Một thị dân vô danh viết về thành phố quê hương

Tôi thuộc về một thế hệ lỡ. Không phải lỡ làng - suy cho cùng thì có gì trên đời thực sự gọi là lỡ làng đâu - mà lỡ cỡ. Tôi không đủ già để nằm hẳn vào thế hệ thị dân Saigon cũ, mà cũng chẳng trẻ để yên tâm yên vị nơi lứa hậu chiến. Tôi ở giữa. Cái việc ở giữa, lỡ cỡ này lấy đi của tôi nhiều điều, đồng thời cho tôi nhiều điều khác. Cũng là bù trừ, cũng là duyên phận.

Tôi sinh ra đúng một năm trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Bố tôi mất khi tôi chưa đầy tuổi. Tôi sống cả tuổi thơ lẫn những năm niên thiếu của mình với bên ngoại; đó là quãng đời êm đềm nhưng cô đơn, được yêu thương nhưng vẫn buồn. Chắc tại khí chất tôi vậy, cô độc và buồn.

Tính xấu lớn nhất của tôi là kiêu ngạo. Không phải đến từng này tuổi, tôi mới biết mình từng kiêu ngạo. Tôi học giỏi, luôn đứng đầu, lại nghĩ mình có thể làm được nhiều điều khó khăn, đâm ra kiêu căng. Biết mình kiêu, nhưng để dẹp bỏ được tính kiêu, tôi phải mất ba mươi năm. Mất nửa đời để rèn luyện mình.

Một người bạn vong niên, Vũ Ngọc Giao, nói rằng có tài thì có quyền kiêu. Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh. Tôi thấy chẳng ai trên đời có quyền kiêu ngạo cả. Ngoài trời lại có trời, không có gì độc tôn độc vị, và càng sống thì càng biết mình làm chẳng được bao nhiêu cho cõi đời này. Càng sống, càng thấy mình yếu đuối, nhỏ nhoi, thiếu khả năng kinh khủng.

Tôi viết Thị Dân khi tôi đã dẹp bỏ hoàn toàn, xóa sạch lòng kiêu mạn của mình. Tôi viết Thị Dân ở một thế đứng nhỏ nhoi, bên lề thành phố, vô danh; tôi viết như đứa con nhỏ nhoi viết về cha mẹ mình. Với lòng biết ơn.

Quả thật, tôi biết ơn Saigon. Tôi sẽ là gì nếu không có nó?

Tôi mất nửa đời để rèn luyện mình. Mục đích là làm cho mình vô danh. Thật sự vô danh. Đóng góp của mỗi cá nhân vào cuộc đời đâu cần danh xưng, bởi đời sống thì rộng lớn hơn tất cả chúng ta. Rộng lớn hơn mọi thân phận, mọi danh hiệu, mọi sự nổi tiếng. Không phải khi ta nổi tiếng thì lời nói của ta có giá trị hơn. Điều mà Saigon của tôi cần, điều mà những người đọc Thị Dân cần, và mong đợi nữa, là lòng thành.

Thị Dân không phải một hồi ký. Thị Dân không đúng một tự truyện. Đấy là những trang viết vụn vặt mà tôi ghi xuống giấy để không quên. Đấy là quãng đời mấy mươi năm sống, hít thở, yêu thương và đau đớn cùng với thành phố của tôi, mà tôi không bao giờ muốn quên. Không được phép quên.

Thị Dân viết về tuổi nhỏ của tôi, về ngôi trường thơ ấu, về thời niên thiếu đầy biến động và đầy mặc cảm, về những người bạn đã ở bên tôi vào một giai đoạn nào đó. Thị Dân, khác với những ghi chép vụn, không nói về âm nhạc; nó không là cuốn sách nói chuyện nghề, nó không đả động gì đến những bài hát tôi đã viết - bởi lẽ như tôi đã nói bên trên, nó được viết từ một người vô danh.

Cái tên tác giả có ở ngoài bìa cũng chỉ là hình thức. Đây là cuốn sách ai cũng viết được, ai cũng có thể là tác giả, nếu hắn yêu Saigon đủ nghĩa một tình yêu.

