Vĩnh Mẫn đưa cho tôi xấp tài liệu, nói:
- Đó! Cậu Thạnh ở Tuy Hòa vừa nhắc lại một số trường hợp chưa được khen thưởng… Có nhiều chuyện cho ông viết dịp này đây…
Thế ông đã biết chuyện thuyền trưởng Lê Văn Một mang tên Tây chưa?…
Ông già đầu hói hăng hái ngắt lời tôi, rồi quay lại giá sách bê ra một chồng cả sách và ảnh. Nửa thế kỷ đã qua, nhưng nhắc đến Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển (ĐMHCMTB) là Vĩnh Mẫn nói say sưa, nồng nhiệt như một nồi nước sôi. Từ năm 1965, Vĩnh Mẫn (khi đó còn mang tên Phan Thắng) là Trưởng Ban Tuyên huấn Đoàn 125 - biệt danh của đoàn quân chủ lực trên ĐMHCMTB và là người cùng với Đại tá Hoàng Phát sáng lập Hội Truyền thống ĐHCMTB.
Trong bộ sưu tập ảnh của Vĩnh Mẫn có rất nhiều tư liệu quý như hình ảnh (tạo dựng lại) chiếc thuyền từ Bến Tre ra Bắc 50 năm trước với cột buồm rất độc đáo kết bằng 17 lá buồm nhỏ; ảnh Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cùng với các cựu chiến binh Đoàn tàu Không số ngực đeo đầy huân chương - trong đó có Nguyễn Sơn, người từng đi trong chuyến mở đầu ngày 1-6 nửa thế kỷ trước và Hồ Đắc Thạnh, người thuyền trưởng 3 lần đưa tàu vào Vũng Rô…
6 thuỷ thủ từ bến Lộc An (Bà Rịa) mở đường ra Bắc nhận vũ khí 50 năm trước (từ trái sang phải, hàng trước: Nguyễn Văn Thanh, Võ An Ninh, Trần Minh Hoàng - hàng sau: Thôi Văn Nam, Lê Hà, Nguyễn Sơn.
Tôi chưa xem hết các tấm ảnh, Vĩnh Mẫn đã rải mấy cuốn sách trên bàn và nói:
- Chắc là ông chưa thấy cuốn Nhật ký Lê Văn Một - Thuyền trưởng Tàu Không số đầu tiên trên biển Đông …
Phải, tôi và có lẽ nhiều người nữa, thường chỉ nghe nhắc đến Bông Văn Dĩa, Chính trị viên Tàu không số đầu tiên, nhưng hầu như chưa biết đến Lê Văn Một - Thuyền trưởng chiếc tàu đó, một nhân vật có lai lịch khá đặc biệt...
Vĩnh Mẫn lại có điện thoại. Anh sắp phải rời Huế để dự cuộc họp cùng Ban Liên lạc Hội Truyền thống ĐMHCMTB, nên có vài việc họ tộc phải giải quyết. Trở lại bên bàn, Vĩnh Mẫn nói:
- Tôi có chút việc, ông ngồi xem tài liệu, chờ tôi. Trưa ăn cơm ở đây luôn nghe...
Tuy vậy, tôi mượn anh cuốn Nhật ký Lê Văn Một, hẹn chiều quay lại. Vĩnh Mẫn níu tôi nói thêm:
- Ông Một này đặc biệt lắm... Nhưng nhắc đến chiến công của Đoàn tàu Không số, phải luôn nhớ lực lượng làm bến bãi. Không có chỗ dựa là lòng dân cách mạng thì chiến sĩ trên tàu anh dũng mấy cũng vô ích...
