Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển từ tư duy "thu hút FDI" sang "phát triển nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài", hướng tới dòng vốn chất lượng cao, tạo giá trị gia tăng, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, đặc biệt là nâng cao nội lực quốc gia. Xung quanh những điểm mới và kỳ vọng từ Nghị quyết, phóng viên chuyên mục "Trò chuyện cuối tuần" đã trao đổi với TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch & Đầu tư, nay là Bộ Tài chính).
PV: Thưa ông, đâu là những điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW và ý nghĩa của sự thay đổi tư duy từ "thu hút FDI" sang "phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài"?
TS. Phan Hữu Thắng: Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ điều chỉnh chính sách thu hút FDI mà thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điểm mới nổi bật là chuyển từ thu hút FDI sang phát triển nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; từ coi trọng vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng; từ ưu đãi đầu vào sang ưu đãi theo kết quả; từ phát triển FDI đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái đầu tư quốc tế; và từ cạnh tranh thu hút giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia.
Ý nghĩa lớn nhất của sự thay đổi này là chuyển từ mục tiêu thu hút vốn sang phát triển nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với lợi ích tổng thể của quốc gia, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
PV: Sau gần 40 năm thu hút FDI, Việt Nam vẫn còn những hạn chế như tỷ lệ nội địa hóa thấp, liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn yếu hay chuyển giao công nghệ chưa đạt kỳ vọng. Theo ông, Nghị quyết số 10 sẽ tháo gỡ những "điểm nghẽn" này như thế nào?
TS. Phan Hữu Thắng: Sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh những kết quả rất tích cực, chúng ta cũng đã nhận diện rõ những hạn chế như tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ, hiệu quả chuyển giao công nghệ và lan tỏa còn chưa đạt kỳ vọng.
Để khắc phục những "điểm nghẽn" này, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ đột phá. Đó là: Đổi mới nhận thức; đột phá về thể chế; phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới; nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Theo tôi, đây là hệ thống giải pháp toàn diện, bao quát từ khâu hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến đổi mới phương thức thu hút và quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất là phải triển khai đồng bộ, đầy đủ và hiệu quả cả 7 nhóm nhiệm vụ đột phá. Chỉ khi các giải pháp được thực hiện thống nhất và xuyên suốt thì mới có thể tạo chuyển biến thực chất trong việc nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và phát huy hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế.
Phóng viên Báo Công an nhân dân trao đổi cùng với TS. Phan Hữu Thắng.
PV: Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt và thuế tối thiểu toàn cầu có hiệu lực, Việt Nam cần tạo dựng lợi thế gì để hấp dẫn các tập đoàn đa quốc gia?
TS. Phan Hữu Thắng: Thực tiễn thu hút đầu tư quốc tế những năm gần đây cho thấy, Việt Nam không thể tiếp tục cạnh tranh bằng lao động giá rẻ, quỹ đất hay ưu đãi thuế. Tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia đã thay đổi rất nhiều.
Hiện nay, điều họ quan tâm trước hết là môi trường chính trị ổn định, chính sách đầu tư minh bạch và nhất quán, cùng với thời gian thực hiện thủ tục đầu tư nhanh nhất có thể. Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, thời gian chính là ưu đãi lớn nhất đối với nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, yếu tố có tính quyết định là nguồn nhân lực chất lượng cao. Các dự án thuộc lĩnh vực AI, bán dẫn, tự động hóa, dữ liệu hay vật liệu mới đều đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và chuyên gia có trình độ cao. Đây là nhu cầu rất lớn của nền kinh tế toàn cầu trong giai đoạn phát triển mới.
Việt Nam có lợi thế về sự ổn định chính trị và định hướng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rõ ràng. Tuy nhiên, để đón được làn sóng FDI thế hệ mới, điều cấp thiết nhất là phải đẩy nhanh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư trong những ngành công nghệ chiến lược. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.