Thị Dân được viết bằng bút mực trong cuốn sổ tay tôi mang theo bên mình, vạ vật đâu đó nay quán cóc này, mai hè phố khác. Nó được viết tay, vâng, bản thảo viết tay, lìa xa các thiết bị công nghệ. Nó được viết như thể những bài báo đầu tay đã được viết bởi tôi - nhà - báo - tập - sự vào những năm đầu thập kỷ chín mươi.

Mười năm trước, tôi đã muốn viết một tập essay (có thể hiểu là tạp bút/ tản văn/ tiểu luận, nhưng không đủ nghĩa, vì photo essay lại là hình thức nhiếp ảnh gồm những chuỗi, những loạt ảnh theo cùng một chủ đề) về thành phố.

Ý muốn càng lúc càng lớn dậy, đặc biệt là sau những buổi chuyện trò với bạn tôi, nghệ sĩ thị giác Jun Nguyen - Hatsushiba; thậm chí tôi đã hình thành đề cương cho cuốn sách. Một cuốn sách ảnh, đại loại thế, tôi chụp từng ngõ phố, từng mái nhà Saigon, từng cơn mưa từng đợt nắng. Chữ rất ít. Hăm hở bước vào được một thời gian, rồi bỏ dở. Việc kiếm sống, gia đình, những bề bộn khác cuốn tôi đi…

Thị Dân chia làm bốn phần. Phần đầu, là những ký ức tuổi thơ. Cũng không có gì nhiều nhặn, cũng chẳng sóng gió biến động khác thường. Một tuổi thơ bình thường, êm ả, nhưng không giống với tuổi thơ của những thế hệ trước và sau tôi.

Phần hai, tôi dành cho bạn, những người bạn ở một mức độ nào đó ảnh hưởng đến cá tính tôi.

Phần ba, dành cho Saigon. Đây là những đoản văn, có thể gọi là miniessays, là chỗ tôi bộc lộ tình cảm mình cho thành phố. Ngay cả phần cuối, phần ảnh, cũng là một dạng essay: photo essay được thực hiện bằng chiếc điện thoại di động của tôi, thứ "công nghệ" duy nhất tôi đem theo người những ngày đó.

Thị Dân không phải là một cuốn sách có đầu có cuối. Nó vụn, nó như những mảnh cắt của ký ức được thu lượm lại. Nó cũng không nói được nhiều về Saigon theo kiểu du lịch, môi trường hay gì đó tương tự. Nó càng không phải là biên niên cho một thành phố.

Tôi từng ước ao mình biết nhiều về Saigon, về miền Nam như cố học giả Vương Hồng Sển, để viết hay như cụ. Lực bất tòng tâm, tôi hiểu biết rất ít; thay vì hiểu, tôi cảm. Đối với tôi, Saigon, ý nghĩa to lớn như là cha mẹ, và đứa con nên làm gì? Đừng nên cố gắng hiểu cha mẹ, điều chẳng cách nào làm nổi, tốt nhất hãy dành trọn vẹn trái tim mình cho đấng sinh thành.

Thị Dân nên được đọc theo cách tình cờ lật một trang. Đừng đọc từ đầu đến cuối để mong tìm ra một "đường dây" ý tưởng. Chẳng có gì giống thế cả. Tôi đã nói, những biểu lộ trong tình yêu không bao giờ có thể có đầu có cuối, theo một logic. Biểu lộ tình yêu là sự gãy vụn, sự vỡ tung; viết lại tình yêu bởi thế chính là nhặt nhạnh những mảnh rời ấy.

Ở tản văn "Em có đẹp không, Saigon ơi?", tôi đã ví thành phố này như một bến nước, khách tứ phương ghé qua, nghỉ chân, rồi đi. Saigon không phải là nơi lưu giữ kỷ niệm, nó thay đổi từng giờ. Mà cũng chính vì điều đó, tôi nghĩ mình nên cất giữ hộ cho nơi chốn thân yêu của mình một ít kỷ niệm, nếu không vì Saigon thì cũng vì mình, cho mình.

