Mở lại hồ sơ vụ bắt cóc con trai phi công Lindbergh (bài cuối)

Trước lúc Condon đem tiền đến nghĩa trang Woodlawn nộp cho bọn bắt cóc, phi công Lindbergh đã đề nghị báo cảnh sát để họ bố trí bắt gọn. Tuy nhiên Condon nêu ra giả thuyết: “Thí dụ khi tên John đi lấy tiền, hắn đã quy ước với đồng bọn rằng nếu sau 3 hoặc 4 tiếng mà không thấy hắn về, những kẻ ở nhà hãy giết Augustus ngay lập tức thì sao?”.

Giả thuyết ấy đã khiến Lindbergh đồng ý nộp tiền trong im lặng nhưng sau khi Augustus bị sát hại, nhiều nghi ngờ tập trung vào Condon…

Bài cuối: Còn nhiều nghi vấn

Những manh mối ban đầu

Khi thi thể Augustus, con trai phi công Lindbergh được tài xế xe tải William Allen tìm thấy, FBI bắt đầu nghi ngờ việc bắt cóc bé Augustus là do những người thân cận với gia đình Lindbergh thực hiện, và họ chĩa mũi dùi vào Violet Sharp, một hầu gái trong nhà bà Anne Morrow, vợ Lindbergh. Triệu tập Violet để lấy lời khai, cô trả lời rất mâu thuẫn về nơi ở của cô vào cái đêm Augustus biến mất.

Đến lần thứ 4 sau khi bị thẩm vấn, ngày 10-6-1932, Violet tự sát bằng cách uống một liều chất độc potassium cyanide. Lúc những chứng cứ ngoại phạm của cô được xác nhận, và nguyên nhân tự sát của cô là do quá căng thẳng cùng nỗi sợ hãi bị đuổi việc thì các điều tra viên mới biết là họ nhầm nhưng việc bồi thường cho thân nhân của Violet chưa bao giờ được thực hiện...

Song song với việc thẩm vấn Violet, FBI cũng nghi ngờ thầy giáo John Condon và cũng thẩm vấn ông này, còn dư luận thì gọi ông là “kẻ tình nghi số 1”. Và mặc dù có sự xác nhận của phi công Lindbergh, rằng mọi hành xử trong việc nhận thư của bọn bắt cóc, đăng báo trả lời, gặp gã đàn ông tên John trong nghĩa trang, nộp tiền chuộc…, đều do Lindbergh quyết định nhưng suốt mấy tháng, Condon vẫn liên tục bị truy vấn về “nhân vật John”, đến nỗi Condon phải tuyên bố rằng cho tới lúc chết, ông quyết tìm ra “John”.

Bà Anne Morrow và con trai Augustus.
Bà Anne Morrow và con trai Augustus.

Khi vụ án bắt đầu giậm chân tại chỗ, các điều tra viên chuyển hướng sang những tờ trái phiếu vàng và những ngân phiếu nằm trong số tiền chuộc. Một cuốn sách nhỏ ghi số series của những tờ trái phiếu và ngân phiếu ấy được in thành 250.000 bản, phát cho nhân viên các ngân hàng, các cửa hàng kinh doanh tiền tệ, các trạm bưu điện, cây xăng ở New York và một số thành phố lân cận nhằm lưu ý họ, nếu ai đó đến đổi trái phiếu, ngân phiếu có số series trùng với series in trong cuốn sách thì họ phải gọi cho cảnh sát ngay.

Cuối năm 1932, một số manh mối được ghi nhận. Tại 2 thành phố Chicago và Minneapolis,  xuất hiện vài tờ ngân phiếu có số series trùng khớp với số series nằm trong khoản tiền chuộc nhưng người đổi nó thì không biết là ai bởi lẽ nhân viên giao dịch lúc ấy không đọc cuốn sách thông báo của FBI.          

Giữa năm 1933, lại thêm nhiều ngân phiếu được phát hiện tại một số cửa hàng kinh doanh tiền tệ nằm dọc theo tuyến đường tàu điện ngầm Lexington Avenue, nối phía đông khu Bronx với phía đông Manhattan, trong đó có các dãy phố của di dân người Đức, Áo, nhưng cũng chẳng rõ ai là người đổi.

Lộ diện thủ phạm

Ngày 18-9-1934, một nhân viên ngân hàng ở Manhattan nhận được tập hồ sơ xin cấp giấy phép lái xe, và thay vì nộp bằng tiền mặt thì trong đó có 1 trái phiếu vàng mệnh giá 20USD và một biển số xe đăng ký ở New York. Nghi ngờ trái phiếu này là giả nên bộ phận cấp bằng lái chuyển cho ngân hàng nhờ thẩm định.

Hauptmann, người bị kết tội gây ra vụ án.
Hauptmann, người bị kết tội gây ra vụ án.

