Ngày gia đình Nhung chuyển về đây thì nghề đốt vôi, từng là kế sinh nhai chủ yếu của người dân nơi này đã qua thời cực thịnh từ lâu. Cả xóm chỉ còn mỗi chú Lường là thỉnh thoảng vẫn lên lò. Chú bảo đốt vôi để hoài niệm. Nghe thế, thằng Thiêm - em trai Nhung, bĩu môi: "Khói than bùn với khí đá bốc lên khét lèn lẹt, cứ như cầm bình gas xì vào mũi người ta. Có ngày toi đời vì ung thư phổi. Rõ là hâm". Nhung không nghĩ chú hâm. Nhiều người, nhất là người đứng tuổi, thường sống bằng nỗi nhớ nhung về những tháng ngày đã qua.
Chú Lường thuộc loại dị tướng. Người chú lùn xoẳn một mẩu. Đầu to như quả bí ngô. Tóc quăn tít, hai mắt lồi ra. Cộng với màu da đen đến không thể đen hơn, nhìn chú người ta nghĩ ngay đến một sản phẩm bị nung quá lửa. Tóm lại về hình thức chú thuộc loại xấu. Xấu đến mức vô lý. Thậm vô lý.
Xóm Lò Vôi gọi chú là Lường "ma". Nhung không biết tại sao lại có cái biệt danh sởn da gà ấy. Cho đến một hôm Nhung bắt gặp chú đi từ nghĩa địa Mả Mới về, vai vác tấm ván nặng trịch. Thứ ván quan tài mà người bốc mả sau khi mang cốt đi vẫn vứt la liệt ở miệng huyệt. "Tao mang về nhóm lò cho đỡ phí. Thứ này đượm lửa lắm". Nghe đến đấy, người Nhung lạnh ngắt, trời đất xung quanh xoay như chong chóng. Tối ấy, cô lên cơn sốt, mơ toàn ác mộng. Trong cơn mơ, Nhung thấy chú Lường tay cầm những mảnh quan tài, phe phẩy tựa diễn viên chèo múa quạt, nhảy nhót như lên đồng bên những lỗ huyệt cũ. Đận ấy, Nhung nằm liệt giường hơn nửa tháng mới nhúc nhắc dậy đi loanh quanh trong nhà được. Chưa bao giờ cô ốm nặng như thế.
Ông Tơ bà Nguyệt khéo chơi khăm. Xấu như chú Lường lại lấy được cô vợ đẹp. Đi nhiều, gặp nhiều, là người chịu khó quan sát, suy ngẫm nhưng chưa bao giờ Nhung thấy câu "đũa mốc chòi mâm son" lại đúng như thế với trường hợp của chú. Thôi thì ông Trời có mắt, không lấy hết của ai cái gì bao giờ. Dì Hoà - vợ chú - là người đàn bà đẹp. Mặt hoa da phấn, cặp môi hơi trễ gọi tình, đôi mắt biết nói, cộng với dáng người nói như thanh niên thời nay là "chuẩn không cần chỉnh", dì Hòa trở thành thỏi nam châm đối với bất cứ người đàn ông nào. Thời trẻ, dì từng tuyên bố: "Thanh niên xóm Lò Vôi không mống nào lọt mắt tôi". Thế mà cuối cùng dì làm mọi người ngã bổ chửng vì lấy chú Lường.
Tất cả chỉ tại một thằng bật bông.
Nhưng chuyện ấy mãi sau này Nhung mới biết.
Chú Lường thuộc tuýp đàn ông "váy vợ bầu trời bao la". Trăm thứ bà giằn trong gia đình, từ chuyện lớn như mua đất, làm nhà đến bé như cây kim, sợi chỉ đều một tay dì Hòa lo.Việc của chú Lường chỉ đơn giản là gật. Đúng gật. Sai gật. Không đúng không sai cũng gật. Gật vì chả bao giờ chú quan tâm chuyện vợ làm là đúng hay sai. Cái gia đình tưởng chừng như ông chẳng bà chuộc, mọi thứ đều ở thái cực khác nhau ấy giữ được sự bình yên cũng là nhờ những cái gật vô tội vạ của chú Lường.
