Theo lời kể của nhà nghiên cứu Chương Thâu, năm 1961, bà Nguyễn Thị Phúc, vợ hai của ông Phan Nghi Huynh (trưởng nam của cụ Phan Bội Châu) có trao lại một tập “di thảo’” chữ Hán viết tay của nhà chí sĩ. Tập sách đó đã bị rách nát và bị xé mất một số tờ. Chữ viết cũng đã mờ, cực kỳ khó đọc. Tuy nhiên, nhờ sự giúp đỡ của các bậc túc nho hiệu đính, bổ sung nên cuối cùng vẫn khôi phục lại được một phần nguyên tác. Nhà nghiên cứu Chương Thâu đã kỳ công dịch lại tài liệu này và truyền bá nội dung của nó. Chính ở trong những trang viết ít ỏi đó đã chứa đựng rất nhiều suy tư chí lý của nhà chí sĩ về những bất cập trong tín ngưỡng và phong tục của người Việt ta.
Không được kỳ thị
Phan Bội Châu là một người Nho học, lên sáu tuổi đã thuộc Tam Tự kinh làu làu như cháo. 7 tuổi, cậu bé San đã đọc hiểu sách Luận ngữ và 13 tuổi, thi đỗ đầu huyện. Tuy nhiên, sở học uyên thâm nhưng tính cách ngang tàng đã khiến cho ông gặp không ít long đong trong sự nghiệp khoa cử, thậm chí còn bị cấm thi một thời gian dài. Và chỉ tới năm ngoài 30 tuổi (1900), nhờ bạn bè mến mộ tài năng nói đỡ cho nên mới được vua Thành Thái ân xá cho đi thi và ngay lập tức đỗ giải nguyên ở trường thi Nghệ An… Kể vậy để thấy rằng, Phan Bội Châu là người thấm nhuần đạo Khổng hơn ai hết. Thế nhưng, khác với không ít bậc túc nho đồng thời, Phan Bội Châu không bao giờ hẹp hòi về chuyện tín ngưỡng. Ông quan niệm: “Người ta đều có quyền tự do tín ngưỡng. Ai muốn theo đạo Khổng thì cứ theo đạo Khổng. Ai muốn theo đạo Phật thì cứ theo đạo Phật, ai muốn theo đạo Gia Tô (Thiên chúa giáo) thì cứ theo đạo Gia Tô. Nếu đạo giáo ấy đúng đắn thì can gì mà phải ruồng bỏ một cách nghiêm khắc. Nếu đạo giáo ấy mà xằng bậy thì dù người ta có bị mê hoặc trong một thời chăng nữa, lâu rồi cũng phải đến sinh lòng chán bỏ mà thôi, cần gì phải chê bai cừu địch lẫn nhau…”.
Phan Bội Châu luôn phê phán cái trò “vụng múa chê đất lệch”. Ông cho rằng, nếu có việc tín hữu trong một tôn giáo hay học thuyết nào đấy mà phạm sai lầm thì lỗi là do chính những con người đó chứ không phải do chủ thuyết hay tôn giáo mà họ tin vào: “Ôi! Đạo Khổng sinh ra từ bên Bắc, mà theo đạo Khổng là người Việt Nam. Do Gia Tô, đạo Phật sinh ra từ phương Tây mà theo đạo Phật, đạo Gia Tô cũng là người Việt Nam ta. Các đạo giáo ấy không phải sinh từ nước ta, mà các điều tệ hại của nó thì lại do nước ta mà sinh ra. Cũng như mời ba ông người xóm giềng đến làm thầy dạy học, mà con em trong một nhà lại khích bác lẫn nhau, kèn cựa lẫn nhau, như thế tưởng không phải là người có lòng tốt thích làm. Ta trông mong các nhà tôn giáo không nên bàn tôn giáo nào phải hay trái, chỉ nên bàn nước mình mạnh hay yếu, không nên bàn tôn giáo nào giống nhau khác nhau, mà chỉ nên bàn nước còn hay mất. Hãy một lòng yêu nước yêu nòi, liều chết chống giặc. Hãy một lòng vì nghĩa. Nếu được như thế thì không cần phải bàn là theo đạo Khổng, đạo Phật hay đạo Gia Tô. Về sau nếu muốn theo đạo nào thì cũng còn nòi giống để mà theo. Nếu không thế thì nòi mất rồi, giống tuyệt rồi, lấy đâu mà tôn sòng làm sáng lớn tôn giáo nữa. Than ôi!!”.