Biển số chiếc xe ấy thuộc sở hữu của một di dân gốc Đức, tên là Richard Hauptmann, cư trú tại số 1279, đường Đông 222, khu Bronx, làm nghề thợ mộc. Lập tức, ngày 19-9, FBI bắt Hauptmann. Khám trong người ông ta, các điều tra viên thu được thêm 1 trái phiếu vàng cũng với mệnh giá 20 USD. Số series của 2 trái phiếu ấy trùng khớp với số series nằm trong khoản tiền chuộc mà FBI đã thông báo.

Tiến hành thẩm vấn Hauptmann. Ông ta khai rằng trái phiếu và tiền là của Isidor Fisch, một đối tác làm ăn với ông ta. Tuy nhiên, Fisch đã chết vì bệnh lao ngày 29-3-1934, sau khi từ Mỹ trở về Đức.

Khám nhà Hauptman, các điều tra viên thu được hơn 14.000 USD tiền mặt giấu trong gara cùng nhiều chứng cứ khác, chẳng hạn như số điện thoại của thầy giáo Condon và địa chỉ nhà ông, được viết bằng bút chì trên tường, 1 cuốn sổ tay có bản vẽ phác thảo 1 chiếc thang, tương tự như chiếc thang được tìm thấy tại nhà phi công Lindbergh mà kẻ bắt cóc đã dùng để leo lên phòng Augustus. Quan trọng hơn cả là 1 thanh gỗ mà sau khi kiểm tra, nó trùng khớp với phần bị gãy của chiếc thang này; một đôi găng tay, 2 cái túi lớn bằng vải có dính đất - dường như đã được bọc vào giày để xóa dấu vết.

Và mặc dù Hauptmann liên tục phủ nhận những cáo buộc đối với ông ta, rằng căn nhà ông ta cư trú là nhà của Isidor Fisch thuê mướn, và khi ông ta dọn về thì tất cả những thứ cảnh sát tìm thấy đã có ở đó rồi.

Hauptmann nói: “Khi vụ bắt cóc xảy ra, tôi đọc thông tin trên nhiều tờ báo. Tôi quan tâm đến nó nên tôi ghi lại địa chỉ của ông Condon” nhưng Hauptmann lại không lý giải được vì sao ông ta có số điện thoại của Condon vì tờ Tin tức phố Bronx không công bố số máy này. Về bản phác thảo chiếc thang trong cuốn sổ tay, Hauptmann giải thích: “Có thể một đứa trẻ của nhà Isidor Fisch đã vẽ nó. Khi ông Fisch về Đức, họ vứt nó lại”.

Ngày 24-9-1934, tòa án khu Bronx ra quyết định truy tố ông ta. Hai tuần sau - ngày 8-10, tòa án bang New Jersey yêu cầu dẫn giải Hauptmann đến nhà tù hạt Hunterdon, quận Flemington, bang New Jersey rồi công bố tiếp lệnh truy tố Hauptmann với cáo buộc “giết người”. Điều này có nghĩa là Hauptmann sẽ bị tử hình.

Bằng chứng chống lại Hauptmann bao gồm 14.000 USD tìm thấy trong gara nhà ông ta, có số series trùng khớp với số series mà thầy giáo Condon và phi công Lindbergh đã ghi lại trước khi Condon đem hộp tiền vào nghĩa trang nộp cho kẻ bắt cóc. Với những bức thư đòi tiền chuộc, 8 chuyên gia về chữ viết tay được mời giám định và cả 8 người đều kết luận: “Do cùng 1 kẻ viết ra”.

Kết quả kiểm tra của Phòng thí nghiệm sản phẩm Lâm nghiệp đã chứng minh thanh gỗ tìm thấy ở nhà  Hauptmann là cùng một loại gỗ với chiếc thang đã được kẻ bắt cóc dùng để trèo lên phòng Augustus, vết gãy trên thanh gỗ và trên thang cũng trùng khớp.

Mạng đổi mạng?

Phiên tòa xét xử Hauptmann được tổ chức tại tòa án hạt Hunterdon, quận Flemington, bang New Jersey với sự tham dự của gần 600 phóng viên trong, ngoài nước. Chủ tọa phiên tòa là Thẩm phán Liên bang Thomas Whitaker Trenchard, công tố viên là David T. Wilentz, Tổng chưởng lý bang New Jersey.

Lindbergh (ngồi trên cao, trước những tấm bìa trắng) dự buổi thẩm vấn Hauptmann.
Lindbergh (ngồi trên cao, trước những tấm bìa trắng) dự buổi thẩm vấn Hauptmann.

Trong phần thẩm vấn công khai trước tòa, khi công tố viên hỏi vì sao với nguồn thu nhập ít ỏi bằng nghề thợ mộc và môi giới bất động sản, nhất là trong giai đoạn đại suy thoái mà Hauptmann vẫn mua một chiếc máy hát 400 USD (một số tiền lớn vào thời ấy vì một chiếc xe hơi hiệu Ford, model T chỉ bán với giá 1.050 USD), đồng thời còn đưa vợ về Đức thăm gia đình thì Hauptmann vẫn nhất mực cho rằng số trái phiếu, ngân phiếu và tiền mặt là của Isidor Fisch, bạn ông ta. Khi biết tin Fisch chết tại Đức, ông ta đã lấy nó ra tiêu xài cho cá nhân mình.