Nhưng đời chả ai học được chữ ngờ.
Cặp chồng cú - vợ tiên ấy cãi nhau to.
Chú Lường văng tục, đòi gí của quý vào mặt vợ. Còn dì Hòa, lần đầu Nhung nghe chuyện dì đem cái hình thức xấu xí, thậm chí cả chuyện thâm cung bí sử vợ chồng ra hạ nhục chú Lường. Dì bảo chú Lường thuộc lại đàn ông không nên "cơm cháo" gì. Ai cũng hiểu "cơm cháo" mà dì vừa nói không phải theo nghĩa… cơm cháo thông thường.
Nguyên do chỉ vì cái lò vôi.
Trong vòng nửa giờ chú Lường đi vắng, vật thể "hoài niệm" của chú chỉ còn là một bãi đất trống. Dì Hoà thuê máy ủi san phẳng di tích cuối cùng của xóm Lò Vôi.
Chú Lường nổi khùng, định làm loạn.
Dì Hoà quyết không nhượng bộ, như từ xưa đến nay vẫn thế.
Xóm Lò Vôi nín thở chờ đợi.
Rốt cục, chả biết dì Hòa đã làm gì, nói gì nhưng mèo lại hoàn mèo, mọi thứ đâu về đó. Chú Lường vẫn là người đàn ông biết nghe lời vợ, dù có uất ức chút ít.
Dì Hòa thuê máy ủi về san phẳng lò vôi của chồng không phải chỉ để cho vui. Dì chưa bao giờ làm việc gì chỉ để vui cả. Nhưng dì làm để mua vui cho người khác. Và thu tiền.
Quán cà phê đèn mờ mới mọc lên có cái tên nghe cực kỳ văn học: Bạch Vân thư quán.
Nhưng thực tế chẳng lãng mạn chút nào. Đời vẫn thế, đôi khi tên chẳng liên quan gì đến bản chất chủ thể. Nhất là trong thời buổi người người, nhà nhà đang lao như thiêu thân vào cuộc đua hình thức, coi hình thức là thứ trên hết, không có hình thức kha khá một tí thì cứ làm như không thể sống nổi với đời.
Bà chủ quán xinh đẹp lúng liếng đi ra đi vào cùng với đám em út mắt xanh mỏ đỏ lượn lờ trở thành thứ mồi câu không thể cưỡng được của lũ đàn ông no cơm ấm cật, dậm dật mọi nơi, tối tối rửng mỡ từ bên kia thị xã phóng xe qua cầu… hóng mát.
Thiên hạ có tiền nghĩ ra lắm kiểu ăn chơi quái đản. Hóng mát mà lại chui vào những ô quán vừa kín vừa bé tin hin như tổ tò vò. Mát mẻ đâu chả biết, chỉ thấy mồ hôi nhễ nhại, mặt mũi phờ phạc như vừa vật nhau với ma. Nhung chơi với chị Phấn Béo, chủ hiệu thuốc tây bên kia cầu. Có hôm gặp nhau, chị bô bô: "Con mụ Hòa chủ quán Bạch Vân thế mà gớm, mỗi tháng nó thầu của chị những mấy trăm cái bao cao su cơ em ạ". Nghe thế, Nhung vội chạy vào nhà vệ sinh nôn thốc nôn tháo như thể vừa ăn phải mùn thớt. Có người còn ác mồm ác miệng bảo nếu khách có nhu cầu thì bà chủ cũng có thể hạ mình làm nhân viên như thường. Miễn là biết chơi đẹp.
Từ dạo nhà mở quán đèn mờ, dăm thì mười họa Nhung mới thấy chú Lường một lần. Gặp ai chú cũng cúi gằm mặt, cố bước thật nhanh. Dân xóm Lò Vôi nhìn chú như thể con bệnh truyền nhiễm, tránh càng xa càng tốt. Khác với chồng, dì Hòa đi đâu cũng vác bộ mặt câng câng khó ưa. Đứng giữa chợ, tay huơ huơ miếng thịt lợn mông sấn to tướng, dì lớn tiếng tuyên bố: "Có cung ắt phải có cầu, tôi buôn ba vạn chín nghìn, chả ảnh hưởng đến ai sất. Ai có mồm người ấy giữ lấy… mà dùng. Cấm xía vào việc nhà người khác".