Tạm biệt Vĩnh Mẫn, ra đến đầu Đập Đá, tôi lại ngoái nhìn ngôi nhà của mệ Vĩnh Mẫn nằm phía trong một ngõ nhỏ; không, chính là tôi muốn nhìn thấu chiều sâu sức mạnh của dân tộc. Một người như Vĩnh Mẫn, chắt nội vua Hiệp Hòa, ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, tiếp bước người anh trai là Vĩnh Tập, anh đã sung vào đội trinh sát thiếu niên thành Huế mà nhà văn Phùng Quán đã miêu tả trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội. Còn Chính trị viên Vĩnh Tập đã cùng cả trung đội hy sinh trong trận đánh bi tráng cuối năm 1946 tại Huế cũng đã được Phùng Quán miêu tả trong bản hùng ca Huyệt lửa chôn chung…
Hơn nửa thế kỷ qua, trải bao biến động, Vĩnh Mẫn vẫn giữ trọn phẩm chất Anh bộ đội Cụ Hồ, không quên đồng đội, càng không quên chỗ dựa của cách mạng là nhân dân. Tôi mở xem lại cuốn sách Có một đường mòn trên biển Đông của Nguyên Ngọc, ông cũng đã dành nhiều trang ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của nhân dân đủ mọi tầng lớp đã xây nên những "bến cảng" không kẻ thù nào tiêu diệt được cho Đoàn tàu Không số; như má Mười Rìu, một tiểu thương cùng quê với anh hùng Võ Thị Sáu, đã bỏ ra 8 lượng vàng, rồi vay bà con không biết là bao nhiêu lượng nữa, giúp cách mạng mua thuyền mở đường ra Bắc…
Nhà văn Nguyên Ngọc đã viết: "…Cái sự tích kỳ lạ ấy của một bà má hầu như không tên, chúng tôi đã giải thích được gì đâu. Hình như, đối với những con người như má Mười, không bao giờ có thể giải thích được hết. Bởi chính sự giản dị của họ. Đó là nhân dân, cụ thể, âm thầm, vô danh… ".
Má Mười là hình ảnh đặc biệt tiêu biểu cho tầng lớp nhân dân "hầu như không tên", còn trường hợp Lê Văn Một lại đặc biệt vì mang hai tên, khiến một người có rất nhiều chiến công lớn suýt nữa cũng trở thành "vô danh". Ông mất năm 1982 và được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba…
Suốt cả buổi trưa, tôi đã mê mải với tập Nhật ký Lê Văn Một. Chị Nguyễn Thị Loan, em họ Lê Văn Một, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, là người đã cho công bố cuốn sách này năm 2006. Vĩnh Mẫn gọi đây là một nhân vật đặc biệt vì anh từng mang tên Tây: Abel René.
Nguyên do thân phụ anh là Đốc học ở Mỹ Tho, có đến 13 người con; là dân bản xứ An Nam lương thấp, nên ông vào dân Tây để có lương đủ nuôi vợ con. Lê Văn Một từng học ở Sài Gòn, rồi ra Huế, ra Hà Nội học Trường Thăng Long. Lớn lên, phải đi lính, sung vào thủy quân, từng làm hoa tiêu trên chiếc Lamotte Picquet - tuần dương hạm lớn nhất Đông Dương thời đó.
Vậy mà ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Abel René cùng bạn bè đánh chìm tàu, rồi gia nhập đội vận tải đường sông hoạt động ở vùng Đồng Tháp Mười với tên mới Lê Văn Một (anh là con thứ 11 trong gia đình, nên lấy thứ bậc làm tên mình)…
Hoạt động của anh trong thời kỳ đầy khó khăn hồi chống Pháp được ông Dương Quang Đông (còn gọi là Năm Phúc) - vị lão thành cách mạng nổi tiếng ở Nam Bộ kể lại tại Bảo tàng Cách mạng TP HCM ngày 2-9-1985. Đó là lúc lực lượng kháng chiến phải rút về Đồng Tháp Mười và rừng U Minh, Xứ Ủy Nam Kỳ giao cho Năm Phúc tìm cách mua vũ khí ở nước ngoài đem về. Ngày 20/6/1946, ông đã cùng Lê Văn Một và 12 người nữa lên một chiếc thuyền buồm vượt biển theo hướng Bangkok…
Như thế, có thể nói 15 năm trước ngày chiếc thuyền đầu tiên từ Bến Tre tìm đường ra Bắc lấy vũ khí, "con đường mòn" trên biển Đông đã được khai mở; và như thế, lịch sử con đường cứu nước đặc biệt này đến nay phải tính là tròn 65 năm.
