Sau tất cả những nỗ lực để chống chọi lại cơn bạo bệnh, Tân Linh chia sẻ rằng, biết kiếp sống này đã được ông trời định đoạt và số phận là điều không bao giờ có thể chống lại, dù đó là tốt hay xấu nên sau tất cả sự nỗ lực, anh như thấy mình có một sức mạnh khủng khiếp để sống, để làm việc chăm chỉ, để còn có đủ tâm trí mà viết về những điều thương yêu, cho gia đình, bè bạn… trong nốt quãng đời còn lại.
Tân Linh có một thời tuổi trẻ nhiều trắc trở với đủ nghề kiếm sống, bôn ba trên nhiều vùng đất, cho đến một ngày anh neo đậu ở chốn Hà Thành với nghề báo. Dù không được học lấy một ngày đúng nghĩa, nhưng trong căn cốt của mình, Tân Linh có tình yêu chữ nghĩa. Đó là kết quả của những ngày thơ bé chạy bom chui vào hầm, trời đất đưa đẩy cho anh lạc vào một thư viện sách sơ tán để mà đọc ngấu nghiến những Chekhov, Tolstoy, Lỗ Tấn, Balzac...
Và đó cũng là kết quả của một quá trình tự học bằng trải nghiệm một đời đi. Mười bảy tuổi đang học ở nơi sơ tán, anh về xin mẹ vào chiến trường. Tới ngày giải phóng Quảng Trị quê hương, Tân Linh trở về với tấm thân tiều tụy vì sốt rét rừng, mẹ anh đã khóc. Không biết đó là nước mắt thương nhớ con hay nước mắt mừng anh được sống sót trở về.
Tân Linh kể: Tôi có mặt trên đường Trường Sơn một thời khốc liệt nhất của chiến tranh, Những người lính hát giữa gian khổ đạn bom, sự hy sinh không giây phút đắn đo nào. Đi qua và đi ra từ chiến tranh, tôi thấy cuộc sống hòa bình dựng xây có ý nghĩa hơn và không có gì có thể làm mình sợ hãi, những thất bại trong cuộc đời, thậm chí là cái chết…
Chiến tranh kết thúc, trở về quê, anh lao vào công việc của một Bí thư đoàn, chỉ huy lấp hố bom vá lành lại cánh đồng, dựng lại những mái nhà… Rồi được gọi vào Tây Nguyên làm ở một cơ quan tuyên huấn. Rỗi rãi thì anh đi săn và trồng cà phê. Tân Linh kể lại: “Thời tôi ở Ban Mê, tôi hay chơi với Y Moan, nhà tôi cách cách nhà Y Moan hai cây số. Moan khi ấy mới ba mươi đã nổi đình nổi đám. Mấy lần qua nhà chơi, Moan tất bật với các chương trình biểu diễn phục vụ buôn làng, khi ấy cả ba đứa con Moan còn nhỏ. Nhà ở khu tập thể văn công cạnh vườn cao su, mùa mưa ngập lội. Nghèo quá, Moan tính trồng cà phê, cũng đi làm rẫy như một người Ban Mê thực thụ. Rẫy cà phê của Moan xa thành phố, sáng phải đi thật sớm, đem theo bi đông nước, chai cà phê đen không đường với con dao phát cỏ. Mấy lần Moan rủ tôi vào rẫy nhậu thịt gà thả trong rẫy nhưng chưa thực hiện thì tôi chán trồng cà phê và thú đi săn, bỏ ra Hà Nội học đại học. Học xong, không xin được việc vì nói như bà vụ trưởng tổ chức một tạp chí: “Đất này người ta chỉ nhận tiến sĩ, cùng lắm thạc sĩ thôi!”.
Lại những ngày ăn nhờ ở đậu bạn bè. Rồi làm quen một ông xích lô. Ông đưa về nhà cho mượn một cái xe cũ. Rồi tôi nhập vai xế lô thật sự khi có những ngày không tìm được việc làm, ông già xích lô đã nhường tôi cái xe còn tốt của ông để đi thuê một cái xe khác, cũ hơn và đưa tôi vào nghề. Tôi đạp theo ông lẽo đẽo suốt từ ga Hàng Cỏ vòng sang Cửa
Ngày được, ngày chăng, tôi đã kiếm cơm độ nhật như vậy non nửa năm trời. Những lúc đêm lạnh, hay mệt mỏi, ông lại kéo tôi vào quán cóc bên ngã ba Hàng Cháo - Hàng Bột làm bát cháo nóng, thêm đôi chén rượu trước khi về nhà trọ... Cái mũ lá dừa sùm sụp không giấu đựợc khuôn mặt cá tính gồ ghề nên có bạn bè nhận ra tôi. Họ cứ ngỡ tôi đi “thực tế” kiểu Tam Lang - Vũ Đình Chí viết chuyện làm nghề kéo xe thuở trước. Không ai tin “ông cử” là tôi từng thất nghiệp. Ăn nhờ ở đậu mãi nhà bạn cũng ngại nên tôi nói dối là đi làm ở một tờ báo nọ...