Chẳng ai dại gì dây vào tổ ong bò vẽ. Khó coi đến mấy thì cũng nhắm mắt cho qua, sai phạm đã có chính quyền xử lý, lớ xớ lại thiệt thân. Dân xóm Lò Vôi người nào cũng nghĩ thế.
Ngày qua ngày, Bạch Vân thư quán vẫn nhộn nhịp khác thường. Lắm chuyện cười ra nước mắt cũng từ cái quán ấy mà ra.
Một hôm, lão Xoắn say đi chăn bò dưới chân núi Chóp Nón. Mải cắm đầu theo mấy ván cờ tướng nên để lạc mất con bê. Lão vác dao quắm đi tìm. Chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào lại chui vào vườn chú Bường. Mấy con mắt xanh mỏ đỏ tưởng là khách. Thế là a lê hấp, một hai ba cả đám nhào ra. Lão Xoắn bảo tôi đi tìm bò lạc. Anh ơi bò lạc đây rồi còn tìm đâu xa nữa. "Anh" già, sức yếu, nhân tay nguều ngoào như nhện nước, bao nhiêu sinh lực trôi theo rượu hết nên chỉ phản kháng bằng mồm. Thế là các em vật "bò lạc" ra giường, may mà chưa kịp hành sự thì bà chủ về. Lão Xoắn thoát nạn yêu tinh nhưng hậm hực lắm. Hôm sau uống say lão cứ đứng ở cổng Bạch Vân thư quán mà chửi như hát. Chanh chua chuối chát tầm dì Hòa cũng im thin thít. Im là phải, vừa sai lại vừa chả dại gì dây vào lão Chí Phèo xóm Lò Vôi. Tránh voi chả xấu mặt nào. Dì khôn chán. Nhung nghĩ, với chồng dì cũng có cái đức nhường nhịn ấy thì chú Lường được nhờ to.
Bữa nhà Nhung làm giỗ ông nội, bố cô mời cả chú Lường. Phần vì là hàng xóm, phần nữa bố Nhung cũng không ác cảm với chú. Đám giỗ tan, mọi người về hết mới thấy chú xách chai rượu lò dò sang. Mẹ cô dọn mâm ra, chú không ăn, chỉ cắm mặt uống tì tì. Gần hết chai rượu, chú ngẩng lên, mắt đỏ đọc như bị giội nước. Chú khóc. Hai vai run lên từng đợt theo tiếng nấc, khuôn mặt nhăn nhúm, đau đớn, khổ sở đến cùng cực. Bố cô phải an ủi mãi chú mới thôi. Trước lúc về chú thở dài não nề rồi bảo: "Đời em kể như xong. Nhưng còn thằng Thịnh con em. Em chỉ có mỗi nó. Nó đang tuổi ăn tuổi lớn, đi ra đi vào bị cái cảnh nhơ nhớp ấy úp vào mặt thì anh bảo nên người sao được".
Thằng Thịnh 16 tuổi, cái tuổi bắt đầu trổ mã, lớn lộc ngộc, ngày đi học, tối về đón khách, trông xe, thậm chí có hôm thay mẹ xếp "lịch làm việc" cho đám mắt xanh mỏ đỏ. Chú Lường không lo thằng con hư hỏng mới là chuyện lạ…
Nhưng lo như chú thì cũng chỉ bằng không. Ai có việc người nấy, mọi sự vẫn chỉ như nước chảy bèo trôi.
Dăm ba lần dì Hòa bị chính quyền xã gọi lên làm việc. Lên rồi lại về, bộ mặt dì vẫn câng câng như cũ. Cái vẻ câng câng vênh váo đầy thách thức của kẻ đang thắng thế, ý muốn nói: Tôi cứ thế đấy, ai làm gì được tôi thì làm, coi chừng sứt răng mẻ trán, chẳng phải đầu thì cũng phải tai.