Hủ bại thì bỏ
Phan Bội Châu cũng là người hiểu hơn ai hết những tai ách mà thói tục thông thường vẫn đè nặng lên con người, ngay cả đối với các trí giả. Ông từng than thở: “Kẻ sĩ sinh ra đời có thể làm được trăm việc, chỉ không sửa đổi được phong tục. Phong tục là tên giặc vô lại của nhà nho. Nếu đánh nó thì sức mình không đủ để thắng nó một mình, mà phục tùng nó thì sẽ bị nó làm khốn đốn. Tuân Tử nói rằng: Khom lưng làm tôi mọi suốt đời, mà không dám có chí khác, đấy là kẻ tục nho. Kẻ hào kiệt nên sửa tục, chớ không nên theo tục, nên nhổ tục đi mà không nên chịu ép vì tục. Nếu tục mà hay thì theo cũng được, nhưng nếu tục dở mà theo tục thì không bị tục làm hỏng cũng rất ít…”.
Với tinh thần cầu thị và dũng cảm, ông đã nhận xét thẳng thắn về những hạn chế của người ta trong việc a dua theo thói tục: “Nước ta mọi việc đều hết sức làm theo tục. Phàm những tục tình, tục hiếu, bỉ tục, đồi tục, mọi người nước ta đều mang một bị sau lưng, để dùng trên thế giới, hun đúc dầm ngấm, do đó mà đúc nên vô số người tục, có mắt tục, tai tục, xương tục, ruột tục. Nếu trong đó, có ai muốn thoát ra ngoài tục thì mọi miệng xôn xao như bầy kiến bám lấy thịt thối, trăm mũi tên nhằm vào bia đích, làm cho người đó nhiễm tục mới thôi. Thói tục làm hại người ta đến thế ư? Ta xin mày đừng qua cửa nhà ta mà vào nhà ta nữa. Kha kha!!”.
Phan Bội Châu đã phân tích thấu đáo những mâu thuẫn trong các trò dị đoan phổ biến trong dân gian:
“Tục ma quỷ ở nước Việt Nam rất thịnh, tục ma quỷ ở Việt Nam cũng như tục sùng Phật ở Ấn Độ, tục thờ thần ở Trung Hoa. Đạo Phật và đạo Khổng rất mâu thuẫn với nhau, cho nên có người bảo đạo Phật là kẻ thù của đạo Khổng. Học theo đạo Khổng mà đi thờ kẻ thù nghịch của đạo Khổng, sao các ngươi không nghĩ đến thế? Các ngươi học người cả nước lại mà thờ phụng. Làm chùa, nuôi sư, in kinh, xây tháp, đúc chuông, khắc tượng, hiến quả, dâng hương… Than ôi! Thương thay! Ta biết rồi đấy.
Các ngươi sở dĩ làm như thế, chẳng qua là để cầu hạnh phúc mà thôi. Nhưng cái mà các ngươi bảo là hạnh phúc, người ngoài người ta bảo là tai họa đấy! Những thứ mà các ngươi cầu xin là: sống lâu, nhiều con cái, nhiều vàng bạc, nhiều hầu non trẻ đẹp, xe sang ngựa tốt, vóc nhiễu đầy nhà, đời này lưu truyền qua đời khác, không bao giờ hết. Đấy là mục đích của hạnh phúc của các ngươi đấy! Thế nhưng các ngươi đã nhầm, các ngươi đã nhầm to rồi đấy!”.
Và ông lý giải:
“Tạo được một cái túi đựng cơm có vỏ thịt bền rắn, ngày thì ăn no, đêm thì ngủ kỹ, lúc trẻ nhỏ thì bất tín, bất trung, vô liêm, vô sỉ, đến khi già cả, râu tóc bạc phơ, thì chống gậy trúc, mang đẫy trầu, hễ gặp ai thì tự xưng: Ta năm nay đã 70 tuổi rồi, 80 tuổi rồi, nếu có ai xúc phạm đến thì liền vuốt râu mà nói rằng: râu tóc như thế này, ta là bậc ông, bậc chú các ngươi, bọn trẻ ranh như chúng mà mà dám hỗn xược với chúng tao ư? Đến khi hỏi ruột gan, tâm sự thì chỉ là một khối phẫn vàng mà thôi. Khổng Tử nói rằng, lúc trẻ nhỏ mà không biết khiêm nhường từ tốn, lớn lên thì không có cái gì lưu truyền về sau được, già rồi mà không chết đi, đấy là đồ ăn hại. Đấy những thứ các ngươi gọi là hạnh phúc “đa thọ” là như thế!
Sản sinh được vô số thứ xương tục tanh hôi, Giáp là ruột chó, Ất là tinh heo, Bính thì hại nước, Đinh thì tàn dân, nhan nhản những phương da thối, thịt hôi, ma nhác lừ đừ, suốt ngày say khướt, chỉ biết cúi đầu nạp đủ sưu thuế cho quân thù mà thôi. Đấy là cái các người gọi là phúc “đa nam” như thế!
