượng của chính bản thân họ. Nguyễn Quỳnh Trang cũng vậy, cô là một người viết trẻ, một nhà báo năng động, thông minh, nhưng cuộc đời cô, ở tuổi 32 lại gặp quá nhiều sóng gió.

Có những nỗi buồn, nỗi đau tưởng không thể sẻ chia, không thể vực dậy… Nhưng cô đã làm được. Bằng cách nương náu vào những trang văn được viết bằng những đêm mất ngủ triền miên, những giày vò thể xác và linh hồn có lúc như thể thoát khỏi thế giới thực tại để sống và đi tìm câu trả lời “Tôi là ai?”.

Trong phần Bão lốc của cuốn sách mới nhất Mất ký ức vừa được tọa đàm tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’espace ngày 18/10 vừa qua, Nguyễn Quỳnh Trang đã viết: “Bạn mất bao lâu để không còn tự làm đau vết thương nơi mình?
Bạn mất bao lâu để nhớ ra rằng mình chưa bao giờ thực sự biết cách sống?
Bạn mất bao lâu để học cách chấp nhận thực tại?
Bạn mất bao lâu để hiểu ra, chẳng có gì trên đời là thật?”…

Đó là những câu hỏi đầy bất ổn của một người viết đang hoang mang đi tìm nguyên nhân của những nỗi đau. Những nỗi đau hoàn toàn không mong đợi, không muốn tìm một câu trả lời, không muốn nó là thực, chỉ mong nó là một cơn ác mộng trôi qua trong một khoảnh khắc, giây phút nào đó của cuộc đời, để sáng ra có thể chỉ cần giải quyết bằng “thuốc giảm đau hay bằng cách giết ký ức?”. Nhưng làm sao giết được ký ức? Và đồng thời với việc gọi lên những câu hỏi, Nguyễn Quỳnh Trang đã có manh mối của những câu trả lời. Trong suốt hành trình của Mất ký ức chị đã có một câu trả lời trọn vẹn cho việc hãy sống đủ đầy và cảm nhận hiện tại đang trôi qua từng giây phút dù biết nó sẽ gặm nhấm từng vi mạch cảm xúc đã có, và sự trả giá thực sự là đầy đau đớn.

Tiểu thuyết Mất ký ức dày khoảng 300 trang do Công ty Sách Phương Nam phối hợp với NXB Hội Nhà văn phát hành vào đầu tháng 10/2012. Cuốn sách này tiếp tục đề tài quen thuộc của hai tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Quỳnh Trang về giới trẻ là 1981Nhiều cách sống, xoay quanh 4 nhân vật chính là Jona (người kể chuyện), QT (một ca sĩ nổi danh), Kun (bạn trai thân của Jona) và Run (người đàn ông bí ẩn trong bộ đồ nâu). Một ngày kia, Kun bỗng dưng mất tích trong một thành phố ngập bụi và chết mòn, nơi con người chỉ có thể sống trong các tòa nhà được nối với nhau bằng hệ thống hành lang kính cùng các bộ máy lọc khổng lồ. Để vượt qua, Jona phải sống qua rất nhiều ngày, trong rừng cùng Run, trong thành phố cùng QT, chiến đấu với những nỗi đau, giận dữ, khủng hoảng, và các bấn loạn trong tâm hồn mình. Để rồi, các nhân vật rút ra kết luận: “Vào lúc con người thật sự cùng đường, nếu không muốn nằm lại tắt thở trong đáy bùn, họ phải bò, trườn, đi tìm chỗ tựa nương, trong vô thức”.

Ảnh: Lưu Quang Phổ.
Ảnh: Lưu Quang Phổ.

Tôi hỏi Nguyễn Quỳnh Trang, tuổi trẻ đầy hoài bão, đầy ước mơ, đầy những khát khao đi tới, cả một tương lai phía trước với “ngôi nhà và những đứa trẻ”, nhưng những trang viết của chị hoàn toàn không tươi tắn, không hồn nhiên, không năng động, không vô tư, nhí nhảnh như con người bên ngoài của chị.

