Tôi sinh ra đúng một năm trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Bố tôi mất khi tôi chưa đầy tuổi. Tôi sống cả tuổi thơ lẫn những năm niên thiếu của mình với bên ngoại; đó là quãng đời êm đềm nhưng cô đơn, được yêu thương nhưng vẫn buồn. Chắc tại khí chất tôi vậy, cô độc và buồn.
Tính xấu lớn nhất của tôi là kiêu ngạo. Không phải đến từng này tuổi, tôi mới biết mình từng kiêu ngạo. Tôi học giỏi, luôn đứng đầu, lại nghĩ mình có thể làm được nhiều điều khó khăn, đâm ra kiêu căng. Biết mình kiêu, nhưng để dẹp bỏ được tính kiêu, tôi phải mất ba mươi năm. Mất nửa đời để rèn luyện mình.
Một người bạn vong niên, Vũ Ngọc Giao, nói rằng có tài thì có quyền kiêu. Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh. Tôi thấy chẳng ai trên đời có quyền kiêu ngạo cả. Ngoài trời lại có trời, không có gì độc tôn độc vị, và càng sống thì càng biết mình làm chẳng được bao nhiêu cho cõi đời này. Càng sống, càng thấy mình yếu đuối, nhỏ nhoi, thiếu khả năng kinh khủng.
Tôi viết Thị Dân khi tôi đã dẹp bỏ hoàn toàn, xóa sạch lòng kiêu mạn của mình. Tôi viết Thị Dân ở một thế đứng nhỏ nhoi, bên lề thành phố, vô danh; tôi viết như đứa con nhỏ nhoi viết về cha mẹ mình. Với lòng biết ơn.
Quả thật, tôi biết ơn
Tôi mất nửa đời để rèn luyện mình. Mục đích là làm cho mình vô danh. Thật sự vô danh. Đóng góp của mỗi cá nhân vào cuộc đời đâu cần danh xưng, bởi đời sống thì rộng lớn hơn tất cả chúng ta. Rộng lớn hơn mọi thân phận, mọi danh hiệu, mọi sự nổi tiếng. Không phải khi ta nổi tiếng thì lời nói của ta có giá trị hơn. Điều mà
Thị Dân không phải một hồi ký. Thị Dân không đúng một tự truyện. Đấy là những trang viết vụn vặt mà tôi ghi xuống giấy để không quên. Đấy là quãng đời mấy mươi năm sống, hít thở, yêu thương và đau đớn cùng với thành phố của tôi, mà tôi không bao giờ muốn quên. Không được phép quên.
Thị Dân viết về tuổi nhỏ của tôi, về ngôi trường thơ ấu, về thời niên thiếu đầy biến động và đầy mặc cảm, về những người bạn đã ở bên tôi vào một giai đoạn nào đó. Thị Dân, khác với những ghi chép vụn, không nói về âm nhạc; nó không là cuốn sách nói chuyện nghề, nó không đả động gì đến những bài hát tôi đã viết - bởi lẽ như tôi đã nói bên trên, nó được viết từ một người vô danh.
Cái tên tác giả có ở ngoài bìa cũng chỉ là hình thức. Đây là cuốn sách ai cũng viết được, ai cũng có thể là tác giả, nếu hắn yêu
Thị Dân được viết bằng bút mực trong cuốn sổ tay tôi mang theo bên mình, vạ vật đâu đó nay quán cóc này, mai hè phố khác. Nó được viết tay, vâng, bản thảo viết tay, lìa xa các thiết bị công nghệ. Nó được viết như thể những bài báo đầu tay đã được viết bởi tôi - nhà - báo - tập - sự vào những năm đầu thập kỷ chín mươi.
Mười năm trước, tôi đã muốn viết một tập essay (có thể hiểu là tạp bút/ tản văn/ tiểu luận, nhưng không đủ nghĩa, vì photo essay lại là hình thức nhiếp ảnh gồm những chuỗi, những loạt ảnh theo cùng một chủ đề) về thành phố.