Đầu đội mũ dát vàng, mình mặc áo màu lục, nghênh ngang trên đời gọi là trượng phu. Thân các người sang đấy, danh các người đẹp đấy. Nay hỏi những công việc các ngươi đã làm, thì róc thịt dân để béo bụng mình, hút máu dân để no ruột mình, rách ruột nát gan, không ăn không ngủ, lo làm sao cho mọi việc được cẩn thận, lo làm sao cho hết lòng trung thành, để được quân thù bắt tay khen. Tốt! Tốt! Đấy là việc hay của các ngươi rồi.
Lại cầu làm sao cho thăng quan tiến chức, trọn đời thảnh thơi. Để sau trăm tuổi, được chết dưới cửa sổ, cái phúc dầy của các người đã đầy đủ vậy!
Các ngươi đem các thứ hạnh phúc ấy mà cầu xin ở Phật, trông mong ở Phật, nịnh hót ở Phật, sự dụng tâm của các ngươi cũng đã khổ sở lắm, sự cầu khẩn của các ngươi cũng đã vất vả lắm.
Nhưng mà các ngươi không có hồn thì thôi, nếu các ngươi còn có hồn thì sao các ngươi không nghĩ đến cái phúc của vua Vũ đế nhà Lương ở Đài Thành xưa! Cái phúc của tên Vương Khảm Nhược ở Thiên Hùng ngày xưa vậy.
Các ngươi không có con mắt thì thôi, nếu còn có con mắt thì sao không trông thấy cái phúc chết đói ở trước mắt và cái phúc mất nòi giống sau này đấy ư?!...”.
Phan Bội Châu cũng nhìn rõ mưu sâu của kẻ thù trong việc tận dụng những tín ngưỡng dị đoan và những hủ tục để làm ngu dân thuộc địa hòng kéo dài thêm ách cai trị của chúng ở nước ta:
“Nay người Pháp bảo vệ ta, các chùa chiền ở hương thôn đều phát tiền bạc cho để sửa sang lại cả. Chúng làm như thế là rất khôn khéo và rất hiểm độc. Một là theo lòng ham thích của các ngươi. Hai là làm cho các ngươi càng thêm ngu. Người xưa thích canh chim cắt, ý muốn tuyệt diệt giống nó, không phải lấy nó làm canh mà thôi, chính cũng giống như thế đấy. Nay người Pháp làm như thế mà có người còn cho là nhân đạo ư? Các ngươi còn trông làm phúc đức ư?
Than ôi! Những cái mà ngày nay người nước ta bảo là nhân đạo, là phúc đức, ta đã biết rồi…”.
Thần ở trong ta
Phan Bội Châu đã rất tinh tường khi nhấn mạnh tới ảnh hưởng tai hại của thần quyền trong tâm thức truyền thống của người Việt. Ông hoàn toàn không đồng tình với thói quen biến mọi sự thành trò a dua với thần quyền. Ông cho rằng: “Trọng lắm thì đắm đuối nhiều, cẩn quá thì mê hoặc sâu”. Vì vậy, “đạo quỷ thần kính mà xa ra, không nên đắm đuối, không nên mê hoặc”.
Phan Bội Châu viết: “Non sông chung đúc, sinh ra thánh triết, vì thế giới mà lập công, vì sinh dân mà thỉnh mệnh. Người sau nhớ đến công đức, dựng bia lập đài kỷ niệm, làm đền thờ cúng, thì rất là đáng. Nhưng chính ít, tà nhiều, thật ít, giả nhiều. Thậm chí có khi đến cả những khối đá quái gở, gốc cây cổ thụ, rừng hoang mả vắng, cũng liệt vào hàng cứu thế độ dân, tôn sùng lậy lục, ngày cầu ở thần, bước bước trông vào thần. Hôm nay thần truyền thế này, ngày mai thần phán thế kia, chết đến trước mắt mà còn trông thần cứu mình, chờ thần giúp mình, quanh năm suốt tháng chôn đầu vào đấy, thì còn mong gì nẩy nở ra tư tưởng được. Sao các ngươi không nghĩ lòng mình tức là thần. Suy tấm lòng ấy ra để làm tấm lòng. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, cứu nhân dân, giết kẻ thù, các ngươi mà biết giữ tấm lòng ấy thì các ngươi đã là thần rồi. Cần gì phải cầu thần ở ngoài đến. Thần ư? Thần ư? Chẳng qua cũng chỉ cầu ở tấm lòng ta mà thôi…”