Nguyễn Quỳnh Trang cười buồn chia sẻ: “Tôi có một tuổi thơ không bình yên và nhiều mất mát. Bố mẹ tôi dù là những trí thức Hà Nội nhưng họ luôn bế tắc, quẩn quanh và không có lối thoát trong mối quan hệ. Trút buồn tủi lên đầu con cái là việc thường làm. Mặc dù họ luôn yêu con và sẵn sàng hy sinh cho con nhưng khủng hoảng tinh thần trong mỗi thành viên của gia đình thì luôn còn đó, nó ám ảnh không chỉ trong tuổi thơ của tôi, mà cả đến khi tôi đã trưởng thành, và cho đến bây giờ, khi tôi đã là bà mẹ của hai con, thì nỗi sợ ấy đôi khi vẫn cứ như một vết xước khó lành cứ day trở mãi. Tôi thường khó khăn khi hòa nhập với bạn bè xung quanh và tôi luôn sống trong ốc đảo đầy nước mắt của riêng mình. Bởi không có ai chia sẻ, nên tôi đã tìm đến thế giới viết. Tôi sáng tác từ rất sớm. 7 tuổi tôi đã viết những bài thơ đầu tiên. Một bài thơ chứa đựng những nỗi buồn. Năm 16 tuổi tôi đã biết yêu và hy vọng tình yêu là sự cứu rỗi nhưng cay đắng thay, nó lại là những khoảng rỗng bế tắc cuộc đời. Tôi không hạnh phúc trong tình yêu dù nhận nhiều lời bày tỏ tình yêu. Có lẽ vì thế giới của tôi quá nhiều bất trắc, và để bước vào đó, đàn ông cần thật sự bản lĩnh. Khi yêu, tôi hết mình chẳng cần lý trí, tôi trọn vẹn thuộc về người đàn ông mình yêu và sống thỏa mãn với thế giới mà người đó mang lại. Thậm chí, tôi bị đánh mất cái tôi của mình. Những điểm yếu ấy khiến tôi rất dè dặt khi rung động một ai đó và dựng lên nhiều bức tường lửa, ai vượt qua được tất cả thì tôi hoàn toàn thuộc về. Chính vì cách sống ấy, là hiểm họa cho rất nhiều đổ vỡ, thất vọng mà tôi vướng vào. Khi chạm phải những đổ vỡ ấy, tôi hoàn toàn bị tan rữa, thật khó khăn mà vực dậy để đương đầu với thực tế phũ phàng, nghiệt ngã. Có lúc tôi nghĩ mình có thể sẽ bị điên, có thể sẽ quị xuống... Nhưng may mắn thay, tôi đã gạt nỗi uất nghẹn để đứng lên”.

Trong những ngày buồn thảm một mình tìm cách vượt qua bao tai họa đổ xuống cùng lúc, cũng là thời gian Nguyễn Quỳnh Trang viết tốt nhất. Không chỉ hoàn thành tiểu thuyết Mất ký ức, chị đã đi một nửa chặng đường cho cuốn tiểu thuyết thứ tư 9X09. Ngoài ra, một kịch bản phim truyện nhựa chuyển thể từ tiểu thuyết 1981, một kịch bản phim truyền hình viết chung Linh hồn lạc lối hiện đang được phát trên VTV1.

Sau hai năm giam chân quẩn quanh Hà Nội, chị bắt đầu những chuyến đi công tác vào Nam ra Bắc khi nhận lời làm giám khảo trong nửa năm cho chương trình gameshow Khi tôi 18 của VTV6 và tổ chức sự kiện cũng như làm truyền thông cho các sự kiện nghệ thuật đương đại trong và ngoài nước. Được vậy, động lực của Trang bắt nguồn từ hai cậu con trai thơ bé, chúng cần chị làm điểm tựa để sống tốt.

Và ngày hôm nay, ngồi trước tôi là một Nguyễn Quỳnh Trang đầy bản lĩnh và tự tin, đầy kiêu hãnh và dấn thân, chuẩn bị cho những bước đi vào tương lai phía trước. Chị tâm sự, mình không thể là một nỗi ám ảnh tinh thần cho con như cách mà suốt tuổi thơ chị đã phải đeo mang. Đôi lúc nhìn lại, Nguyễn Quỳnh Trang cảm thấy mình biết cảm ơn cả những nỗi đau. Cảm ơn những thử thách khi phải lựa chọn giữa căm giận hay thứ tha, níu kéo hay buông bỏ, bất hạnh hay an bình cho không chỉ riêng mình mà cho tất cả những gì thuộc về mình. Cảm ơn sự trải nghiệm không hề nằm trong kế hoạch của cuộc đời. Nó là số phận. Là một cái nghiệp. Là một bước ngoặt để dấn thân và nếm trải.