Trong nhà, dì Hoà coi chú Lường như kẻ chết rồi. Có hôm, Nhung tận mắt chứng kiến dì xỉa xói vào mặt đức lang quân: "Ông muốn đi đằng trời đằng đất nào thì đi. Khuất càng lâu càng tốt, ở nhà chỉ tổ kỳ đà cản mũi, hỏng việc". Đàn ông mà có người nhịn nhục được như chú Lường kể cũng hiếm. Ngày này qua ngày khác, chú vật vờ như bóng ma. Thỉnh thoảng chú rủ lão Xoắn đi uống rượu. Uống say, chân nam đá chân chiêu, hai người đàn ông ôm nhau khóc. Chú Lường sụt sịt như gái sắp về nhà chồng: "Ông Xoắn, chỉ có ông mới hiểu được cháu thôi. Đời cháu đúng là nhục… nhục hết chỗ nói ông ạ". Lão Xoắn thở khò khè, nói không ra hơi: "Thôi, đừng khóc. Cái giá của vợ đẹp đấy con ạ. Người đẹp là yêu tinh, rõ chửa?".
Người đẹp là yêu tinh.
Nhưng không phải cứ yêu tinh thì muốn làm gì cũng được.
Tức nước vỡ bờ.
Hôm ấy mất điện. Tháng 11 ta, rét căm căm. Gió bấc thổi qua nóc nhà ù ù như bão, lại thêm mưa phùn nên khí trời càng buốt. Cơm tối xong, hầu hết mọi người đều lên giường, chui vào chăn ấm. Tivi không, đài đóm không, tối như hũ nút, cộng thêm cái rét kim châm thì tốt nhất là chui vào chăn cho nó lành. Có các vàng vào lúc ấy cũng chẳng ai dại gì mà ra đường.
Nhưng rồi tất cả phải nhao ra khỏi nhà. Như tổ kiến bị giội nước sôi.
Bạch Vân thư quán bốc hỏa, lửa cháy sáng rực cả một góc trời.
Đám khách phong tình với lũ cave đang lúc hành sự bị bà hỏa viếng thăm bất ngờ cứ để nguyên hiện trạng bán sống bán chết bỏ chạy ra ngoài. Trông qua, giống như đang xem một bộ phim về thời tiền sử hoặc đứng trước một lễ hội khỏa thân nào đó tận châu Âu, châu Mỹ.
Dì Hòa xõa tóc chạy quanh gào khóc thảm thiết. Có ai đó hét lạc giọng: "Còn thằng Thịnh ở trong nhà". Nhung thoáng thấy bóng chú Lường lao vào đám cháy. Ngọn lửa tựa con quái vật há cái miệng tham lam, nóng rực như muốn nuốt chửng cái bóng loắt choắt của chú. Trong chốc lát, chú Lường bế đứa con trai chạy đến cửa. Thanh xà cháy dở đổ ụp xuống. Chú vươn mình ra, che cho thằng Thịnh. Chú Lường gục xuống. Những tiếng la thất thanh đồng loạt cất lên. Đám khói đen đặc bao trùm lên tất cả. Chỉ có tiếng khóc của dì Hòa là nghe thật ai oán, thê lương…
Thằng Thịnh thoát chết nhưng chú Lường không qua khỏi. Cái chết của chú khiến xóm Lò Vôi bàng hoàng. Người ta đặt chú lên bãi cỏ, bên cạnh cái cơ ngơi vừa bị hỏa thần thiêu rụi. Mọi người xúm vòng trong vòng ngoài. Ngọn lửa đã làm thân thể chú bị biến dạng, trông rất đáng sợ. Nhưng có một chỗ ai cũng nhận ra, bí mật ghê gớm của đời chú bây giờ mọi người mới biết: Bộ phận để duy trì nòi giống của chú là thứ vô dụng, chẳng khác gì hoạn quan trong triều đình phong kiến ngày xưa. Lão Xoắn trực tiếp khâm liệm cho chú. Lão quắc mắt với những kẻ tò mò xung quanh: "Nhìn gì? Lạ lắm phỏng? Đây biết từ lâu rồi. Hồi bé, nó đi tắm sông. Nhảy từ trên bờ xuống, bị cọc tre xiên vào, không có tôi vác chạy hơn chục cây số lên bệnh viện thì "xanh" từ lâu rồi". Rồi lão khóc rống lên: "Lường ơi! Mồ cha không khóc, khóc tổ mối. Sao lại phải thiệt mạng vì con của kẻ khác, cái thằng bật bông đểu giả ấy, tao còn lạ gì"… Nhung nghĩ chắc lão đau lòng mà khóc thế thôi, chứ trong trường hợp ấy chẳng ai nỡ lòng đứng nhìn thằng bé bị nướng chín trong đám cháy.