Lúc vắng khách, hay đêm về khó ngủ tôi lại viết. Tôi viết báo để đem bán cho một số tờ tầm tầm kiếm thêm tí nhuận bút. Cũng nhờ đạp xe mà tôi quen một ông Tổng biên tập tờ tạp chí chính trị ấy. Biết tôi có thể viết báo vẽ tranh, ông mời tôi về làm... hoạ sĩ trình bày báo cho ông. Rồi cũng từ những lần đi gửi bài cho các báo, tôi được nhận về một tờ báo lớn hẳn hoi, rồi trở thành nhà báo chuyên nghiệp...”.
Tân Linh kể lại những ngày gian khó mà như chả có chuyện gì quan trọng, chỉ có đôi mắt nhìn xa xăm, như thể cả một trời kỷ niệm ùa về trong ký ức. Có thể vì cái sự gian truân một thời khiến anh trở thành một người nghiêm cẩn trước mọi việc. Anh dù bây giờ đã có tiếng trong nghề, nhưng vẫn luôn là một người lặng lẽ, điềm tĩnh, ít giao du. Anh âm thầm viết, âm thầm sống…
Lý giải cho điều này, Tân Linh tâm niệm: Mọi ồn ào cũng có lúc làm người ta nổi lên như khuấy nước. Khi ta “ngộ” được lẽ đời, thấy mọi chuyện phù phiếm hết. Nghề báo khó giữ mình, nhưng không phải ai cũng quay quắt với nghề tìm danh lợi đâu. Anh lại mang thêm chút lãng mạn thi nhân, thành ra coi mọi thứ đều là “danh lợi bèo trôi”. Nhà văn Hữu Ước những lúc trà dư tửu hậu thường “mắng” anh: “Tao trông mày lúc nào cũng như ngơ ngác trước cuộc đời ấy. Phải quyết liệt. Sống là phải quyết liệt...”. Những lúc ấy anh chỉ thầm cảm ơn người bạn lớn và lặng lẽ... uống! Tính anh không thể ồn ào. Hình như căn cốt nhiễm nỗi cô đơn từ tiền kiếp…
Rồi anh tâm sự: “Với báo Công an nhân dân và An ninh thế giới, tôi không chỉ là một cộng tác viên mà còn là một người bạn. Tôi quý nhà văn, nhà báo Hữu Ước ở nghị lực, ở bản lĩnh làm người và cả cái cách làm báo của anh ấy. Anh ấy là một khối nham thạch lớn. Với Hồng Thanh Quang, tôi thích thơ tình Quang. Chất thơ Hồng Thanh Quang tự nhiên và chân thành chứ không gồng gượng câu chữ mà vẫn thiết tha nồng cháy với nhiều câu thơ tài hoa... Tôi thích sự chân thành trong cách sống của Quang. Mỗi lần ghé tòa soạn ở 100 Yết Kiêu, dù bận mấy nhưng Quang cũng ngồi tiếp tôi như là với một người bạn, một người anh...”.
Bởi là một cộng tác viên thân thiết, nên Tân Linh có những bài báo đầy đặn và giàu cảm xúc về những danh nhân hay bè bạn in trên ấn phẩm An ninh thế giới Cuối tháng, Giữa tháng như: Hoài Thanh, Hàn Mặc Tử, Vũ Trọng Phụng, Diệp Minh Châu, Thế Lữ, Tân Nhân, Hoàng Việt, Trịnh Công Sơn, Trần Hòa Bình, Y Moan… Dù viết nhiều, viết khỏe, Tân Linh cũng chỉ nhận anh là một ký giả hạng thường mê say nhiều lĩnh vực. Anh miệt mài chữ nghĩa, phần vì cái nghiệp, phần nữa còn là vì cơm áo.
Trở về sau chiến tranh, sau những năm bôn ba, mãi ngoài tuổi tứ tuần Tân Linh mới tìm được một người con gái kém anh gần một phần tư thế kỷ yêu thương trao gửi cuộc đời cho anh, sinh cho anh hai cô công chúa xinh xắn. Chính vì vậy mà anh càng thương vợ hơn, cố đắp đổi để chị không phải lo lắng vì gia cảnh. Nhớ thuở hàn vi, vợ chồng con cái dắt dìu nhau đi thuê nhà khắp cả xứ Hà Thành.
