Trung tướng Lê Quang Đạo có mặt trong hầu hết những chiến dịch lớn của đất nước trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Trước khi là một nhà chính trị, ông là một người lính, một anh hùng của trận mạc. Ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, với tư cách Phó chủ nhiệm Chính trị mặt trận và là phái viên của mặt trận xuống các đơn vị chỉ huy chiến đấu. Khi đồng chí Song Hào ốm, ông làm Chính ủy Đại đoàn 308. Đối với ông, mỗi trận đánh là một sự tích kỳ diệu mà ở đó, tinh thần chiến đấu của những người lính, ý chí kiên cường của quân và dân ta được thể hiện rõ nét.
Còn với bà Nguyệt Tú, những lần ông ra trận, là những tháng ngày bà thấp thỏm, âu lo. Giờ ông đã đi xa, thanh thản ở một cõi khác. Chỉ còn bà, ở tuổi 90 vẫn cặm cụi với từng trang viết chỉ mong có thể ghi chép lại cho con cháu những câu chuyện của ông cha mình. Có một người nước ngoài ngạc nhiên trước sức làm việc bền bỉ của bà, và khối lượng tư liệu mà bà đang sở hữu, đã tò mò: Bà lấy đâu ra những tư liệu quý như vậy. Bà cười: Tất cả ở trong ký ức của tôi, như những thước phim sống động, thế nên những câu chuyện về ông được ghi chép cẩn thận trong kho tư liệu của gia đình.
Những ngày đất nước đang chuẩn bị kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, bà lại càng nhớ ông. Trong ký ức của bà Nguyệt Tú vẫn chưa quên ngày ở rừng Việt Bắc, năm 1953 ấy: “Trong căn nhà nhỏ giữa rừng nứa chỉ có một ngọn đèn dầu tỏa sáng, Thắng Lợi và Tây Bắc (tên những đứa con của ông bà đều được lấy tên của những chiến dịch lớn) đang ngủ say trên giường tre. Tôi ngồi thức đọc sách chờ anh Lê Quang Đạo đi họp về. Có tiếng ngựa hí ngoài rừng. Một lúc sau anh Đạo vội bước vào. Khác hẳn mọi lần, anh không kịp thay quần áo, đi thẳng vào giường xốc hai đứa trẻ dậy, hôn tới tấp lên má con. Anh quàng vai tôi siết nhẹ và hôn lên má. Rồi vẫn giọng nói bình thường như mỗi lần đi công tác, anh bảo tôi: Lần này mình đi hơi lâu, ở nhà có khó khăn gì, nhờ anh chị em trong cơ quan nhé. Anh ra đi trong đêm cùng mấy đồng chí cán bộ, hình như có đem ngựa theo. Tôi không nghĩ rằng, tiễn anh đi chiến dịch lần này, để gần một năm sau chúng tôi mới gặp lại nhau trên đường về thủ đô giải phóng”.
Sau ngày giải phóng Điện Biên Phủ, bà Nguyệt Tú với tư cách là phóng viên báo Phụ nữ đã có chuyến trở lại thăm Điện Biên. Bà gặp một người cựu chiến binh già và nghe ông kể lại: “Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, theo kế hoạch ban đầu, Bộ Tư lệnh mặt trận định đánh nhanh thắng nhanh, nhưng sau khi nghiên cứu tình hình giặc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chỉ huy đã đổi kế hoạch thành “đánh chắc, tiến chắc”. Lúc đó công tác tư tưởng rất cam go, khi cả đoàn quân đã chuẩn bị tâm thế chiến đấu. Tướng Giáp đã thuyết phục được Bộ Tư lệnh. Nhưng ai sẽ thuyết phục được toàn quân. Trung tướng Lê Quang Đạo là Phó chủ nhiệm Chính trị mặt trận và là phái viên của mặt trận xuống các đơn vị. Chính Trung tướng Lê Quang Đạo đã xuống các đơn vị làm công tác tư tưởng cho bộ đội. Đây cũng là một mặt trận quan trọng để thống nhất được tư tưởng của toàn quân”.