Thành phố của tôi đẹp, đẹp theo một kiểu rất riêng. Nó không có di tích, không thắng cảnh, không nơi chốn nào còn giữ nguyên gốc rễ nguyên thủy. Nó đẹp ở trong sự thay đổi, vẻ đẹp này chỉ có những con dân lâu năm của nó mới nhìn thấy. Vẻ đẹp của hồi tưởng, của ký ức. À, nơi này xưa kia từng là, con đường này lúc trước thế kia, chỗ mình ngồi đây hai mươi năm trước ai đã ngồi. Tôi chưa phải là con dân được liệt vào loại "lâu năm", chỉ vừa đủ để thấy thành phố đẹp. Đời tôi may mắn sao, có đủ kho ký ức cần có.

Thành phố của tôi đẹp bởi vì nó không biết nó đẹp. Nó phình to từng phút từng giây, dung nạp cơ man cuộc đời, đón nhận cơ man kiếp sống. Nó vừa là điểm đến vừa là nơi xuất phát. Nó đầy cảm hứng, tràn ngập âm thanh, ăm ắp sắc màu. Nó tạo ra nhiều đời sống lạ thường và phong phú hơn tất cả các thành phố. Thứ lỗi cho tôi nếu vì yêu quá mà tôi nói quá về Saigon.

Đây là một trích đoạn trong sách:

"Saigon của tôi, quả tình có nhiều điểm ứng với cái nhan đề tuyệt vời của W. Faulkner, đầy sound và fury. Và means nothing. Nhưng nếu quan niệm như Stravinsky, âm nhạc không được biểu cảm, không được có nghĩa, không được nhu mì vỗ về, thì Saigon tôi đó, chính là thứ âm nhạc ấy.

Là bản hòa âm đô thị xộc xệch lắp ghép chắp vá, đầy những nghịch âm, đầy tiết tấu phá bĩnh - mà lô cốt, miệng cống hở ngay giữa đại lộ là một ví dụ; thay chiếc đồng hồ đẹp đẽ cổ kính bằng chiếc khác kỳ dị kệch cỡm là ví dụ hai [có thể tìm được thêm cho đủ bốn mươi ví dụ] - nên đáng yêu vô ngần. Tôi nhấn mạnh, nên chứ không phải nhưng.

Saigon đẹp lắm ư? Tôi cho là Saigon không hề đẹp. Nó cũng không hề xấu. Nó ở đó, để người ta sống. Lúc nào người Saigon cũng vội vã sống, hăm hở sống, như thể ngày mai mọi thứ sẽ đổ sập. Mặc kệ Saigon đẹp xấu, hãy cứ sống. Tình yêu của người Saigon dành cho thành phố này là thứ tình yêu bày tỏ bằng khát vọng sống. Không cần ngắm, chỉ cần sống.

Nhà cao tầng mọc lên nguy nga, kệ, cũng thế. Nước sông dềnh lên dơ dáy, đường đào nát năm này qua tháng nọ, kệ, cũng thế. Miễn là được sống, còn sống. Cách yêu thành phố của dân Saigon có vẻ gì đó giông giống cách yêu của những gã đàn ông. Được rồi, là quên hết xấu đẹp, quên hết phận sự ca ngợi, yêu chiều âu yếm. Kệ. Nàng ở đó, là được. Saigon cứ yên đó, là được.

Cả thế hệ chúng tôi đã được tạo ra cùng với thành phố này. Đã trải suốt bốn mươi năm khổ đau hạnh phúc cùng với nó. Đã là một phần của bản hòa âm xộc xệch kia".

Thị Dân hoàn tất đúng dịp Giáng Sinh năm ngoái, bản thảo đầy kín một cuốn sổ tay dày. Tháng Sáu vừa rồi, Công ty Nhã Nam ngỏ ý mua bản quyền xuất bản, và tôi chỉ còn việc nghĩ đến một cuốn sách mới. Cũng cho Saigon mà thôi

Nhạc sĩ Quốc Bảo

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.