Tài liệu có tên gọi chính thức là "President Directive 59" (PD59), được Tổng thống J. Carter chấp bút ký ngày 25/7/1980 chuẩn y chiến thuật "xung đột vũ khí hạch tâm có kiểm soát" do một nhóm chính khách diều hâu ở Washington soạn thảo. Theo đó kho vũ khí hạt nhân mang tính răn đe lâu nay sẽ được đưa vào biên chế tấn công thường trực, hướng tới các mục tiêu chiến lược ở Liên Xô và khối Đông Âu, cũng như tại Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên. Các tác giả hiếu chiến của thứ học thuyết mới ra sức khẳng định, rằng những cuộc xung đột như vậy là "rất đỗi bình thường" ở thời Chiến tranh lạnh, không thể dẫn đến ngày tận thế cho toàn nhân loại!
Mục đích chính của PD59 hòng gây ra những thiệt hại kinh tế đáng kể, cũng như vô hiệu hóa lực lượng phòng thủ của Liên Xô. "Đối thủ sẽ mất khả năng sử dụng sức mạnh quân sự của mình cùng với việc phải gánh chịu những tổn thất lớn lao", phần mở đầu tài liệu nêu rõ tham vọng của bản kế hoạch siêu mật.
Một trong những tác giả chủ chốt của PD59 là tướng 3 sao William Odom, Cố vấn quân sự về An ninh quốc gia cho Tổng thống J. Carter quả quyết: "Đây có thể là một đòn tấn công kéo dài trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần lễ, khiến giới lãnh đạo các siêu cường sẽ ân hận vì lãng phí nguyên liệu hạch tâm cho mục đích dân sự"(!). Đồng thời W. Odom diễn giải kế hoạch cho phép sử dụng công nghệ cao do thám phát hiện các cơ sở hạt nhân của đối phương, đánh giá mức độ thiệt hại sau khi bị tấn công và "nếu cần sẽ giáng tiếp loạt đòn thứ 2".
Thậm chí tướng Odom cùng Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown còn cho tổ chức một loạt cuộc diễn tập, triển khai tên lửa xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân nhắm bắn mục tiêu theo kế hoạch PD59.
Mức độ tuyệt mật đến nỗi ngay cả Ngoại trưởng Edmun Muskie cũng không hay biết gì về bản tài liệu, bởi Cố vấn An ninh quốc gia Zbigniew Brzezinski cho rằng PD59 thuộc về trọng trách của Bộ Quốc phòng "không liên quan gì đến công tác đối ngoại". Chỉ thị số 59 dựa trên quan điểm gây tranh luận rằng, Moskva đã hoàn thiện đường lối hạch tâm của mình "trên tư thế là người chiến thắng"(?!).
Còn Marshall Shulman, vị chuyên gia hàng đầu về Liên Xô tỏ ý nghi ngờ quan niệm trên: "Dường như chúng ta đánh giá quá cao thực lực quân sự của đối phương hơn nhiều lần khả năng của họ. Nếu như người Nga tiếp cận được bản chỉ thị này, chắc hẳn họ sẽ bị thuyết phục bởi ý nghĩ rằng chúng ta đã sẵn sàng gây hấn trước; điều này đồng nghĩa với sự thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang hạch tâm mới đe dọa cả 2 phía".
Thực tế đã trả lời ý kiến của M. Shulman rất xác đáng, vì lãnh đạo Liên Xô lúc ấy đã hiểu được vấn đề không ai có thể chiến thắng trong cuộc đối đầu hạt nhân và không quốc gia nào tồn tại sau cuộc xung đột bằng vũ khí đáng sợ nhất. Ngoài ra, các tác giả của PD59 đã cố tình bỏ qua một sự thật nguy hiểm, rằng Washington sẽ bị giáng trả thích đáng nếu dám bắn tên lửa đánh đòn phủ đầu. Đây là nguyên tắc cơ bản trong chính sách phòng thủ của khối Warsaw gồm Liên Xô và một loạt các nước XHCN ở Đông Âu.
Rốt cục kế hoạch PD59 sặc mùi hiếu chiến đã vấp phải thất bại nặng nề, khi Quốc hội Mỹ chính thức phê chuẩn Hiệp ước giới hạn vũ khí chiến lược (SALT-1) được ký giữa Liên Xô và Mỹ trong năm 1979.
Nhân sự kiện bản tài liệu PD59 được giải mật, tờ nhật báo Nga Nezavisimaya Gazeta phát hành tại thủ đô Moskva cũng nhắc lại một trong những vụ scandal đình đám nhất nước Đức xảy ra đúng nửa thế kỷ trước. Đó là vụ bắt giữ ký giả nổi tiếng Rudolf Karl Augstein, người sáng lập tuần báo Der Spiegel ấn hành ở Hamburg, một trong những ấn phẩm có lượng phát hành hàng đầu châu Âu vào tháng 10/1962. Nguyên do trên Der Spiegel đã đăng tải các tài liệu mật bị rò rỉ của Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), khiến R. Augstein cùng toàn thể Ban biên tập tức thì bị tống giam về tội... phản quốc.
Người ra lệnh bắt giữ R. Augstein trái phép là Franz Josef Strauss, Bộ trưởng Quốc phòng CHLB Đức từ năm 1956-1962, một chính khách diều hâu từng muốn tấn công phủ đầu Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân, mở đường cho quân đội Đức tham gia vào Thế chiến 3. Tài liệu giải mật gần đây cho thấy tham vọng của F. Strauss khiến Henry Kissinger, Giám đốc Viện Nghiên cứu vũ khí hạch tâm và Chính sách đối ngoại trực thuộc Hội đồng Quan hệ đối ngoại liên bang khi ấy, người sau này trở thành Cố vấn An ninh quốc gia Hoa Kỳ hết sức lo ngại, bởi đương sự dễ bề tổ chức đánh cắp đầu đạn hạt nhân của Mỹ đang triển khai trên lãnh thổ Đức cho mục đích của mình. Cuối cùng, "vụ Augstein" đã phá sản, buộc Thủ tướng Konrad Adenauer phải sa thải F. Strauss vào cuối năm 1962