Quả thật là đặc biệt vì với một nhiệm vụ hệ trọng và bí mật như thế, ông Dương Quang Đông lại dám trao tay lái cho chàng thanh niên có lí lịch phức tạp như Út Một. Ông Dương Quang Đông đã tin tưởng Lê Văn Một, chính là nhờ theo con đường của Chính phủ Cụ Hồ trọng dụng những nhân tài như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Phan Anh…
Cũng có thể nói sự kết hợp đẹp đẽ này khởi nguồn từ con đường Hồ Chí Minh - con đường đại đoàn kết dân tộc, tin tưởng vào lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, kể cả những trí thức Tây học và người hữu sản. Ông Năm Phúc không chỉ tin tưởng trao tay lái con thuyền cho người từng là hoa tiêu tuần dương hạm Pháp, mà còn trao cho Út Một 25kg vàng thỏi tích trữ được qua Tuần lễ vàng sau Cách mạng Tháng Tám.
Út Một ngày đêm quấn chặt ruột tượng đầy vàng quanh mình và sau 4 ngày lênh đênh trên biển, đến được Bangkok, bán vàng mua được súng đạn gửi trong chùa do sư Bảo Ân người Việt trụ trì, anh lại tình nguyện lên biên giới Kôkông, khai mở tuyến đường xuyên Tây đưa vũ khí về Việt Nam.
Ở đây, Út Một đã tổ chức 10 xe bò, 10 voi và 70 người chuyển toàn bộ vũ khí mua được về Nam Bộ an toàn. Sau đó, thấy con đường quá cảnh này quá khó khăn, vận chuyển được ít, anh lại cùng ông Năm Phúc lập những chiếc tàu Độc lập, Chiến thắng vượt qua vịnh Thái Lan chở thẳng vũ khí về nước…
Trong giai đoạn hoạt động gian khổ và thầm lặng này, Lê Văn Một đã nhận được một phần thưởng cũng rất đặc biệt: đó là lúc anh đến biên giới Kôkông, ở nhờ trong nhà ông bà Bươn Kiểu Cachi (người Thái Lan); ông bà thương anh hơn cả con đẻ và đã gả cô con gái La-o Kiểu Cachi cho anh. Mối tình đặc biệt này đã đem lại cho anh hai cậu con trai sinh đôi là Lê Hai và Lê Ba; và sau này, khi lênh đênh trên biển với những chiếc Tàu Không số, anh luôn mang theo tấm ảnh vợ và hai con trai bên mình...
Một sự gặp gỡ, kết hợp khác cũng đáng gọi là kỳ ngộ. Trong đường dây chuyển vũ khí mua từ Thái Lan về, khi Út Một phụ trách trạm bên đất Thái thì trạm thứ hai trên đất Campuchia do Bông Văn Dĩa làm trạm trưởng. Sau đó, hai người lại cùng cộng tác vận tải vũ khí từ Thái Lan về Nam Bộ qua đường biển.
Năm 1948, chính Bông Văn Dĩa đã tổ chức kết nạp anh Một vào Đảng. Và 15 năm sau, khi Lê Văn Một tập kết ra Bắc đang làm Cảng trưởng ở Cẩm Phả, được Trung ương chọn làm thuyền trưởng Tàu Không số đầu tiên chở vũ khí vào Nam thì anh lại được cùng thuyền với Bông Văn Dĩa - Bí thư Chi bộ và là Chính trị viên của thuyền…
Chiều, đọc xong cuốn sách, tôi trở lại nhà anh Vĩnh Mẫn để nghe anh giải thích vì sao một người có nhiều công lao như Lê Văn Một lại chưa được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND? Bà Nguyễn Thị Loan hiện ở TP HCM, qua hai lần nói chuyện với tôi, cũng đều mở đầu bằng nỗi băn khoăn đó.
