Bà chủ của một gia đình đặc biệt
Bà tên khai sinh là Nguyễn Thị Nho (bí danh Ba Chi) sinh năm 1918, ở Cần Giuộc tỉnh Chợ Lớn xưa, nay là tỉnh Long An, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam thuộc thế hệ những năm 30 của thế kỷ trước, một cán bộ cách mạng ưu tú đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc và sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, bà sớm tham gia cách mạng ở Nam bộ, được Đảng tin cậy giao phó nhiều trọng trách, từng giữ các chức vụ: Quận ủy viên Cần Giuộc, Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, Phó Hội trưởng Hội Phụ nữ miền Đông, Chánh văn phòng Xứ ủy Nam Bộ, đại biểu Quốc hội tỉnh Long An khóa IV…
Điều rất đặc biệt trong quá trình hoạt động cách mạng của bà là mới 16 tuổi đã là Bí thư Chi bộ xã, 17 tuổi là Quận ủy viên, 19 tuổi thoát ly gia đình đi kháng chiến góp mặt hoạt động ở một địa bàn rộng, ở những chiến trường cực kỳ gian khổ: miền Tây, miền Đông, cực Nam Trung Bộ, khu 5, có lúc ngay trong thành phố Sài Gòn - nơi đầu não của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
Trong quá trình hoạt động, bà đã có quan hệ công tác mật thiết với nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng ta ở thời kỳ bí mật: Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn, Trần Văn Giàu, Bùi Văn Ngữ, Trương Văn Nhâm, Trương Văn Bang...
Trải qua nhiều thử thách, những hoạt động đầy nguy nan, có lúc cái chết cận kề, trong phong trào đấu tranh của nông dân, công nhân, trí thức, tiểu thương, có lúc làm binh vận, phụ vận, ra bưng biền, vượt biển, ở nhà tù của tay sai đế quốc, vượt Trường Sơn… nhưng việc tổ chức cơ sở Đảng bí mật ngay trong lòng địch tại nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh (phường Đakao, quận 1), cũng chính là nơi mà Tổng Bí thư Lê Duẩn, hồi đó là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ?, sống và làm việc, viết bản dự thảo Đề cương Đường lối cách mạng miền Nam, có thể nói là một trong những hoạt động để lại cho bà - khi đó là Bí thư Chi bộ, Chánh văn phòng Xứ ủy - nhiều kỷ niệm không thể nào quên.
Cuối năm 1955, sau khi được Thường vụ Xứ ủy thông báo quyết định đưa bà làm Chánh văn phòng Xứ ủy, bà đã cùng một số đồng chí, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Xứ ủy Lê Toàn Thư, tiến hành xây dựng cơ sở Đảng - văn phòng của Xứ ủy Nam Bộ ngay tại Sài Gòn, đầu não của địch. Tại nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh, gần chợ Đakao (đây là một căn nhà thuận lợi nhất là có cửa trước, có sân nhỏ phía sau, có cửa thông ra hẻm về phía chợ Đakao), một gia đình đặc biệt đã được hình thành nhanh chóng.
Mỗi người một vai diễn: bà đóng vai trò là người lớn nhất trong gia đình - bà dì, cũng là người quan trọng nhất trong gia đình này, còn ông Trịnh Long Nhi từ Ban Tuyên huấn làm anh Hai của bà Nguyễn Thị Loan, đóng vai một nhà giáo ngày ngày đi dạy học; bà Nguyễn Thị Loan, một đầu mối liên lạc từ Tuyên huấn Xứ ủy về Thường vụ Xứ ủy, đóng vai em gái, đồng thời là vợ của một sĩ quan quân đội Sài Gòn, chồng thường vắng nhà trong thời chinh chiến, bà Loan cùng hai con: Chí Công lên 7 tuổi và cháu Bình mới tập đi phải ở dựa vào anh Hai; ông Phan Phát Phước (anh Tám) công tác ở bộ phận mật mã từ văn phòng Xứ ủy trước đó đóng vai anh nuôi, ngày ngày xách giỏ đi chợ lo cơm nước cho cả nhà; bà Nguyễn Thị Danh, vợ ông Nhi, một công chức thuế quan của chính quyền Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất; người em ông Nhi là Trịnh Long Việt đang dạy Anh văn ở Trường Huỳnh Cẩm Chương đứng làm chủ hộ về hành chính. Bà Danh và ông Việt tình nguyện làm bình phong che giấu cơ sở cho ta.