Con trai Trung tướng Lê Quang Đạo cũng kể lại, sau này, khi anh có may mắn được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chính tướng Giáp đã nói với anh rằng: “Bố cháu đã giúp bác và quân đội rất nhiều trong việc nâng cao tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ trong đợt 2. Đợt 1 chúng ta thương vong rất nhiều, các chiến sĩ có phần lo lắng. Điều làm họ vững tâm chiến đấu trong đợt 2 đó chính là công tác tư tưởng mà bố cháu đóng một vai trò rất quan trọng”. Đây là những chi tiết mà đến bây giờ nhà văn Nguyệt Tú mới kể. Bà cũng không đưa vào hồi ký của mình. Còn Trung tướng Lê Quang Đạo, ông có những đóng góp quan trọng trong trận chiến lịch sử nhưng ông không bao giờ nói về mình. Ngay cả chức vụ là Chính ủy 308 trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ nhưng ông không bao giờ nhắc đến hay tâm sự với bà. Cho đến khi, có người ở sư đoàn đến chúc tết, bà mới biết chồng mình từng là chính ủy.
Trong hồi ký hay những bài báo ông viết về Điện Biên Phủ, ông chỉ kể lại cuộc chiến cam go cùng đồng đội, mà ông khiêm nhường, cũng chỉ là một trong số rất nhiều người tham dự.
Nhưng tôi biết, trong trận chiến này, ông đóng một vai trò lịch sử quan trọng. Trung tướng Lê Quang Đạo cũng có mặt trong Đại đoàn 308 hành quân sang Lào để đánh lạc hướng địch. Đi theo Đại đoàn 308 có một số văn nghệ sĩ như nhà thơ Nguyễn Đình Thi, họa sĩ Nguyễn Sáng, nhà báo Phú Bằng… Trong hồi ký của mình, Trung tướng Lê Quang Đạo đã viết: “Chúng tôi chỉ có một buổi chiều và buổi tối để chuẩn bị mọi mặt, sáng sớm hôm sau cả đại đoàn lên đường, mỗi người chỉ mang theo vài cân gạo cùng với súng đạn. Tôi và đồng chí Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ, Tham mưu trưởng Vũ Yên cùng anh em trong đại đoàn bộ vừa rời khỏi nơi đóng quân thì bị pháo địch ở Mường Thanh bắn ra, tập kích trúng vào khu vục gần sở chỉ huy... Chúng tôi vượt qua đồi núi, đi dọc bờ Nậm Hu, nước sông xanh biếc, cảnh hai bên bờ sống rất đẹp… Năm ấy chúng tôi đã ăn cái “Tết bộ đội” rất đơn sơ bên bờ sông Nậm Hu”. Sau đó, Đại đoàn 308 được điều động trở lại trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chủ tịch Quốc hội - Trung tướng Lê Quang Đạo và phu nhân - nhà văn Nguyệt Tú.
Đó là những tháng ngày gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt. Ông ăn ở cùng họ dưới hầm, “ba cùng” với đồng chí, đồng đội: “Tôi chỉ muốn nói, sự tích kỳ diệu nhất ở Điện Biên Phủ là cách đánh đào hào, bao vây, đánh lấn. Chỉ bằng xẻng, cuốc, cán bộ chiến sĩ ta rất tích cực, kiên trì đào suốt ngày đêm, các hầm hào chiến đấu, các đường giao thông hào…Hàng trăm km đường hầm giống như các sợi dây thòng lọng rất dài, thắt dần siết cổ địch”. Đại đoàn 308, đội quân chủ lực, dưới sự chỉ huy của Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ, Tham mưu trưởng Vũ Yên, Chính ủy Lê Quang Đạo đã quyết liệt triển khai kế hoạch “đánh chắc, tiến chắc”, đào hào, bao vây đánh lấn từng cứ điểm địch. Trong bức thư gửi cho bà Nguyệt Tú khi ông ở chiến trường Điện Biên, ông hào hứng kể: “Chuyến này anh đi chiến dịch làm nhiều nghề lắm: Chính ủy hậu cần, sếp ga điều khiển xe chạy, làm bộ đội, làm dân vận. Hiểu thêm bộ đội, học thêm kinh nghiệm, rất thích. Có khi đi công tác, cách địch độ bốn cây số trong tầm pháo của nó. Nó bắn vượt qua đầu y như quang cảnh thủ đô mới kháng chiến. Có lúc hành quân hàng trăm cây số, theo bộ đội truy kích. Có đi mới thấy rõ thêm sự vất vả, tinh thần chịu đựng của bộ đội thật là cao”.