Nguyễn Quỳnh Trang tâm sự rằng, đã có lúc chị không có tuổi trong cuộc sống của mình. Lúc vui, lúc hạnh phúc chị không bao giờ viết văn. Chị hoàn toàn thuộc về thế giới của sự hưởng thụ tình yêu và vật chất hão huyền của cuộc đời. Chị tung tăng với sự trẻ trung và hồn nhiên của chính mình. Bởi thế, khi gặp phải những trắc trở trên con đường kiếm tìm cái đích của hạnh phúc, chị lại thành một kẻ tự kỷ chui vào xó tối nào đó để tự gặm nhấm mình. 1981 là nỗi hoang mang của chị (và những người trẻ) khi bắt đầu chạm mặt với cuộc đời. Nhiều cách sống là một sự chìm đắm từ những ảo tưởng từ bên ngoài mang đến, là sự phụ thuộc yêu thương vào người khác và luôn mong chờ một niềm hạnh phúc nào đó bên ngoài mình để rồi thất vọng và đau. Còn Mất ký ức là đi tận cùng nỗi thống khổ và chạm mặt vào cái chết và phải tìm một phương cách vượt qua để sống. Đây là một cuộc hành trình để tìm chính mình.

Nguyễn Quỳnh Trang chia sẻ: “Có nhiều người hỏi tôi tại sao trong Mất ký ức tôi không lấy tên Việt để đặt cho nhân vật của mình? Đối với tôi tên nhân vật chỉ là một ký hiệu, nó giống như một mảnh mờ gạch ngang của ký ức mà không có nghĩa của sự tồn tại mang tính chất cá nhân. Thường cái tên dùng để khẳng định một người nào đó với những cái bản ngã đầy đủ của mình để định danh tôi là ai? Nhưng dường như điều đó không quan trọng trong tiểu thuyết của tôi. Cũng chính trong cuộc tọa đàm về 3 tiểu thuyết của tôi, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà văn Lê Minh Khuê mong muốn rằng sẽ có những cái tên thuần Việt xuất hiện trong tác phẩm. Tuy nhiên điều đó không còn quan trọng với việc Mất ký ức, khi đó là cuộc hành trình về cõi nội tâm mà các nhân vật chỉ là những lát cắt quá khứ ảo mờ của chính bản thân tác giả. Với mỗi nhân vật là một đặc trưng tính cách riêng của chính tôi, mặc dù tôi có những nguyên mẫu ngoài đời, nhưng nó chỉ là những dấu hiệu của sở thích, của một thói quen và đôi khi là một khuôn mặt và những kỷ niệm mơ hồ được mã hóa từ chính một dạng biểu hiện tâm lý mà tôi đã đeo mang suốt cả một hành trình đã sống”.

Tôi quen Nguyễn Quỳnh Trang cách đây đã 10 năm, biết nhiều câu chuyện về đời sống của chị. Chị là một người đủ nhạy cảm để đau, đủ gan góc để bảo vệ gia đình, đủ bản lĩnh để vượt qua và đi tiếp, đủ tỉnh táo để quên một người và biết cách làm cho cuộc sống của mình không đơn điệu. Chị đã biết cách đứng dậy vì những yêu thương trong cuộc đời. Chị như một con kiến bé nhỏ trước một gáo nước lạnh vẫn lật bật đứng dậy để tiếp tục tha mồi về tổ, để dù đã có những rạn nứt, dù đã có những chia ly, song niềm ước mơ cháy bỏng mà chị vẫn khát khao từ thuở nhỏ, là có một gia đình hạnh phúc, dù biết rằng, cái niềm khát khao tưởng như giản dị đó, đối với chị bây giờ lại là một chặng đường đầy rẫy những chông gai…

Thiên Kim

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.