PV: Một điểm mới rất đáng chú ý là Nghị quyết số 10-NQQ/TW chuyển từ ưu đãi đầu vào sang ưu đãi dựa trên kết quả đầu ra, gắn với các cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển nhà cung ứng trong nước và tạo giá trị gia tăng. Theo ông, cơ chế này sẽ tác động như thế nào đến nhà đầu tư và địa phương?
TS. Phan Hữu Thắng: Một trong những điểm đổi mới cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQQ/TW là chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi dựa trên kết quả đầu ra. Điều đó có nghĩa, mức độ hỗ trợ dành cho nhà đầu tư sẽ gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nguồn nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Theo tôi, đây là bước thay đổi rất quan trọng, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển mới của Việt Nam, vừa tiệm cận thông lệ quốc tế trong thu hút đầu tư nước ngoài. Các tập đoàn đa quốc gia hiện nay không chỉ quan tâm đến ưu đãi, mà cũng hiểu rằng giá trị thực của một dự án được đo bằng những đóng góp cụ thể cho nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư.
Việc Nghị quyết số 10-NQQ/TW đặt ra cơ chế ưu đãi theo kết quả thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy thu hút FDI của Việt Nam. Thay vì ưu tiên quy mô vốn hay số lượng dự án, chúng ta sẽ đánh giá và lựa chọn nhà đầu tư dựa trên hiệu quả thực tế, mức độ lan tỏa công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và những giá trị gia tăng mà dự án mang lại cho nền kinh tế. Đây cũng sẽ là cơ sở để nâng cao chất lượng dòng vốn FDI trong giai đoạn tới.
Nghị quyết định hướng chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang phát triển theo cụm ngành, chuỗi giá trị và liên kết vùng. Vì vậy, mục tiêu hiện nay không còn là thu hút nhiều dự án mà là thu hút đúng nhà đầu tư, ưu tiên các dự án có cam kết chuyển giao công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, các địa phương cần chuyển từ cạnh tranh thu hút FDI sang phối hợp phát triển theo lợi thế vùng và chuỗi giá trị, để dòng vốn FDI tạo hiệu ứng lan tỏa, nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam và đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
PV: Ông kỳ vọng như thế nào về bức tranh FDI giai đoạn 2026-2030 khi Nghị quyết số 10-NQ/TW được triển khai?
TS. Phan Hữu Thắng: Tôi cho rằng, việc ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW đã tạo khuôn khổ chiến lược khá đầy đủ cho phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới. Những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm đều đã được xác định rõ.
Vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức thực hiện đồng bộ và hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết. Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là tiếp tục đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân.
Cùng với đó, cần khuyến khích các doanh nghiệp FDI nâng cao trách nhiệm, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, chia sẻ tri thức, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam và đồng hành lâu dài với quá trình phát triển của nền kinh tế. Khi dòng vốn FDI thực sự gắn kết với khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và nguồn nhân lực, mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh và nội lực của nền kinh tế sẽ từng bước trở thành hiện thực.
PV: Nghị quyết khẳng định "không thu hút đầu tư để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực". Theo ông, việc thay đổi tiêu chí đánh giá hiệu quả FDI sẽ tác động như thế nào đến chiến lược thu hút đầu tư trong thời gian tới?
TS. Phan Hữu Thắng: Thực tế, Việt Nam đã có cơ sở để thay đổi "thước đo" hiệu quả FDI. Đó là Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được ban hành kèm theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 18/2/2025 của Thủ tướng Chính phủ.
Bộ tiêu chí này không còn chỉ đánh giá dự án dựa trên quy mô vốn đầu tư, mà đặt trọng tâm vào chất lượng và hiệu quả đóng góp đối với nền kinh tế. Trong đó, nhóm tiêu chí kinh tế gồm 29 chỉ tiêu đánh giá các yếu tố như quy mô vốn, tốc độ tăng trưởng, năng suất lao động, trình độ công nghệ, đóng góp ngân sách và đặc biệt là khả năng liên kết, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó còn có nhóm tiêu chí xã hội với 8 chỉ tiêu và nhóm tiêu chí môi trường với 6 chỉ tiêu.