Như vậy, gia đình đặc biệt này người bên ngoài nhìn vào sẽ chỉ thấy bình thường như bao gia đình khác, có đàn ông, đàn bà, có người lớn, có trẻ con thuộc hàng gia đình trung lưu. Nhưng thực tế nơi đây, dưới sự dẫn dắt của Chánh văn phòng, Bí thư Chi bộ Văn phòng Xứ ủy Nguyễn Thị Một - người chịu trách nhiệm chính về hoạt động của văn phòng, đã trở thành một trung tâm liên lạc hai chiều từ Thường vụ Xứ ủy đến các ban chuyên môn của Xứ ủy, chăm sóc và bảo vệ an toàn cho các đồng chí trong Xứ ủy mỗi khi hội họp. Điều đáng nói là trong khoảng thời gian gần hai năm tồn tại, những việc của gia đình đặc biệt này không hề bị địch theo dõi cho đến ngày cơ quan Xứ ủy rời Sài Gòn về Campuchia.
Mưu trí bảo đảm an toàn cho văn phòng và lãnh đạo Đảng
Tháng 6/1956, mọi người trong căn nhà số 29 Huỳnh Khương Ninh bất ngờ được đón Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn lên ở cùng gia đình với vai chú Chín. Chính tại nơi đây, bên cạnh công tác của một vị lãnh đạo, đồng chí Lê Duẩn đã yên tâm soạn thảo Đề cường Đường lối cách mạng miền Nam - tài liệu vô cùng quan trọng có tính chất đánh giá toàn diện âm mưu của Mỹ-ngụy và cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam để đề xuất với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng cho chỉ thị và áp dụng vào cuộc cách mạng ở miền Nam.
Văn phòng đặt giữa lòng thành phố đầu não của địch, hơn nữa giai đoạn này Mỹ - Diệm đang đẩy mạnh đàn áp phong trào cách mạng, đánh phá và tiêu diệt cơ sở Đảng ta, do đó trách nhiệm giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho đồng chí Lê Duẩn là vấn đề hết sức quan trọng.
Việc nghi trang và bảo vệ an toàn cho đồng chí Lê Duẩn nói tiếng Quảng Trị giữa toàn những người Nam Bộ cũng có nhiều điều phải lo lắng. Lúc đồng chí Lê Duẩn ở Bến Tre về Sài Gòn trông như một cụ già nông dân, vì để bộ râu dài, nước da đen như người làm ruộng sống hàng ngày cần cù ngoài đồng áng, bà và bà Loan phải nhanh chóng may quần áo theo kiểu ông già ở thành thị cho thích hợp với hoàn cảnh.
Ngay việc cắt tóc cho chú Chín cũng phải hết sức đắn đo, cân nhắc vì không thể ra ngoài, mà tìm một người vào nhà hớt tóc không đơn giản, nếu không cẩn thận rất dễ lộ. Mọi người trong văn phòng để ý một anh thợ cắt tóc có tác phong của người lao động nghèo, kêu vào hớt tóc cho cháu Công, con của bà Loan. Trong khi hớt tóc mọi người đã khéo léo điều tra tìm hiểu xem anh ta ở phố nào, sự sinh sống của gia đình ra sao.
Để chắc chắn, cách ít hôm tiếp tục kêu anh này vào hớt cho ông Nhi. Sau khi chắc chắn có thể tin tưởng anh thợ này mới bố trí cắt tóc cho chú Chín. Chú Chín nói giọng Quảng Trị, nếu cất tiếng chắc chắn sẽ bị lộ nên phải giả làm người vừa câm, vừa điếc chỉ ra dấu hớt cách nào, do bà Loan làm "phiên dịch" lại cho anh thợ.