Anh Vĩnh Mẫn trả lời cho tôi bằng một xấp tài liệu và nói:
- Ông đọc đi… Còn nhiều người rất đáng được tuyên dương anh hùng.
Nghe tôi nhắc lại trường hợp anh Lê Văn Một, anh Vĩnh Mẫn xòe hai bàn tay rồi nói nhỏ:
- Thế đó!...Có thể hồi trước người ta ngần ngại trước một lí lịch mang tên Tây! Lần này thì chúng tôi sẽ đề tên Lê Văn Một lên đầu danh sách… Ông xem thư Hồ Đắc Thạnh gửi cho tôi thì rõ… Có cả thư của anh Nguyễn Văn Lắm, nguyên Chính uỷ Đoàn 759 nữa đây… (Đoàn 759 là tiền thân của Đoàn 125).
Lá thư của Chính uỷ Nguyễn Văn Lắm gửi Bộ Tư lệnh Hải quân đề ngày 16/10/2001, trước khi nêu đề nghị cụ thể, đã lưu ý việc khen thưởng trước đó "chưa đạt ý chỉ đạo của đồng chí Phạm Hùng, Phó Thủ tướng "một tàu đi về hoàn thành nhiệm vụ thì xét khen thưởng một Huân chương" tại cảng Đồ Sơn trước đây. Vì vậy ông đề nghị một danh sách 2 đơn vị và 13 người là anh hùng (trong đó có Thuyền trưởng Lê Văn Một), nhưng rốt cuộc, cấp trên chỉ truy tặng hai người đã hy sinh là hai Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng và Nguyễn Chánh Tâm…
Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, "ra ngõ là gặp anh hùng", không thể kể hết những người xứng đáng anh hùng mà chưa được phong tặng vì lẽ này, hay lẽ khác. Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh, ngoài những chuyến đi thành công khác, đã ba lần đưa tàu vào bến Vũng Rô nổi tiếng, người có tên trong danh sách đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND của Chính uỷ Nguyễn Văn Lắm 10 năm trước, cũng đã vui vẻ viết trong một lá thư gửi Vĩnh Mẫn ngày 20/11/2008 rằng: "Ở Phú Yên, tôi đi đâu, ai cũng biết là "Thuyền trưởng Tàu Không số Vũng Rô". Tôi thích nhất tên gọi này, chứ đâu có màng chi anh hùng với đại tá" …
Tôi đã nói với Vĩnh Mẫn những suy nghĩ đó, nhưng anh hăng hái nói:
- Lần này, nhân kỷ niệm 50 năm, trên đã có chủ trương xem xét lại. Ông xem các công văn rồi chứ? Mà chiến công của Đoàn tàu Không số là rất đặc biệt, hoàn cảnh thành lập, giải thể cũng khác thường. Nhiều anh em vì thế thiệt thòi. Ông xem kỹ đoạn thư 24/1/2011 của Thạnh mà tôi đã gạch đậm bên lề chưa?
Anh Vĩnh Mẫn cầm lấy xấp tài liệu và đọc luôn:
"…Do chiến cuộc 1975 diễn ra quá nhanh, nhiều cán bộ chiến sĩ phải rời đơn vị theo lệnh điều động, khi hòa bình lập lại không tổ chức bình công khen thưởng tổng kết, rồi anh em về địa phương, trong hành trang của mình không có một bằng khen, một tấm huân chương, mặc dù những năm tháng ở Đoàn Tàu Không Số mình đã đóng góp không biết bao nhiêu công sức mồ hôi nước mắt và cả máu nữa…". Thế đó! Chuyến này, Hội Truyền thống ĐMHCMTB sẽ làm đến nơi đến chốn, chứ nhiều anh em cũng đã gần đất xa trời rồi!...
Chỉ một ngày thôi, làm sao nói hết chuyện của 50 năm. Và đâu chỉ 50 năm. Như Lê Văn Một thì đã chiến đấu như một anh hùng giữa biển khơi đầy bất trắc, nguy hiểm từ 65 năm trước…
Trường An-Huế, tháng 4/2011