Nhưng có lẽ, đối với một vị tướng, sự vĩ đại của họ đôi khi không chỉ là những chiến công, những giây phút căng mình trên trận tuyến, mà còn là những góc đời thường giản dị. Tôi cảm nhận được sự tự tại, an nhiên của ông trong những câu chuyện bà kể, và trong cả những ghi chép của ông trong hồi ký. Ngay cả trong những lá thư ông viết cho vợ khi đi đánh giặc cũng vậy. Trong thời điểm chồng đi chiến dịch Điện Biên Phủ, bà Nguyệt Tú cũng phải gửi lại hai con-một cháu hai tuổi rưỡi, một cháu chưa đầy năm lại cho Cơ quan Tổng cục Chính trị để đi tham gia cải cách ruộng đất ở huyện Phú Bình, Thái Nguyên theo điều động của trung ương hội Phụ nữ. Có lần ông ghé về nhà thăm các con nhưng bà Nguyệt Tú đang đi công tác. Trong trận chiến cam go và ác liệt, đối với ông Lê Quang Đạo, gia đình vẫn là một hậu phương bình yên. Tôi lặng người khi đọc bức thư ông gửi cho bà trong những năm tháng xa cách ấy. Bức thư giản dị, ấm áp. Một góc rất đỗi đời thường của một con người.
Ông viết: “Ngày 28/6/1954. Anh về nhà, thoạt đầu các con không nhận ra bố. Chúng nó khác trước nhiều. Thắng Lợi nói đủ thứ, hát nhảy cả ngày. Hôm nào cũng cùng lũ trẻ bắt chước các cô chú văn công, nhảy múa ầm ầm ở hội trường. Tây Bắc ta làm theo, cũng chạy, nằm bắn nhưng thỉnh thoảng lại ngã như đập đất. Tây Bắc đã biết gọi ba, tức là “Bắp à” và chỉ lên bàn đòi ăn thứ này, thứ khác. Tây Bắc ít theo anh, nhưng Thắng Lợi tối nào cũng quấn lấy bố. Bố đi công tác thì một mực không cho đi... Khi anh giải thích đi đánh Tây, mang kẹo dâu tây về cho thì vui vẻ bằng lòng ngay… Chúng mình xa nhau đã chín, mười tháng rồi. Nhiều lúc nhớ Tuệ (tên gọi ở nhà của nhà văn Nguyệt Tú) lắm. Có dịp được gặp nhau thì tốt nhỉ. Anh đi qua Phú Bình nhưng không biết Tuệ ở chỗ nào mà tìm. Tuệ họp hội nghị tổng kết ở đâu, có gần thị xã không?”…
Bà nói, cuộc đời ông tham gia nhiều trận đánh cam go, nhưng có lẽ Điện Biên Phủ là một dấu ấn lớn trong cuộc đời trận mạc của ông. Bà vẫn còn nhớ, lần kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ông đã cùng bà đi ôtô dọc con đường năm xưa ấy, để ông được thăm lại những con đường, những nơi dấu chân ông từng hành quân qua, từng sống chết với các chiến sĩ. Ông từ chối đi máy bay theo chế độ. Đó cũng là cách, ông muốn tìm về với đồng đội mình năm xưa…