Vật vã nhiều năm, họ mới mua được căn nhà nhỏ và đến gần đây anh mới xây lên được thành ngôi nhà thực sự cho vợ con có chỗ sinh hoạt. Ngẫm lại Tân Linh vẫn thấy xót xa. Vợ anh không biết rằng, để có tiền trang trải, đêm đêm khi chị và các con đã ngủ một cách ngoan hiền trên chiếc giường kê góc phòng là lúc anh phải ngồi vào bàn viết. Viết vì kế sinh nhai nhưng Tân Linh luôn giấu vợ nói rằng nghề này phải thế, rằng phải vắt óc nặn tim để có tác phẩm đem nộp.
Không ai bắt anh như thế cả, ngoại trừ sự bình yên cho cuộc đời vợ con. Nhiều lúc quá khuya thấy Tân Linh còn thức, có lẽ vì lo cho sức khỏe của chồng, người vợ trẻ thức giấc đứng lặng lẽ phía sau anh mà ứa nước mắt… Vì sự bình yên vẹn tròn cho gia đình, Tân Linh đã nai lưng viết giúp mấy chục tờ báo mà chả bao giờ ví tiền rủng rỉnh cả. Thấy vợ con bình lặng, tâm hồn anh cũng bình lặng, yên ổn giữa bao nhiêu bầm dập đua chen của cuộc đời...
Trong những ngày tháng 6 đầy ý nghĩa của những người làm báo này, Tân Linh đã cho ra cùng lúc hai tập sách, đó là tập ký chân dung Những tài năng, những số phận và tập thơ Có lẽ mùa xuân có lý riêng. Có lẽ anh đang muốn “kiểm kê” lại chữ nghĩa của đời mình sau mấy chục năm viết, với những trải nghiệm, những rung cảm trên đường đời trước những số phận, những con người anh đã gặp. Đọc thơ anh, mới thấy rằng, con người tưởng như khó tính và kỹ tính ấy, con người lặng lẽ như thể đứng ngoài tất cả mọi cuộc vui, mọi chuyện đời ấy, lại là một người đa cảm và nhạy cảm. Những vui buồn của cuộc đời mình dường như được anh gửi hết vào trang giấy: “Ta như gió, lỡ khứ hồi quên vé/ Một kiếp đi mang vô số nợ nần/ Kẻ lãng du đi qua miền chữ nghĩa/ Gió không mùa thổi trắng tóc tha nhân/ Nếu một ngày gió không về ngang cửa/ Có nghĩa là mãi mãi gió đi xa/ Em đừng khóc, đời ta như là gió/ Sống tha phương trọn kiếp, gió em à” (Gió không mùa).
Tôi hỏi Tân Linh, nếu bây giờ được làm lại, anh có chọn nghề báo để theo đuổi, vì xét cho cùng, cái nghề khắc nghiệt này, cũng đã mang lại cho anh nhiều hệ lụy, nhiều nỗi niềm không thể nguôi ngoai. Anh cười: Tôi thích nhất cái câu kết trong Hồi ức Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng khi ông viết: “Người mẹ nào sanh con ra lại chẳng muốn cho con sau này “Ăn nên làm ra”; “Có vai có vế”, Nhưng Mẹ ơi!, con đành chịu tội bất hiếu với Mẹ: Nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm nhà báo!”.
Đứng trước sự nghiệt ngã của số phận, của bạo bệnh, anh bình thản: Hãy sống an nhiên, dẫu phía trước là một đời, một năm, hoặc thậm chí là một ngày... “Không có gì khủng khiếp, kể cả cái chết, khi ta ngộ ra rằng cuối cùng, chỉ là cát bụi. Và như câu hát của Trịnh: “Tôi nay ở trọ trần gian” thì rời cõi tạm khi nào, đâu có gì khủng khiếp”. Thoáng chút ngậm ngùi, anh bảo: Tiếc là cuộc đời không ai nói trước được điều gì, và tôi cũng không biết còn đủ thời gian để tiếp tục hành trình cùng con chữ. Giờ đây, nhìn lại thấy mình còn nhiều bổn phận phải lo: lo cho người thân, thương mẹ già ở quê đã 95 tuổi, lo cho con nhỏ, còn đây nữa bao nhiêu tình bằng hữu vẫn chưa trả hết...
Chỉ mong số phận ban cho một phép màu để… cưỡng lại số phận, để có thể được tiếp tục cuộc hành trình còn đang dang dở, dẫu mọi hành trình, mọi kết thúc của một số mệnh đều có lý lẽ riêng, như trong một bài thơ Tân Linh viết: “Cuối cùng mọi tiếc nuối rồi phù du/ Em hóa thạch trong tim ta từ dạo ấy/ Nỗi nghi ngờ hóa thạch/ Tình yêu hóa thạch/ Ta đang sống vì nhau mà không thể cùng nhau/ Đừng oán trách số phận/ Ngoài kia mùa xuân không đợi/ Có lẽ mùa xuân có lý riêng…”