Hauptmann khai: “Lần đó, khi tìm con dao chặt xương, tôi thấy chiếc hộp đựng giày của Isidor Fisch cất ở ngăn trên tủ bếp. Mở ra, bên trong có 20.000 USD tiền mặt và một số ngân phiếu, trái phiếu…”. Chưa hết, Hauptmann còn khai rằng Fisch vẫn nợ ông ta 7.500 USD tiền làm ăn nhưng vì Fisch đã chết nên lời khai của Hauptmann không thể kiểm chứng được.

Tuy nhiên, một số nhân chứng lại có những lời khai khác. Anna Schoeffler, vợ của Hauptmann thề trước tòa rằng bà thường xuyên treo cái tạp dề trên móc tủ bếp nhưng chưa bao giờ bà nhìn thấy chiếc hộp đựng giày. Người cho Fisch thuê nhà khẳng định ông này rất nghèo, chỉ đủ tiền trả cho căn phòng giá bèo 3,50 USD mỗi tuần, bị bệnh ho lao mà không có tiền chữa….

Phản bác lại lời buộc tội, Reilly - luật sư của Hauptmann cho rằng bằng chứng chống lại Hauptmann hoàn toàn không thuyết phục vì không hề tìm thấy bất cứ một dấu vết nào của Hauptmann ở nhà phi công Lindbergh cũng như trong khu vườn. Tuy nhiên sau 3 ngày xét xử, Hauptmann bị kết án tử hình. Và mặc dù luật sư của Hauptmann đã kháng cáo nhưng tại phiên tòa thượng thẩm diễn ra vào ngày 29-6-1935, tòa vẫn tuyên y án.

Ngày 26-10-1935, tờ báo Hearst cử phóng viên vào nhà tù gặp Hauptmann,  thuyết phục ông ta nhận tội để án tử hình được chuyển thành tù chung thân theo luật Mỹ. Tuy nhiên vẫn khẳng định mình vô tội. Ông ta nói: “Không thể kết tội chết một người mà lý do chỉ vì người đó có tiền tiêu xài. Tôi đã trả lời hàng trăm lần với các điều tra viên và các quan tòa rằng trái phiếu, ngân phiếu và tiền mặt là của Fisch. Nếu có tội, tôi chỉ có tội là đã xài tiền của ông ấy một cách bất hợp pháp mà thôi”.

Vào ngày 3-4-1936, Hauptmann lên ghế điện. Sau cái chết của ông ta, một số phóng viên và các nhà điều tra độc lập đã nêu nhiều câu hỏi liên quan đến chứng cứ buộc tội. Theo Lloyd Gardner, chuyên gia về dấu vân tay, khi vụ án xảy ra, Tiến sĩ Erastus Mead Hudson của Cục Điều tra Liên bang đã áp dụng quy trình lấy dấu vân tay bằng nitrate bạc ở từng bậc thang nhưng không tìm thấy dấu vân tay của Hauptmann mặc dù khi chế tạo chiếc thang ấy, dù muốn dù không Hauptmann vẫn phải chạm tay vào nhưng cảnh sát từ chối xem xét bằng chứng này.

Bên cạnh đó, bà Anna Schoeffler, vợ Hauptmann cũng đâm đơn kiện bang New Jersey vì đã đối xử không công bằng với chồng bà, và những lời tuyên thệ của bà trước tòa là bị gài bẫy. Vụ kiện kéo dài đến năm 1994, lúc bà Anna chết khi đã 95 tuổi mà vẫn chưa ngã ngũ.

Năm 2009, một cuốn sách của luật sư Gregory Ahlgren lại làm dấy lên nhiều tranh cãi. Theo luật sư Gregory Ahlgren, vào đêm xảy ra vụ án, khi bế con trai ra cửa sổ chơi, phi công Lindbergh sơ ý làm rơi đứa bé xuống đất.

Trước đó, ông đã thuê Fisch dọn vườn nên lợi dụng tình tiết này, ông lấy chiếc thang rồi ngụy tạo thành vụ bắt cóc vì ông sợ phải ra tòa với cáo buộc “vô ý làm chết người” sẽ hủy hoại danh tiếng của ông. Sau vài ngày giấu xác đứa bé trong hầm rượu, Lindbergh đem nó vào chôn trong rừng.

Thoạt đầu Lindbergh định đổ tội cho Fisch nhưng lúc biết ông này đã về Đức, và người thuê lại căn nhà Fisch ở là Hauptmann nên Lindbergh dàn dựng để đưa Hauptmann vào tròng…

Vũ Cao (theo FBI Files)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.