Ý muốn càng lúc càng lớn dậy, đặc biệt là sau những buổi chuyện trò với bạn tôi, nghệ sĩ thị giác Jun Nguyen - Hatsushiba; thậm chí tôi đã hình thành đề cương cho cuốn sách. Một cuốn sách ảnh, đại loại thế, tôi chụp từng ngõ phố, từng mái nhà
Thị Dân chia làm bốn phần. Phần đầu, là những ký ức tuổi thơ. Cũng không có gì nhiều nhặn, cũng chẳng sóng gió biến động khác thường. Một tuổi thơ bình thường, êm ả, nhưng không giống với tuổi thơ của những thế hệ trước và sau tôi.
Phần hai, tôi dành cho bạn, những người bạn ở một mức độ nào đó ảnh hưởng đến cá tính tôi.
Phần ba, dành cho
Thị Dân không phải là một cuốn sách có đầu có cuối. Nó vụn, nó như những mảnh cắt của ký ức được thu lượm lại. Nó cũng không nói được nhiều về
Tôi từng ước ao mình biết nhiều về Saigon, về miền
Thị Dân nên được đọc theo cách tình cờ lật một trang. Đừng đọc từ đầu đến cuối để mong tìm ra một "đường dây" ý tưởng. Chẳng có gì giống thế cả. Tôi đã nói, những biểu lộ trong tình yêu không bao giờ có thể có đầu có cuối, theo một logic. Biểu lộ tình yêu là sự gãy vụn, sự vỡ tung; viết lại tình yêu bởi thế chính là nhặt nhạnh những mảnh rời ấy.
Ở tản văn "Em có đẹp không,
Thành phố của tôi đẹp, đẹp theo một kiểu rất riêng. Nó không có di tích, không thắng cảnh, không nơi chốn nào còn giữ nguyên gốc rễ nguyên thủy. Nó đẹp ở trong sự thay đổi, vẻ đẹp này chỉ có những con dân lâu năm của nó mới nhìn thấy. Vẻ đẹp của hồi tưởng, của ký ức. À, nơi này xưa kia từng là, con đường này lúc trước thế kia, chỗ mình ngồi đây hai mươi năm trước ai đã ngồi. Tôi chưa phải là con dân được liệt vào loại "lâu năm", chỉ vừa đủ để thấy thành phố đẹp. Đời tôi may mắn sao, có đủ kho ký ức cần có.
Thành phố của tôi đẹp bởi vì nó không biết nó đẹp. Nó phình to từng phút từng giây, dung nạp cơ man cuộc đời, đón nhận cơ man kiếp sống. Nó vừa là điểm đến vừa là nơi xuất phát. Nó đầy cảm hứng, tràn ngập âm thanh, ăm ắp sắc màu. Nó tạo ra nhiều đời sống lạ thường và phong phú hơn tất cả các thành phố. Thứ lỗi cho tôi nếu vì yêu quá mà tôi nói quá về
Đây là một trích đoạn trong sách:
"
Là bản hòa âm đô thị xộc xệch lắp ghép chắp vá, đầy những nghịch âm, đầy tiết tấu phá bĩnh - mà lô cốt, miệng cống hở ngay giữa đại lộ là một ví dụ; thay chiếc đồng hồ đẹp đẽ cổ kính bằng chiếc khác kỳ dị kệch cỡm là ví dụ hai [có thể tìm được thêm cho đủ bốn mươi ví dụ] - nên đáng yêu vô ngần. Tôi nhấn mạnh, nên chứ không phải nhưng.
Nhà cao tầng mọc lên nguy nga, kệ, cũng thế. Nước sông dềnh lên dơ dáy, đường đào nát năm này qua tháng nọ, kệ, cũng thế. Miễn là được sống, còn sống. Cách yêu thành phố của dân
Cả thế hệ chúng tôi đã được tạo ra cùng với thành phố này. Đã trải suốt bốn mươi năm khổ đau hạnh phúc cùng với nó. Đã là một phần của bản hòa âm xộc xệch kia".
Thị Dân hoàn tất đúng dịp Giáng Sinh năm ngoái, bản thảo đầy kín một cuốn sổ tay dày. Tháng Sáu vừa rồi, Công ty Nhã