Cháy nhà ra… bí mật. Bây giờ, mọi người mới biết thằng Thịnh là giọt máu rơi của gã bật bông dẻo mỏ nào đấy. Chơi hoa thưởng nguyệt xong gã xa chạy cao bay. Chú Lường chỉ như thứ bình phong giúp dì Hoà giấu đi tiếng xấu chửa hoang. Để có được cú thoát hiểm ngoạn mục ấy, bố mẹ dì đã phải nhờ lão Xoắn ra tay. Lão vốn là chỗ thân tình với gia đình chú Lường. Với lão, dăm bữa cơm no rượu say là xong tất. Kể cũng lạ, người ta nói rượu vào lời ra, lão say sưa tối ngày nhưng tịnh chưa ai nghe thấy lão hở ra dù chỉ là tí ti về những bí mật động trời kia của vợ chồng nhà Lường - Hòa. Chú Lường chết rồi, người ở xóm Lò Vôi bây giờ mới ngỡ ngàng tự hỏi không biết chú lấy đâu ra động lực để mười mấy năm nay nhịn vợ như nhịn cơm sống, yêu thương con kẻ khác như con đẻ của mình, thậm chí còn chết thay nó. Hóa ra Lường "ma" không chỉ có hình thức xấu xí, chỉ biết đốt vôi và nghe lời vợ. Điều này thì bây giờ không ai là không biết. Nhưng sự thật về chú Lường không chỉ có thế.
Chính chú là kẻ đã phóng hỏa đốt Bạch Vân thư quán.
Hôm ấy, chú Lường tận mắt thấy thằng Thịnh cắn thuốc lắc với mấy ả cave. Chú nhảy vào can ngăn thì bị thằng con trong cơn phê thuốc cầm dao chọc tiết lợn đuổi chạy quanh nhà.
Giọt nước nhỏ ấy đã làm tràn ly.
Ung nhọt tồn tại lâu nay giữa xóm Lò Vôi cuối cùng cũng có người gỡ bỏ.
Chỉ có điều chú Lường đã làm theo cách không thể tiêu cực hơn và phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Người đốt vôi cuối cùng dưới chân núi Chóp Nón đã chết. Một cái chết buồn thảm.
Sau đận ấy, bố Nhung vào vận đỏ, làm ăn trúng mánh liên tục, kiếm đủ tiền chuộc lại căn nhà trong thị xã. Cả gia đình cô rời xóm Lò Vôi. Thi thoảng có việc, Nhung lại qua cầu trở lại nơi cô đã sống những ngày tạm bợ ấy. Tạm bợ nhưng không thể quên. Cái xóm nhỏ dưới chân núi Chóp Nón bây giờ chẳng còn ai đốt vôi để hoài niệm nữa. Dì Hòa đưa thằng Thịnh phiêu bạt nơi nào không ai biết. Mỗi lần đi ngang căn nhà cũ của chú Lường, Nhung lại thấy như có mùi thoang thoảng của khí đá và than bùn bốc lên. Mùi của mẻ vôi mới lên lò. Có tiếng chim "bắt cô trói cột" từ khu vườn hoang cất lên nghe ai oán. Nhung giật mình mới biết đó chỉ là ảo giác…