Có một lần vào buổi tối, đồng chí Lê Duẩn muốn đi bách bộ chung quanh phố gần văn phòng đang ở để quan sát và thay đổi không khí. Đồng chí bảo anh Tám dẫn đi lối sau. Anh Tám không báo lại cho mọi người trong văn phòng; khi anh chị em đang ngồi làm việc phía trước, bà có việc phải đi xuống nhà bếp, nhìn trước nhìn sau không thấy chú Chín và anh Tám đâu. Bà hốt hoảng chạy lên nhà cho bà Loan và bà Nhi hay, mỗi người liền chạy đi tìm nghe ngóng tình hình bên ngoài.
Bà Nhi đi dọc đường Hiền Vương (đường Võ Thị Sáu bây giờ) thấy hai người đang bách bộ trên vỉa hè, bà Nhi cũng giả người đi dạo phố thong thả bám theo hai người. Đến khi bà Nhi về báo lại, mọi người mới hoàn hồn. Khi về tới nhà, chú Chín cười bảo không sao cả, đi dạo chung quanh một chút cho sảng khoái, để mọi người biết phải bố trí phiền phức, mà cũng không hay bằng đi kiểu du kích!
Thời gian đồng chí Lê Duẩn ở Văn phòng Xứ ủy, đồng chí Nguyễn Văn Linh cũng có vài lần đến làm việc, có khi ở lại ăn cơm trưa. Những lúc này, mọi người trong văn phòng, nhất là bà và bà Loan, phân công nhau ngồi ở trước nhà chơi với các cháu hoặc dạy cháu Công học để canh chừng động tĩnh bên ngoài, nhằm bảo đảm an toàn cho hai vị lãnh đạo.
Bên cạnh việc Thường vụ Xứ ủy Lê Toàn Thư thỉnh thoảng ghé qua báo cáo tình hình với Bí thư Xứ ủy, nhận nhiệm vụ, tranh thủ trao đổi với các thành viên rồi lại đi thì hầu như tất cả mọi việc các thành viên đều báo lại và xin ý kiến của người nữ Bí thư Chi bộ, Chánh văn phòng Xứ ủy, trừ trường hợp nghiêm trọng, cấp bách mới dám làm phiền đến chú Chín.
Bản dự thảo Đề cương Đường lối cách mạng miền Nam được đồng chí Lê Duẩn gấp rút hoàn thiện. Viết được phần nào ông lại đưa bà cất giữ, hoặc đưa anh Tám chép lại giữa các hàng chữ trong các trang tiểu thuyết đang được phát hành công khai để nghi trang (mực viết là nước ngâm trái ngũ bội, khi viết được chữ nào là chữ đó lặn mất không thấy được) sau này gửi ra Trung ương. Liên tục trong khoảng 6 tháng, đồng chí Lê Duẩn đã hoàn thành bản dự thảo này.
Trong khoảng thời gian gần hai năm 1955-1956, với cương vị là Bí thư Chi bộ, Chánh văn phòng Xứ ủy, bà đã cùng với những đồng đội của mình mưu trí, dũng cảm bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng ở Nam Bộ được an toàn, ngày đêm chăm lo và bảo đảm an toàn cho đồng chí Bí thư Xứ ủy hoàn thành dự thảo tài liệu Đề cương Đường lối cách mạng miền Nam.
Năm 1957, bà chuyển qua công tác binh vận. Năm 1959, do có kẻ phản bội, bà không may bị địch bắt, tra tấn, dùng mọi thủ đoạn từ cám dỗ mua chuộc đến tra khảo cực hình, từ đòn ly gián trắng trợn đến tinh vi, dùng bức cung nhục hình đến đem con nhỏ ra lung lạc…, lưu đày dã man qua hết nhà tù này đến trại giam khác cho đến gần ngày giải phóng nhưng bà vẫn luôn bảo toàn khí tiết kiên cường của người cộng sản