Việc áp dụng bộ tiêu chí này sẽ giúp Việt Nam chuyển từ tư duy đánh giá FDI dựa trên số lượng và quy mô vốn sang đánh giá bằng chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp thực chất của dự án. Đây cũng là cơ sở quan trọng để lựa chọn các dự án FDI có giá trị gia tăng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa và phát triển bền vững, đúng với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW.
PV: Lần đầu tiên, Nghị quyết số 10 đề cập phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do trong chiến lược phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo ông, điều này mang ý nghĩa gì?
TS. Phan Hữu Thắng: Điều đó cho thấy tư duy phát triển đã toàn diện hơn, không chỉ tập trung vào FDI mà hướng tới cả dòng vốn đầu tư gián tiếp và các nguồn lực tài chính quốc tế. Muốn thu hút hiệu quả các dòng vốn dài hạn, đồng thời bảo đảm an ninh tài chính và kiểm soát rủi ro, Việt Nam cần tổ chức thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết 10 đã đề ra. Đây là nền tảng để phát huy hiệu quả của cả hệ sinh thái đầu tư quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.
PV: Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, theo ông, đâu là đột phá cần ưu tiên khi triển khai Nghị quyết số 10?
TS. Phan Hữu Thắng: Nghị quyết số 10-NQ/TW hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm thu hút đầu tư, đổi mới sáng tạo, R&D và sản xuất công nghệ cao của khu vực. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, chúng ta phải chuyển mạnh từ thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn các dự án có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng lan tỏa.
Theo tôi, ba đột phá cần ưu tiên là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh.
Thành công của Nghị quyết sẽ không được đo bằng số vốn FDI thu hút được, mà bằng trình độ công nghệ tiếp nhận, năng suất lao động được cải thiện và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam được nâng lên. Đây mới là nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
PV: Thưa ông, Chính phủ đang đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới. Theo ông, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc tạo động lực cho mục tiêu này?
TS. Phan Hữu Thắng: Tôi cho rằng Nghị quyết số 10-NQ/TW có ý nghĩa rất quan trọng vì thể hiện sự chuyển đổi trong tư duy phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu trước đây chúng ta chủ yếu quan tâm đến quy mô vốn FDI thì nay trọng tâm là chất lượng, hiệu quả và khả năng lan tỏa của dòng vốn đối với nền kinh tế.
Đây cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, Việt Nam không thể chỉ dựa vào mở rộng đầu tư hay lợi thế lao động chi phí thấp mà phải dựa vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Nghị quyết số 10 -NQ/TW đã định hướng rất rõ việc ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, năng lượng sạch và sản xuất thiết bị công nghệ cao. Đây đều là những lĩnh vực không chỉ tạo thêm năng lực sản xuất mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất lao động, năng suất tổng hợp (TFP) và hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại.
Thực tế 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy động lực tăng trưởng lớn nhất tiếp tục đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, trong đó nhiều dự án FDI công nghệ cao tại Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Đồng Nai hay TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng sản xuất và đóng góp tích cực cho tăng trưởng. Điều này khẳng định khu vực FDI tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải tạo được hiệu ứng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng sẽ được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế. Đồng thời, xuất khẩu sẽ không chỉ tăng về quy mô mà còn nâng cao chất lượng, hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức lớn nhưng hoàn toàn có cơ sở nếu chúng ta lựa chọn đúng động lực phát triển. Bên cạnh các động lực truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, Việt Nam cần tạo đột phá từ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đặc biệt là dòng vốn FDI chất lượng cao. Vì vậy, trong giai đoạn tới, câu hỏi không còn là Việt Nam thu hút được bao nhiêu tỷ USD vốn FDI, mà là thu hút được bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu tri thức, bao nhiêu năng lực đổi mới sáng tạo và bao nhiêu giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đó mới là thước đo thành công của Nghị quyết số 10-NQ/TW và cũng là nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số theo hướng bền vững.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!